Tình thế cấp thiết

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 191 - 194)

BÀI 12: NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI 178 I. KHÁI NIỆM VỀ NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI

II. NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH NGUY HIỂM CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI CỤ THỂ

2. Tình thế cấp thiết

Hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định tình thế cấp thiết là một tình tiết loại trừ tính chất phạm tội. Đây là một phương thức bảo vệ lợi ích của xã hội theo kiểu “thả con tép bắt con tôm”. Khi có một nguy cơ đang đe doạ gây ra một thiệt hại nào đó, để ngăn chặn thiệt hại xảy ra, chúng ta có quyền gây ra một thiệt hại khác nhỏ hơn nếu đó là phương án cuối cùng.

Khoản 1 Điều 16 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định:

“Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm”.

Theo nội dung của điều luật, tình thế cấp thiết là tình thế của một người đứng trước một thiệt hại về lợi ích được pháp luật bảo vệ và muốn bảo vệ lợi ích này nên không còn cách nào khác phải gây ra một thiệt hại cũng được pháp luật bảo vệ nhưng nhỏ hơn thiệt hại cần tránh trước đó. Điều này có nghĩa là người thực hiện hành vi gây thiệt hại để bảo vệ lợi ích phải cân nhắc, đánh giá và hy sinh một lợi ích nhỏ để bảo vệ một lợi ích lớn hơn. Vì thế, hành động gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết được xem là hành vi tích cực, pháp luật hình sự không coi hành vi này là tội phạm.

Đối tượng cần bảo vệ trong chế định tình thế cấp thiết là lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của người gây ra thiệt hại hoặc của người khác. Có thể nói, các lợi ích đề cập ở đây có thể bao gồm cả lợi ích chung hoặc lợi ích cá nhân, miễn sao nó là hợp pháp và thuộc đối tượng bảo vệ của pháp luật.

Về điểm này, pháp luật hình sự một số nước, chẳng hạn của Vương quốc Anh, nếu vì lợi ích cá nhân mà gây thiệt hại cho người khác hoặc xã hội thì không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và phải chịu trách nhiệm hình sự. Có thể lấy một ví dụ kinh điển trong tuyển tập các ví dụ về tình thế cấp thiết để minh hoạ cho trường hợp này như sau: Ba thanh niên và một em bé trên một con thuyền bị trôi dạt trên biển, cách bờ biển hơn một nghìn dặm. Sau 9 ngày chịu đói, khát, ba thanh niên đã ăn thịt em bé để sống và sau đó được tàu cứu hộ tìm thấy. Ba thanh niên đã bị Toà án tuyên phạt tử hình về tội giết người.95

Việc xem xét một trường hợp gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng không khó lắm, cần phải có các điều kiện sau:

a. Điều kiện về nguồn gây ra nguy hiểm:

95 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, Nhà in Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2002, tr.76.

188

Cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền được thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là sự nguy hiểm đang đe doạ gây ra những thiệt hại nhất định về lợi ích được pháp luật bảo vệ. Nguồn nguy hiểm đang đe dọa gây ra thiệt hại ở đây có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như: thiên nhiên, súc vật, sự bất cẩn của con người…Thông thường, nguồn nguy hiểm không phải là hành vi của con người đang đe doạ xâm hại đến các lợi ích hợp pháp.96 Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng nguồn nguy hiểm lại là hành vi của con người nhưng không phải đang diễn ra (mà chỉ đe doạ sẽ diễn ra). Ví dụ, một tên tội phạm đe doạ sẽ giết chết ba con tin nếu viên cảnh sát không phá huỷ chiếc xe dùng để đuổi bắt hắn và phải lui ra để hắn tẩu thoát. Đây chính là một điểm khác của tình thế cấp thiết so với phòng vệ chính đáng. Trong phòng vệ chính đáng, nguồn gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật của con người đang diễn ra.

- Nguồn nguy hiểm phải thoả mãn tính hiện tại. Nghĩa là, nguồn nguy hiểm đang tồn tại khách quan và có khả năng gây ra thiệt hại trên thực tế nếu không được ngăn chặn. Tính hiện tại của nguồn nguy hiểm được đánh giá tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, có thể là nó sẽ gây ra thiệt hại ngay tức khắc hoặc sẽ gây thiệt hại trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Chẳng hạn, một con trâu đang đuổi một người và liên tục quơ sừng chém người đó. Đây là trường hợp mà nguồn nguy hiểm đe doạ sẽ gây ra thiệt hại ngay tức khắc. Tuy nhiên, trong trường hợp khác, nguồn nguy hiểm có thể không gây ra thiệt hại ngay nhưng chắc chắn nó sẽ gây thiệt hại và chúng ta không còn cách nào khác để ngăn ngừa. Ví dụ, một con thuyền đang vận chuyển hàng trên biển thì được tin bão khẩn cấp, sẽ gây chìm tàu nếu nó vẫn còn chở khối lượng hàng nặng như hiện tại. Nói là khẩn cấp nhưng có thể một vài giờ sau bão mới đến. Tuy nhiên, với điều kiện trên biển, việc cho thuyền đậu khẩn cấp vào một bến cảng nào đó cũng không phải dễ, có khi phải mất cả tuần. Trong trường hợp đó, một vài giờ sau nguồn nguy hiểm mới gây ra thiệt hại thực tế cũng được xem là “tức khắc”.

