PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỜI KỲ THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 33 - 37)

BÀI 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

IV. PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỜI KỲ THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC

Sau khi cùng Anh, Mỹ buộc nhà Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân (27/6/1858), Pháp kéo quân viễn chinh từ Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam. Sau khi ký “Hiệp ước hoà bình”

(25/8/1883), triều đình nhà Nguyễn đã thừa nhận quyền thống trị hoàn toàn của Pháp trên toàn bộ đất nước Việt Nam. Ngày 6/6/1884, Pháp lại một lần nữa buộc triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt (với nội dung cơ bản giống Hiệp ước ngày 25/8/1883) trong đó quy định nước Pháp sẽ thay mặt cho triều đình nhà Nguyễn trong mọi quan hệ đối ngoại.

Với chính sách “chia để trị”, Pháp đã chia Việt Nam ra làm ba kỳ với chế độ pháp luật khác nhau. Theo Điều 11 Sắc luật ngày 25/7/1884, Bộ luật Gia Long được áp dụng đối với người phạm tội bản xứ Nam kỳ. Tuy nhiên, ngày 31/12/1912, toàn quyền Đông dương ra Sắc lệnh sửa đổi 56 điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code Pénal modifié) và cho áp dụng ở Nam kỳ, ngoại trừ trường hợp luật hình sự của Pháp chưa dự liệu được.36 Còn ở Bắc kỳ, với Nghị định ngày 2/12/1921, toàn quyền Đông Dương đã cho áp dụng Luật hình An Nam. Ở Trung kỳ, ngày 31/7/1933, Bảo Đại đã ra Dụ số 43 ban hành Hoàng Việt hình luật.

Dù ở ba kỳ có chế độ pháp luật hình sự khác nhau nhưng thực ra đều chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của Bộ luật hình sự Pháp 1810. Do đó, ngoài một số điểm khác biệt mang tính đặc thù của chế độ phong kiến quân chủ ở Trung kỳ được thể hiện trong bộ Hoàng Việt hình luật, còn lại pháp luật hình sự ở Việt Nam lúc bấy giờ đã trở thành công cụ cho thực dân Pháp và tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược và đàn áp nhân dân ta. Trên cơ sở đó, hàng loạt những hành vi bị coi là “chống lại chính phủ Pháp” bị coi là “trọng tội” và đều

36 Nguyễn Huy Chiểu, Hình luật, Viện Đại học Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.132-133.

30

phải bị “xử tử”. Chẳng hạn, Điều 75 Hình luật canh cải quy định: “Những người thuộc địa của Pháp quốc hay là người bảo hộ của pháp quốc mà cầm khí giới làm nghịch chống Pháp quốc thì sẽ bị xử tử”.37

1. Những đặc điểm chủ yếu của Hình luật canh cải a. Hình thức: gồm lời nói đầu, 4 quyển với 484 điều.

b. Nội dung:

- Về tội phạm:

+ Hình luật canh cải chưa có quy phạm định nghĩa tội phạm, nhưng đã có phân loại tội phạm thành: trọng tội, khinh tội và vi cảnh với chế tài hình sự khác nhau.

+ Hình luật canh cải không quy định năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 64).

+ Hình luật canh cải quy định hai tình tiết loại trừ tính chất phạm tội là sự cưỡng bức về tinh thần hoặc vật chất (Điều 64) và phòng vệ chính đáng (Điều 228).

+ Hình luật canh cải không có quy định đồng phạm nhưng có quy định người chính phạm và người tòng phạm (Điều 59).

+ Trong Hình luật canh cải, việc truy cứu trách nhiệm hình sự tập thể bị bãi bỏ. Trách nhiệm hình sự được xác định cho mỗi cá nhân. Người điên không bị coi là người phạm tội.38 + Điều 4 Hình luật canh cải quy định hiệu lực của đạo luật hình sự với một nguyên tắc rất tiến bộ, đó là nguyên tắc bất hồi tố.

- Về hình phạt:

Hình luật canh cải quy định các loại hình phạt sau:

• Những hình phạt thuộc trọng tội:

+ Xử tử (Điều 12): chém;

+ Khổ sai (travaux forces) chung thân;

+ Đày quốc sự;

+ Khổ sai hữu hạn;

+ Cấm cố (réclusion);

+ Biệt giam;

+ Đuổi ra khỏi xứ;

+ Phế quyền dân.

• Những hình phạt thuộc khinh tội + Giam:

37 Phan Khắc Giảng, Luật hình giải nghĩa và quy hình, Nxb Vĩnh Long, Sài Gòn, 1933, tr.12.

38Phan Khắc Giảng, Luật hình giải nghĩa và quy hình, Nxb Vĩnh Long Sài Gòn, 1933, tr.12.

31

+ Cấm làm một số việc trong việc nước, việc làng và việc gia đình.

• Những hình phạt đối với tội vi cảnh:

+ Giam;

+ phạt tiền.

