PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỜI NHÀ LÊ SƠ (TIỀN LÊ)

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 23 - 28)

BÀI 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

II. PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỜI NHÀ LÊ SƠ (TIỀN LÊ)

Pháp lut hình s thi nhà Lê sơ (1428 – 1788). Tháng 6 năm 1407, nhà Minh đánh bại Hồ Quý Ly và chia nước ta thành 17 phủ, năm châu. Đồng thời, nhà Minh cũng thi hành chính sách khủng bố tàn bạo hòng đè bẹp ý chí đấu tranh của nhân dân ta, như: “chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy làm mỡ, hoặc dùng nhục hình bào lạc để mua vui”21... Chúng còn huỷ đi hoặc mang về Trung Quốc nhiều sách, hiện vật quý của dân tộc ta, trong đó có Bộ hình thư của nhà Lý và nhà Trần.

Sau các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của những người trong tôn thất nhà Trần lãnh đạo bị thất bại, Lê Lợi dưới sự trợ giúp của Nguyễn Trãi đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi năm 1428. Nhà Lê trị vì được hơn ba thế kỷ rưỡi (360 năm), kể từ khi Bình Định Vương Lê Lợi đánh thắng quân xâm lược Minh, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lê Thái Tổ (1428) đến khi vua Lê Mẫn Đế (Lê Chiêu Thống) bỏ ngai vàng chạy sang Trung Quốc, cầu viện quân Thanh (1788) nhằm chống lại vua Quang Trung (Tây Sơn). Tuy qua một thời gian dài như thế nhưng hầu như các luật lệ quan trọng của triều Lê chủ yếu được ban hành vào thời cực thịnh của triều Lê (khoảng 70 năm đầu từ 1428 – 1497). Những giai đoạn khác tuy cũng có một số quy định được ban hành nhưng do đặc điểm lịch sử nên các

20 Đại Việt sử ký tòan thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1998, tập II, tr.202.

21 Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà nội 1977, quyển 1, tập II, tr.233.

20

quy định đó hầu như chỉ liên quan đến thủ tục tố tụng mà thôi. Giống như vua Lê Hiến Tông (1498 – 1504) sau khi lên ngôi đã từng nói: “Vua Thái Tổ đã gây dựng nên cơ đồ, vua Thánh Tông đã sửa sang mọi việc, ta nay chỉ lo gìn giữ nếp cũ và mở mang sự nhân chính ra cho sáng rõ công đức của ông cha ngày trước”22. Cho nên, có thể nói rằng chỉ cần nhìn vào luật lệ được ban hành vào cuối thế kỷ thứ 15, chúng ta cũng có thể đánh giá một cách cơ bản tình hình pháp luật dưới triều Lê. Thật may mắn, những quy định được ban hành trong thời kỳ này ngày nay còn lưu giữ tương đối đầy đủ nên công việc nghiên cứu tình hình pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng thời kỳ này cũng có nhiều thuận lợi.

Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ hạ lệnh: “Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn”23. Vì thế, Vua lê rất coi trọng việc xây dựng pháp luật. Năm 1429, Vua ra lệnh: “Kẻ nào du thử du thực, đánh cờ đánh bạc thì quan ty và quân dân bắt nộp để trị tội. Đánh bạc thì chặt năm ngón tay, đánh cờ thì chặt một phân ngón tay, những kẻ không phải là việc quan mà vô cớ tụ họp uống rượu thì xử phạt 100 trượng, người chứa chấp bị tội kém một bậc”.24

Thời Vua Lê Thái Tông, xây dựng pháp luật được tiến hành thêm với một số quy tắc nhằm xét xử các vụ kiện cáo và một số quy định cấm nạn hối lộ. Đến khi Lê Thánh Tông lên ngôi, hoạt động xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng được xem là thành công nhất cho đến thời điểm đó với sự ra đời của Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) vào năm 1483 và Hồng Đức thiện chính thư (văn bản có chứa một số quy phạm pháp luật hình sự). So với Bộ luật nhà Đường, Bộ luật Hồng Đức chứa đựng nhiều điều hơn và một số nội dung mà Bộ luật nhà Đường không có.