- Nguồn nguy hiểm phải có thật. Nguồn nguy hiểm chẳng những đang tồn tại mà còn phải là nguồn nguy hiểm có khả năng gây ra thiệt hại đến các lợi ích nhất định nếu không được ngăn chặn. Nếu nguồn nguy hiểm không chứa đựng khả năng gây ra thiệt hại thì việc gây ra thiệt hại (để ngăn chặn nguồn nguy hiểm) không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết. Ví dụ, một thuyền trưởng quan sát thấy chim ưng biển bay nháo nhác, theo kinh nghiệm của mình, ông ta cho đây là loài chim báo bão, nghĩa là bão sắp tới. Thuyền trưởng ra lệnh ném hàng hoá xuống biển để tàu nhẹ, tránh bị bão nhận chìm. Tuy nhiên, thực tế thì bão không đến. Việc làm này không được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết.

b. Điều kiện về hành vi ngăn ngừa nguồn nguy hiểm:

- Hành vi gây thiệt hại phải là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất.

Trong tình thế cấp thiết, việc hy sinh (gây thiệt hại) một lợi ích nhỏ để tránh một thiệt hại lớn hơn phải là biện pháp sau cùng, duy nhất. Nếu còn biện pháp nào khác không gây thiệt hại mà vẫn có thể tránh được thiệt hại thì chưa phải là tình thế cấp thiết. Biện pháp cuối cùng, duy nhất là biện pháp mà chỉ có nó mới có thể ngăn chặn được sự nguy hiểm đang xảy

96 Có thể đó là hành vi nhưng là hành vi của động vật, không có nhận thức xã hội, như: hành vi tấn công của trâu, bò, voi, hổ…

189

ra. Điều này đòi hỏi chủ thể rơi vào trường hợp này phải có sự đánh giá thật chính xác, nhanh chóng khả năng gây thiệt hại tức khắc của nguồn nguy hiểm và phải chọn phương án phù hợp. Việc gây thiệt hại để tránh một thiệt hại lớn hơn phải được cân nhắc kỹ lưỡng xem đó có phải là phương án cuối cùng và duy nhất chưa.

Trong thực tế, khi gặp phải trường hợp nguồn nguy hiểm đang đe doạ gây ra một thiệt hại cụ thể, không phải ai cũng có thể sáng suốt đánh giá và cân nhắc để lựa chọn một phương án tối ưu. Thực tế này đòi hỏi khi xem xét một trường hợp viện dẫn là tình thế cấp thiết, chúng ta phải xem xét một cách toàn diện các điều kiện khách quan cụ thể, tránh trường hợp người gây thiệt hại một cách tuỳ tiện, không cân nhắc để rồi sau đó viện lý do là không có điều kiện đánh giá các phương án ngăn ngừa thiệt hại xảy ra, buộc phải gây thiệt hại để trốn tránh trách nhiệm.

Ví dụ, tổ trưởng tổ dân phố chứng kiến khu phố mình bị cháy đã vội yêu cầu phá bỏ một số ngôi nhà trên đường đám cháy đi để tránh cả khu phố bị thiêu rụi. Tuy nhiên, trong trường hợp này, có thể còn một số phương án khác để có thể dập tắt đám cháy. Chỉ khi nào nỗ lực chữa cháy không phải là cách có thể khống chế được đám cháy thì phương án gây thiệt hại mới được thừa nhận.

- Thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Trong tình thế cấp thiết, thiệt hại không bị giới hạn như trong trường hợp của phòng vệ chính đáng. Trong tình thế cấp thiết, thiệt hại gây ra có thể đối với sở hữu về tài sản, tính mạng, sức khoẻ hoặc các thiệt hại khác. Tuy nhiên, thông thường việc gây ra thiệt hại là đối với sở hữu tài sản. Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng không bị giới hạn đối với người đang có hành vi xâm hại mà có thể gây thiệt hại cho xã hội hoặc cho một người nào đó không có liên quan.

Một yêu cầu đặt ra ở đây là thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa (xét về cả tính chất lẫn mức độ). Việc so sánh hai lợi ích này không phải lúc nào cũng dễ dàng, đòi hỏi chúng ta phải đánh giá, xem xét kỹ lưỡng nguồn nguy hiểm gây ra cho xã hội, thiệt hại mà xã hội phải gánh chịu, đối tượng bị tác động...Sự đánh giá này không phải lúc nào cũng dễ, đặc biệt là đối với người không ở vào hoàn cảnh đó. Trên thực tế, thiệt hại đã xảy ra cần đối chiếu với thiệt hại cần được ngăn ngừa (chưa xảy ra). Sự đối chiếu này ở người áp dụng đôi khi mang tính chủ quan, khắt khe. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có sự bảo đảm bằng cách quy định: chỉ khi nào thiệt hại gây ra rõ ràng là quá đáng (cao hơn một cách rõ ràng) thì trách nhiệm hình sự mới được đặt ra.

Như vậy, nếu hành vi nhằm ngăn ngừa thiệt hại lại gây ra một thiệt hại lớn hơn thì luật quy định trường hợp này vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết và người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ, do rừng bị chặt phá, môi trường sống bị đe doạ, đàn voi rừng tức giận kéo nhau vào các nương rẫy của người dân giẫm lên hoa màu, lều trại (không có người) của họ. Trước tình hình đó, người dân đã kéo nhau bao vây đàn voi và giết chúng. Rõ ràng, trong trường hợp này, thiệt hại gây ra rõ ràng lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Nếu đàn voi truy đuổi, giết chết người dân thì hành vi giết chúng có thể được chấp nhận.

Hành vi gây thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa trong vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết xuất phát từ động cơ, mục đích tích cực nên Bộ luật hình sự xem đây là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 46.

190

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 191 - 194)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)