PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 37 - 40)

BÀI 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

V. PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954

1. Pháp luật hình sự thời kỳ sau cách mạng tháng Tám năm 1945

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ mới được thành lập phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Trước tình hình đó, nhân dân ta phải đối mặt với ba nhiệm vụ lớn là tiêu diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm. Ngày 5/9/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 6-SL trong đó: “Cấm nhân dân Việt Nam không được đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đường, liên lạc, làm tay sai cho Pháp; kẻ nào trái lệnh sẽ bị đưa ra Toà án quân sự nghiêm trị”. Ngoài ra, các Sắc lệnh số 7-SL (5/9/1945) về việc cấm đầu cơ, tích trữ thóc gạo, Sắc lệnh số 45-SL (9/10/1945) về việc cấm xuất khẩu thóc, gạo, đỗ, các chế phẩm từ ngũ cốc cũng được ban hành. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xét xử những hành vi phản động này, ngày 14/2/1946, Hồ Chủ Tịch đã ký Sắc lệnh số 21-SL quy định sẽ đem ra xét xử:

“Tất cả những người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8, có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.

Đối với những hành vi có thể gây phương hại đến nền độc lập của nước nhà, ảnh hưởng đến sự quản lý của Nhà nước, trật tự trị an, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng đều có thể bị xét tử hình. Chẳng hạn như: các hành vi trộm cắp, phá huỷ, oa trữ dây điện thoại, điện tín (Sắc lệnh số 6-SL (15/1/1946)); hành vi phá huỷ một phần hay toàn thể các cầu cống, kênh hay sông đào, vận hà, nông giang thuộc công ích, đường xe lửa và các kiến trúc thuộc về xe lửa, cùng các đường giao thông công hay tư, đường bộ hay đường thuỷ, đê đập, các công sở hay kho tàng hoặc các nhà máy điện, máy nước, trộm cắp các dây thép, cột điện, đặt ở những nơi nói trên những cơ giới, khí cụ có thể dùng để giết người, đốt phá hay tác liệt (Sắc lệnh số 26-SL (25/2/1946)); hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát hoặc những người tòng phạm, oa trữ những tang vật của các tội phạm nói trên (Sắc lệnh số 27-SL (28/2/1946));

hành vi trộm cắp các đồ quân giới, quân trang, quân dụng – các vật dụng nhà binh (Sắc lệnh số 12-SL (12/3/1948)); những hành vi đào đất, trồng cây, cắm cọc, làm nhà, cho súc vật dẫm phá gần đê, đập, kênh và cầu cống phụ thuộc, trong một địa phận bảo vệ, do Bộ Giao thông công chính ấn định; hoặc làm hư hỏng, bằng một cách nào khác, các công trình thuỷ nông mà gây thiệt hại cho nhân dân nhiều tỉnh (Sắc lệnh số 68-SL (18/6/1949)). Đối với những hành vi làm suy yếu tinh thần hay vật chất của lực lượng vũ trang cũng có thể bị xử tử. Sắc lệnh số 106-SL (15/6/1950) quy định: “Những người tuyên truyền bằng lời nói hay việc làm để người khác trốn nghĩa vụ quân sự hay trốn tòng quân; những người đã rủ nhau và cùng nhau trốn nghĩa vụ quân sự hay trốn tòng quân” có thể bị xử tử hình và tịch thu một phần hay toàn bộ gia sản.

34

Ngoài ra, dù phải đối phó với thù trong giặc ngoài, Nhà nước ta vẫn quan tâm đến việc bài trừ các tội phạm về tham nhũng, chẳng hạn Sắc lệnh số 223-SL (17/11/1946) quy định việc trừng trị các tội hối lộ, phù lạm hoặc biển thủ công quỹ.

Để tạo hậu phương vững chắc cho cách mạng, Nhà nước đã cho thực hiện chính sách ruộng đất. Sắc lệnh số 151-SL (12/4/1953) đã quy định nhiều hành vi vi phạm trong quá trình thực thi chính sách này, trong đó có một số hành vi phạm tội phải bị xử tử hình. Điều 6 Sắc lệnh này quy định những địa chủ nào “câu kết với đế quốc, nguỵ quyền, gián điệp, thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên; câu kết với đế quốc, nguỵ quyền, thành lập hay cầm đầu những tổ chức vũ trang để bạo động; đánh bị thương, đánh chết, ám sát, đánh chết nông dân, cán bộ và nhân viên; đốt phá nhà cửa, kho tàng, lương thực, hoa màu, công trình thuỷ lợi; xúi giục hoặc cầm đầu một số người để gây phiến loạn”…có thể bị xử tử hình, bồi thường thiệt hại cho nông dân, bị tịch thu một phần hay tất cả tài sản.