Ngoài các quy định liên quan đến cấm tà ma tả đạo, việc chuộc vợ con những quan quân đã làm quan cho giặc, cấm cờ bạc, rượu chè, luật lệ về công điền, Lê Thái Tổ sau khi lên ngôi đã định ra luật lệ mới về hình phạt. Hình phạt mới do Lê Thái Tổ định ra dựa theo bộ luật nhà Đường với hệ thống ngũ hình: xuy, trượng đồ, lưu, tử25. Về sau, khi ban hành bộ Quốc triều Hình luật, vua Lê Thánh Tông vẫn cho giữ nguyên hệ thống ngũ hình. Đối với tử hình chia làm ba bậc tương ứng với từng loại tội: tội thắt cổ và tội chém; tội chém bêu đầu;

và tội lăng trì (tương tự pháp luật Trung Hoa, việc định tội trong Quốc triều Hình luật trước hết dựa theo hình phạt). Tuy luật chỉ đưa ra ba hình thức trên, nhưng thực tế lại phát sinh một trường hợp phạm tội bị xử tử bằng thuốc độc. Đó là trường hợp của Trần Cảo. Sử chép:

“Bấy giờ các quan đều dâng sớ nói Trần Cảo không có công gì với dân, sao lại ở trên mọi người, nên sớm trừ đi. Vua [Thái Tổ] cũng biết là như vậy, nhưng trong lòng không nỡ, đối xử càng hậu. Cảo biết người trong nước không phục mình, bèn ngầm đi thuyền vượt biển, trốn vào châu Ngọc Ma. Đến Ma Càng (đất Nghệ An), quan quân đuổi bắt được, đem về Đông Quan, bắt uống thuốc độc chết”.26

Bên cạnh đó, sử cũng có ghi những vấn đề liên quan đến trường hợp bát nghị được xem xét dưới triều vua Lê Thái Tổ. Hễ ai thuộc bát nghị mà phạm tội thì trước tiên phải tâu xin nghị án, khi nào nghị xong lại phải tâu để vua xét lại. Những ai phạm từ tội lưu trở

22 Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược, Trung Tâm học liệu Bộ giáo dục, tr.250.

23Đại Việt sử ký tòan thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1998, tập II, tr.291.

24Đại Việt sử ký tòan thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1998, tập II, tr.298.

25 Trần Trọng Kim, tr.235-236.

26 Đại Việt sử ký toàn thư, tr.360.

21

xuống đều có thể được miễn giảm hình phạt. Vì thế, những ai phạm tội tử hình thì không được hưởng quy định về bát nghị.

Một số đời vua khác trong giai đoạn này tuy cũng có ban hành một số luật lệ, nhưng phải đợi đến vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), pháp luật triều Lê mới thực sự thăng hoa.

Trước tiên chúng ta hãy nói đến bộ Quốc triều Hình luật được ban hành vào năm 1483. Sách thứ hai là quyển Hồng Đức thiện chính thư cũng được biên soạn vào niên hiệu Hồng Đức nhưng không rõ năm nào. Đây là hai văn bản chứa đựng những quy phạm pháp luật hình sự chủ yếu của thời nhà Lê.

Do ảnh hưởng của nhân trị chủ nghĩa, một đặc điểm chung của các hệ thống pháp luật cổ phương Đông, pháp luật triều Lê đã làm mất đi ranh giới giữa đạo đức và pháp luật. Hậu quả của thực tế này là việc quy định tội phạm đối với cả các hành vi mà ngày nay chỉ đáng lên án về mặt đạo đức, nhưng lúc đó là nhóm “Thập ác tội” và bị xử tử. Chẳng hạn như: “Tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc như thường; nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà giấu, không cử ai (tổ chức tang lễ); nói dối là ông bà, cha mẹ chết” bị khép vào tội “Bất hiếu”. “Giết hay đem bán những người trong họ từ hàng phải để tang 3 tháng trở lên, đánh đập và tố cáo chồng, cùng những họ hàng từ tiểu công (họ hàng phải để tang 5 tháng) trở lên” bị khép tội “Bất mục”. “Gian dâm với người trong họ từ hàng tiểu công trở lên, cùng nàng hầu của ông cha” bị xem là phạm tội “Nội loạn”27. Mùa thu năm 1470, vua Lê Thánh Tông cũng có ra một sắc chỉ rằng: “Con để tang cha mẹ, vợ để tang chồng phải theo quy chế chung là 3 năm, không được theo ý riêng tự tiện làm trái lễ, phạm pháp…Vợ để tang chồng mà dâm loạn bừa bãi, hoặc chưa hết tang đã bỏ áo trở, mặc áo thường, hoặc nhận lễ hỏi của người khác, hay đi lấy chồng khác đều phải tội chết cả”.28

Về phương diện khác, pháp luật triều Lê còn chịu ảnh hưởng của pháp trị chủ nghĩa.