- Hình luật canh cải là công cụ của thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam (chẳng hạn, Điều 75 quy định xử tử những ai chống lại Pháp quốc).

- Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý hành chính được quy định với chế tài hình sự rất nặng (Điều 132, 133, 134, 135...)

2. Những đặc điểm chủ yếu của Luật hình An Nam

a. Hình thức: Luật hình An Nam gồm 40 chương với 233 điều.

b. Nội dung:

- Luật hình An Nam quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 38.

- Về hình phạt:

Điều 2 Luật hình An Nam quy định các loại hình phạt đối với các trọng tội như sau:

+ Tử hình;

+ Khổ sai chung thân;

+ Phát lưu (buộc phải ở một nơi nhất định trong hoặc ngoài Đông Dương, ai bỏ trốn sẽ bị kết án khổ sai chung thân);

+ Khổ sai hữu hạn;

+ Cấm cố (biệt giam trong ngục);

+ Tội đồ (giam và làm các công việc phục dịch);

+ Phóng trục (đày ra ngoài địa phận Đông Dương).

Các hình phạt đối với khinh tội và vi cảnh được quy định tại Điều 3:

+ Phạt giam;

+ Phạt bạc (tiền).

Ngoài ra, Luật hình An Nam còn quy định các phụ hình (hình phạt bổ sung), đó là:

+ Quản thúc;

+ Tịch thu tài sản;

+ Tịch thu đồ vật phạm pháp;

+ Cấm một số quyền công dân...v.v...

- Ngoài một số hành vi chống lại Pháp phải bị tử hình, Luật hình An Nam còn quy định một số dạng biểu lộ ý định phạm tội xâm phạm nhà vua cũng phải tử hình.

32

- Luật hình An Nam quy định những người có chức vụ phạm tội tại chương XI.

- Sự nguỵ trá trong việc khảo thí cũng bị xem là tội phạm trong Luật hình An Nam (Điều 180).

- Khác với Hình luật canh cải, Luật hình An Nam còn giữ được một số nét truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam như quy định về hành vi thông dâm với đàn bà goá (Điều 134), thông dâm với vợ hay vợ lẽ của cha, ông, anh, chú bác (Điều 133)...

3. Những đặc điểm chủ yếu của Hoàng Việt hình luật

a. Hình thức: Hoàng Việt hình luật gồm 29 chương với 424 điều.

b. Nội dung:

- Về tội phạm:

+ Chủ thể của tội phạm: Hoàng Việt hình luật quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 84.

+ Đồng phạm: Hoàng Việt hình luật quy định khác so với Hình luật canh cải ở chỗ quy định chính phạm và tòng phạm đều bị hình phạt như nhau.

+ Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: ngoài quy định người bị não bệnh, Hoàng Việt hình luật còn bổ sung ba trường hợp nữa là: “tình thế bắt buộc, mệnh lệnh của pháp luật và hàn vệ chánh đáng”.

- Về hình phạt: chia thành 2 loại là hình phạt chính và hình phạt phụ (bổ sung)

+ Hình phạt chính đối với các tội đại hình (trọng tội): 1) Tử hình; 2) Khổ sai chung thân; 3) Phát lưu; 4) Khổ sai có kỳ hạn; 5) Câu cấm; 6) Tỷ trí (ở một chỗ nhất định từ 1-10 năm).

+ Các hình phạt chính đối với tội trừng trị (khinh tội): 1) Phạt giam; 2) Phạt bạc.

+ Các hình phạt bổ sung gồm: 1) Hương quyền quản thúc hay chánh quyền quản thúc; 2) Mất các quyền lợi 3) Tịch thu tài sản; 4) Bắt bồi thường tổn hại; 5) Câu thúc thân thể (giam tại nhà lao của tỉnh và phục dịch trong nhà lao hoặc ở ngoài); 6) Yết tội danh tại thân minh đình (niêm yết công khai).

- Nhằm bảo vệ sự cai trị của thực dân Pháp, Hoàng Việt hình luật dành chương XI để quy định những tội phạm đến đức Hoàng đế, Hoàng thân và cuộc trị yên của Nhà nước với những hình phạt nặng nề.

- Hoàng Việt hình luật còn duy trì một số quan niệm phong kiến của cổ luật như quy định tội thông dâm với đàn bà goá đang có tang chồng, tội vợ cả, vợ lẽ chưa ly dị chồng trước ngày lấy chồng khác...

Tóm lại, từ những đặc điểm nêu trên, chúng ta có thể thấy, pháp luật hình sự Việt Nam thời Pháp thuộc chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự Pháp. Thực sự, pháp luật hình sự thời kỳ này là công cụ của thực dân Pháp và tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược, đàn áp dã man nhân dân ta. Xét ở góc độ khoa học, một số chế định như tội phạm, phân loại tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, quy định tội phạm trong lĩnh vực 33

khảo thí...là những giá trị có thật phục vụ cho hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 33 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)