Đặc biệt, trong giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 133-SL (20/10/1953) quy định 12 hành vi phạm tội nhằm “trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc”. Đối với 12 hành vi phạm tội quy định trong Sắc lệnh số 133- SL, những kẻ phạm tội với vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy đều có thể bị xử với mức án cao nhất là tử hình. Ngoài ra, Điều 18 Sắc lệnh này còn quy định: “Kẻ nào phạm tội phản quốc khác mà chưa quy định trong Sắc lệnh này sẽ chiểu theo tội tương tự mà xét xử”. Như vậy, đây là lần thứ hai trong lịch sử lập pháp hình sự, luật hình sự Việt Nam thừa nhận việc áp dụng nguyên tắc tương tự (lần thứ nhất được thừa nhận trong Bộ luật Gia Long). Tuy nhiên, sự thừa nhận nguyên tắc tương tự lần này là mang tính khách quan vì điều kiện chiến tranh không cho phép các nhà lập pháp hình sự của ta dự liệu hết những trường hợp phạm tội vốn đang diễn ra phức tạp.

Tuy nhiên, trong tình hình cấp bách, các văn bản pháp luật (nói chung) cũng như văn bản pháp luật hình sự (nói riêng) mới ban hành không thể đủ điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng. Vì thế, ngày 10/10/1945, Nhà nước đã bàn hành Sắc lệnh số 47-SL tạm thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tác độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong đó có Luật hình An Nam, Hoàng Việt hình luật và Hình luật pháp tu chính.

Mặc dù thời gian không nhiều lại phải đối mặt với rất nhiều khó khăn nhưng Nhà nước ta trong thời kỳ này đã thể hiện một sự tiến bộ đáng kể so với Nhà nước phong kiến tồn tại lâu dài trước đó trong công tác lập pháp hình sự. Với sự cố gắng đó, pháp luật hình sự đã trở thành công cụ đắc lực của chính quyền dân chủ nhân dân trong công cuộc củng cố lực lượng, trấn áp bọn phản động chống lại chính quyền còn non trẻ, chống bọn đế quốc đang âm mưu tiêu diệt Nhà nước mới. Việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta trong thời gian này đã đáp ứng được yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta sau này.

35

2. Pháp luật hình sự thời kỳ toàn quốc kháng chiến

Kể từ ngày Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến suốt 3227 ngày đêm đầy hy sinh, gian khổ, cuối cùng đã giành thắng lợi. Chúng ta có thể rút ra một số nhận xét về pháp luật hình sự thời kỳ này như sau:

- Về tội phạm:

+ Pháp luật hình sự thời kỳ này chưa có định nghĩa về tội phạm mà chỉ quy định những tội phạm cụ thể và những biện pháp pháp lý cần thiết áp dụng đối với chúng.

+ Chế định đồng phạm được ghi nhận ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình sự về một số khía cạnh pháp lý nhất định nhưng vẫn chưa có khái niệm đồng phạm. Chế định đồng phạm được quy định ở diện rộng bao gồm cả hành vi oa trữ (hành vi chứa chấp, tiêu thụ đồ gian) không phân biệt có hứa hẹn trước hay không, chẳng hạn tại Điều 2 Sắc lệnh số 27-SL (28/2/1946). Do ảnh hưởng pháp luật Châu âu lục địa, pháp luật hình sự của ta có sử dụng khái niệm chính phạm và tòng phạm. Thuật ngữ đồng phạm xuất hiện đầu tiên trong Sắc lệnh số 223-SL (17/11/1946).

+ Việc áp dụng tương tự về luật lại được quy định trong Sắc lệnh số 133-SL (20/1/1953). Việc làm này là cần thiết và mang tính khách quan đảm bảo yêu cầu bảo vệ cách mạng, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, nhân dân, chống lại các hành vi nguy hiểm chưa được kịp thời tội phạm hoá.