Để các luật lệ được đảm bảo tuân thủ, pháp luật triều Lê cũng đặt ra những hình phạt rất nặng. Trong số 673 điều luật quy định về tội phạm của bộ Quốc triều Hình luật, 144 điều quy định các hành vi phạm tội có chế tài tử hình (chiếm khoảng 21%). Đa số các hành vi phạm tội có thể xử tử hình có liên quan đến sự an nguy của xã tắc, sự an toàn của nhà vua và hoàng tộc, sự tôn nghiêm của dòng dõi hoàng gia. Ngoài ra, một số hành vi phạm tội khác cũng có thể bị tử hình như giết người, hiếp dâm, cướp tài sản, trộm tài sản nhiều lần, nhận hối lộ từ 20 quan trở lên, gian dâm với vợ kế, vợ lẽ của ông bà, cha mẹ, của chủ…hoặc trong cung cấm, che giấu người thân của kẻ phản nghịch…v.v…

Pháp luật triều Lê cũng ghi nhận chế định trách nhiệm hình sự đối với tập thể. Do đó, đối với những phạm tội như mưu phản, mưu đại nghịch, mưu chống đối, là những hành vi có thể gây nguy hại đến sự an nguy của xã tắc hoặc sự an toàn, sự tôn nghiêm của nhà vua và hoàng tộc thì cả họ phải chịu chung trách nhiệm hình sự, những kẻ thực hành bị xử tử. Điều 307 Hồng Đức thiện chính thư quy định: “Ngầm ráp mưu gian, ăn cướp châu báu, định khép tội chết, cha mẹ, vợ con và điền sản tịch thu sung công, chiếu luật mà thi hành”29. Điều 411 Quốc triều Hình luật cũng quy định: “Những kẻ mưu làm phản, mưu làm việc đại

27 Quốc triều Hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.37.

28 Đại Việt sử ký toàn thư, tr.463.

29 Hồng Đức Thiện Chính Thư, Nam Hà ấn quán, Sài Gòn, 1959, tr.139.

22

nghịch thì xử tội chém bêu đầu, kẻ tòng phạm và thân đảng biết được việc ấy đều phải tội chém, vợ con điền sản đều bị tịch thu làm của công…”.

Tuy luật không quy định những kẻ giết vua phải bị “tộc tru” (giết cả họ), nhưng trên thực tế, theo sử liệu, thực tế này có diễn ra. Vụ án oan của Nguyễn Trãi đã xác nhận điều đó.

Sử chép vào năm 1442: Trước đây, vua [Lê Thái Tông] thích vợ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, xa giá về tới vườn vải, xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị khép tội giết vua nên ngày 16 tháng 8 năm ấy, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cùng bị giết cả. Ngoài ra, ba họ cũng bị bắt tội chết theo.30

Về việc áp dụng hình phạt tử hình đối với nhóm tội tử, dù là đối với nhóm “bát nghị”

cũng không được giảm. Tuy nhiên, Quốc triều Hình luật yêu cầu, trước khi quyết định tử hình, các quan nghị án phải khai rõ tội trạng và hình phạt nên xử thế nào, làm thành bản tâu, dâng lên vua để vua xét định (cơ quan nghị án chỉ xét tình nghị tội mà không được quyết định) (Điều 4 Quốc triều Hình luật). Những trường hợp người phạm tội có độ tuổi từ 80 trở lên hoặc 10 tuổi trở xuống, cùng những người bị ác tật mà phạm tội tội tử cũng được hưởng quy định này. Nếu người từ 90 tuổi trở lên hoặc 7 tuổi trở xuống mà phạm tội tử thì không được hành hình (Điều 16 Quốc triều Hình luật). Ngoài ra, đối với những người phụ nữ mà phạm tội tử hình, nếu đang có mang thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình (Điều 680 Quốc triều Hình luật). Theo Điều 19 chương Đoán Ngục, “Những ngày đầu mùa xuân, ngày quốc kỵ, ngày trai giới làm lễ lớn mà [hình quan] tâu lên xin thi hành án tử hình thì biếm một tư”. Quy định này cho thấy, hình quan muốn thi hành án tử hình phải xin ý kiến của vua. Khi vua chấp nhận thì án tử hình mới được đem thi hành. Mặt khác, không được thi hành án tử hình vào các ngày đầu mùa xuân, ngày quốc kỵ, ngày trai giới làm lễ lớn.

Có thể rút ra một số kết luận về đặc điểm của pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ này như sau:

- Về tội phạm:

+ Pháp luật hình sự triều Lê không ghi nhận khái niệm tội phạm mà chỉ quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu hình phạt. Ngoài ra, có một số hành vi mà pháp luật ngày nay cho là vi phạm pháp luật hành chính, dân sự...hay thậm chí là vi phạm đạo đức cũng bị xem là tội phạm.

+ Pháp luật hình sự thời kỳ này có đề cập đến hai hình thức lỗi là cố ý và vô ý.31 + Ngoài quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp luật hình sự thời kỳ này còn truy cứu trách nhiệm hình sự cả đối với tập thể nếu phạm những tội thuộc nhóm Thập ác tội.