- Về hình phạt: chia thành hình phạt chính và hình phạt phụ (bổ sung):

+ Hình phạt chính: 1) Phạt tiền; 2) Tù có thời hạn; 3) Tù chung thân; và 3) Tử hình.

+ Hình phạt bổ sung: 1) Tịch thu tài sản; 2) Tước quyền công dân; 3) Phạt tiền; và 4) Quản thúc.

- Pháp luật hình sự thời kỳ này trở thành công cụ sắc bén chống lại thực dân Pháp và tay sai.

+ Nhà nước quy định nghĩa vụ kháng chiến trong hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự, trừng trị nghiêm khắc những ai không thực hiện nghĩa vụ này. (xem Sắc lệnh số 200-SL (8/7/1948), Sắc lệnh số 93-SL (22/5/1950), Sắc lệnh số 106-SL (15/6/1950), Điều lệ tạm thời số 184-TTg (14/7/1952)).

+ Pháp luật hình sự có những quy định chống lại chính sách “dùng người Việt trị người Việt” bằng Sắc lệnh số 133-SL (20/1/1953) về việc trừng trị các tội phạm xâm phạm an toàn Nhà nước, đối nội và đối ngoại.

+ Chống lại chủ trương tăng cường hoạt động do thám, gián điệp của Pháp, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 146-SL (2/3/1948) về việc xử lý nghiêm những người phạm tội gián điệp, phản bội tổ quốc. Đồng thời, Nhà nước còn ban hành hàng loạt các sắc lệnh về việc giữ bí mật, như Sắc lệnh số 95-SL (13/8/1949) về bí mật kinh tế, Sắc lệnh số 128-SL (17/7/1950) về bí mật công văn, Sắc lệnh số 154-SL (17/11/1950) về bí mật thư tín, công tác của Chính phủ, Sắc lệnh số 69-SL (10/12/1951) về bí mật Nhà nước.

+ Bên cạnh chống thực dân Pháp và tay sai, Nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến trật tự an toàn xã hội trong kháng chiến. Những hành vi cướp bóc, nhũng nhiễu dân lành bị 36

xét xử nặng như các tội gián điệp, phản quốc (Thông lệnh số 60-TT (23/5/1947) của liên bộ Quốc phòng - Tư pháp). Sắc lệnh số 73-SL (17/8/1947) và Sắc lệnh số 12-SL (12/3/1949) quy định việc trừng trị rất nặng tội trộm vặt, trộm cắp tài sản nhà binh, Sắc lệnh số 168-SL (14/4/1948) quy định tội đánh bạc.

+ Phục vụ phát triển kinh tế, Nhà nước ta ban hành Sắc lệnh số 68-SL (18/6/1949) về việc cấm phá hoại các công trình thuỷ nông, Sắc lệnh số 61-SL (1/5/1950) về việc tiết kiệm thóc gạo, Sắc lệnh số 180-SL (20/12/1950) về việc phá hoại tiền tệ, phá hoại giá trị bạc Việt Nam.

+ Bảo vệ thắng lợi của cách mạng ruộng đất, xoá bỏ chế độ địa chủ chiếm hữu ruộng đất, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 80-SL (22/5/1950) về việc trừng trị những kẻ có thủ đoạn man trá hoặc đầu cơ, bóc lột để cho vay, Sắc lệnh số 151-SL (12/4/1953) về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất. Nghị định số 264-TTg (11/5/1953) về việc thi hành Sắc lệnh số 151- SL cho phép mở rộng việc trừng trị những hành động phạm pháp của bọn việt gian, địa chủ phản động, cường hào gian ác xảy ra trước khi phát động quần chúng.

Nhìn chung, số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian này tương đối lớn với nội dung phong phú mang tính thời chiến, đáp ứng yêu cầu thực tế của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt, có văn bản đã thể hiện những bước tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp hình sự khi đã chỉ ra những quan hệ xã hội cụ thể có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn vong của chính quyền nhân dân, chẳng hạn Sắc lệnh số 133-SL 920/1/1953).

Tuy nhiên, việc quy định tội phạm và hình phạt trong nhiều văn bản pháp luật hình sự đơn hành đã dẫn đến việc khó khăn trong áp dụng thống nhất pháp luật.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 37 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)