+ Pháp luật hình sự thời Lê có quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự một số hành vi (mưu phản, mưu đại nghịch, mưu chống đối) ở giai đoạn chuẩn bị.32

30 Đại Việt sử ký toàn thư, tr.405.

31Quốc triều Hình luật, Điều 479.

32Quốc triều Hình luật, Điều 411, 412.

23

+ Vấn đề đồng phạm được Bộ luật Hồng Đức đề cập tại các Điều 35, 36, 411, 412, 454, 469, 539. Tuy nhiên, Bộ luật không quy định khái niệm đồng phạm mà chỉ nêu lên nguyên tắc trừng trị tội phạm.

+ Pháp luật hình sự thời kỳ này cho phép người thân trong gia đình che chở lẫn nhau, cấm tố cáo nếu người thân có phạm tội (Điều 504).

+ Những tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi cũng được Bộ luật Hồng Đức đề cập tại các Điều 303, 410, 634, 646.

- Về hình phạt: bao gồm 5 hình phạt chính (ngũ hình)

+ Xuy hình (đánh roi): có 5 bậc là 10 roi, 20 roi, 30 roi, 40 roi, 50 roi. Ngoài ra, có thể kèm với hình phạt này là hình phạt bổ sung tiền hay biếm chức.

+ Trượng hình (đánh trượng): có 5 bậc là 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng. Hình phạt này chỉ áp dụng đối với đàn ông và có thể kèm theo hình phạt bổ sung đồ hình, lưu hình hoặc biếm chức.

+ Đồ hình (bắt làm việc nặng): có 3 bậc là 1) làm gia đinh (làm việc nhà), dịch đinh (việc lính), xã đinh (việc làng xã), khao đinh (việc nấu ăn) (đàn ông), làm viên phụ (làm vườn), thứ phụ (làm việc vặt), tang thất phụ (chăn nuôi tằm) (đàn bà); 2) làm tượng phường binh (quét chuồng voi) (đàn ông), xuy thất tỳ (làm bếp) (đàn bà); 3) làm chủng điền binh (khai thác đồn điền ở biên giới) (đàn ông), thung thất tỳ (xay lúa, giã gạo) (đàn bà).

+ Lưu hình (đi đày): có 3 bậc là 1) châu gần: người phạm tội bị đánh 90 trượng, thích vào mặt 6 chữ, đeo xiềng, đày đi làm việc ở Nghệ An, Hà Hoa (đàn ông), đánh 50 roi, thích vào mặt 6 chữ, không đeo xiềng, bắt phải làm việc (đàn bà); 2) châu ngoài: đánh 90 trượng, thích vào mặt 8 chữ, đeo xiềng 2 vòng, đày làm việc ở Quảng Bình; 3) châu xa: đánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ, đeo xiềng 3 vòng, đày đi làm việc các vùng xứ Cao Bằng.

+ Tử hình: có 3 bậc là thắt cổ chém, chém bêu đầu, lăng trì (xẻo từng miếng thịt theo tiếng trống đến chết).

Điểm khác trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hồng Đức so với pháp luật hình sự Trung Hoa là có thêm hai hình phạt bổ sung là phạt tiền và biếm chức. Khi bị biếm chức, người phạm tội có thể chuộc bằng tiền, số tiền tuỳ theo tước phẩm cao hay thấp.

- Quyết định hình phạt:

Quyết định hình phạt theo Bộ luật Hồng Đức dựa vào nhân thân người phạm tội (nhóm bát nghị được xem xét giảm tội). Tự thú, thành thật khai báo là những tình tiết giảm nhẹ trong Bộ luật Hồng Đức. Ngoài ra, những trường hợp phạm tội với lỗi vô ý hoặc phạm tội ở tuổi già hoặc tuổi trẻ cũng được xem xét khi quyết định hình phạt (xem Điều 14, 16 Bộ luật Hồng Đức). Trong trường hợp đồng phạm quyết định hình phạt nặng đối với người cầm đầu, tổ chức (Điều 35).

- Pháp luật hình sự thời kỳ này bảo vệ trước hết quyền thống trị của Nhà nước phong kiến. Vì thế, những ai phạm tội thuộc nhóm Thập ác tội sẽ không được ân giảm dù người đó thuộc nhóm bát nghị. Đặc biệt, Bộ luật Hồng Đức còn dành riêng chương Vệ cấm với chế tài hết sức nghiêm khắc để bảo vệ hoàng thành, cung điện, long thể nhà vua (Điều 50, 52, 55).

Những quy định về bảo vệ ruộng đất công cũng được Bộ luật quan tâm (Điều 342).

24

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 23 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)