PHẦN I: HỆ THỐNG HÌNH PHẠT
II. CÁC LOẠI HÌNH PHẠT
1. Các loại hình phạt chính
Trong số 267 điều của phần các tội phạm BLHS, nhà làm luật đã dành 263 điều quy định về các tội phạm. Mặc dù chỉ với 263 điều luật nhưng nhà làm luật đã quy định 264 tội phạm (Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em) đã được xây dựng với hai cấu thành tội phạm cơ bản (tại khoản 1 và khoản 4)).
Nếu tính trong cơ cấu 264 tội phạm được quy định trong BLHS, không đề cập đến hình phạt trục xuất vì hình phạt này là một trường hợp ngoại lệ chỉ áp dụng đối với người nước ngoài, tỷ lệ các loại hình phạt chính được biểu hiện như sau:
- Hình phạt cảnh cáo chiếm 14,01% trên tổng số tội phạm (37 chế tài cảnh cáo);
- Hình phạt tiền chiếm 25,75% trên tổng số tội phạm (68 chế tài phạt tiền);
- Hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm 55,30% trên tổng số tội phạm (146 chế tài cải tạo không giam giữ);
- Hình phạt tù có thời hạn chiếm 100% trên tổng số tội phạm (tất cả tội phạm đều có kèm theo chế tài phạt tù);
- Hình phạt tù chung thân chiếm 21,59% trên tổng số tội phạm (57 chế tài tù chung thân);
- Hình phạt tử hình chiếm 11,36% trên tổng số tội phạm (30 chế tài tử hình).
Nếu tính trên tổng số 6 loại hình phạt chính được quy định kèm theo các tội phạm, tỷ lệ các loại hình phạt biểu hiện như sau:
- Hình phạt cảnh cáo chiếm 6,15%;
- Hình phạt tiền chiếm 11,30%;
- Hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm 24,25%;
- Hình phạt tù có thời hạn chiếm 43,85%;
- Hình phạt tù chung thân chiếm 9,47%;
- Hình phạt tử hình chiếm 4,98%.
Các chỉ số trên cho thấy, trong cơ cấu hình phạt chính của phần các tội phạm BLHS, tỷ lệ của hình phạt chính nghiêm khắc nhất (tử hình) thấp hơn hình phạt chính ít nghiêm khắc nhất (cảnh cáo).
Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa chúng là không cao lắm (4,98% so với 6,15%). Điều đó cho thấy, việc quy định chế tài trong phần các tội phạm BLHS đã được các nhà làm luật cân nhắc, cố gắng hạn chế việc quy định các chế tài nghiêm khắc, tăng cường các chế tài mang tính giáo dục, nhằm thể hiện sâu sắc tính nhân đạo trong chính sách hình sự, phù hợp với xu thế chung của thế giới ngày nay. Nhưng,
218
để đảm bảo triệt để nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội trong luật hình sự, tỷ lệ hình phạt tử hình trong cơ cấu các hình phạt chính càng thấp càng tốt. Dĩ nhiên, kèm theo đó chúng ta phải có nhiều biện pháp đồng bộ kèm theo việc giảm bớt tỷ lệ này sao cho vẫn đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đang ngày càng nguy hiểm, tinh vi ở nước ta.
a. Cảnh cáo (Điều 29 Bộ luật hình sự):
Cảnh cáo là loại hình phạt có mức độ nghiêm khắc nhẹ nhất trong hệ thống các hình phạt chính, không có khả năng đưa lại những hạn chế pháp lý liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích về thể chất, tài sản...đối với người bị kết án mà chỉ gây ra những tổn hại về mặt tinh thần. Người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo phải chịu sự lên án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy khoa học Luật hình sự định nghĩa hình phạt cảnh cáo là
“sự khiển trách công khai của Nhà nước do Toà án tuyên đối với người bị kết án”. Người bị phạt cảnh cáo mang án tích trong thời hạn tối đa là 1 năm (điểm a khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự hiện hành).125
Nói về các điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo, Điều 29 Bộ luật hình sự quy định:
“Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trong và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”.
Khi quyết định hình phạt, việc lựa chọn giữa khả năng miễn hình phạt và áp dụng hình phạt cảnh cáo đòi hỏi Thẩm phán phải có ý thức tuân thủ phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo. Mặt khác, Thẩm phán còn dựa vào niềm tin nội tâm của mình để quyết định sao cho công bằng và tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bởi vì, giữa miễn hình phạt và áp dụng hình phạt cảnh cáo có hậu quả pháp lý khác nhau đối với người bị kết án. Người được miễn hình phạt sẽ được xoá án tích ngay sau khi có quyết định miễn hình phạt. Hình phạt cảnh cáo chỉ có thể được xoá án sau thời hạn là 1 năm kể từ khi bị kết án.
b. Phạt tiền (Điều 30 Bộ luật hình sự):
Phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung quỹ Nhà nước. Hình phạt tiền là một trong hai hình phạt trong hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam có thể áp dụng vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung. Về bản chất, hình phạt tiền tước ở người bị kết án một số quyền về vật chất, tác động đến kinh tế (tài sản), thông qua đó mang lại hiệu quả của hình phạt.
Về điều kiện áp dụng hình phạt tiền, khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định”.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự, hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính có thể áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm đến các nhóm khách thể sau:
125Bộ luật hình sự Việt Nam 1985 quy định: người bị phạt cảnh cáo mang án tích tối đa là 3 năm (Điều 53). Về điểm này, Bộ luật hình sự 1999 quy định theo hướng nhân đạo hơn đối với người bị kết án.
219
- Trật tự quản lý kinh tế như tội buôn lậu (Điều 153), tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều 155)...v.v...
- Trật tự công cộng như tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), tội cản trở giao thông đường bộ (Điều l03), tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn (Điều 204)...v.v...
- Trật tự quản lý hành chính như tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của các cơ quan, tổ chức (Điều 166), tội làm giả con dấu, tài liệu của các cơ quan, tố chức (Điều 267), tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ con dấu, tài liệu của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (Điều 268)...v.v...
- Các lĩnh vực khác do luật định như tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại điện tín của người khác (Điều 125 ), tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131), tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201)...v.v...
Mức hình phạt tiền (khoản 3 Điều 30), được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng. Tiền phạt (khoản 4), có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án.
Việc luật quy định khi quyết định mức phạt tiền, Toà án có cân nhắc đến tình hình tài sản của người phạm tội nhằm đảm bảo tính khả thi của hình phạt được quyết định cũng như nhằm đảm bảo cho mục đích của hình phạt. Chẳng hạn, bị cáo là người dân tộc ít người, phạm tội trồng cây thuốc phiện. Ngoài việc bị áp dụng hình phạt chính, Toà án còn tuyên áp dụng hình phạt bổ sung đến 30 triệu đồng. Bản án này hầu như không khả thi vì người bị kết án rất khó có khả năng để thi hành.
Theo quy định hiện hành, mức phạt tiền thấp nhất là 1 triệu đồng. Mức phạt tiền tối đa được tìm thấy trong phần các tội phạm cụ thể có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất quy định mức tối đa cụ thể là 1 tỷ đồng (Điều 172 Bộ luật hình sự). Thứ hai, luật quy định mức phạt tiền tối đa gấp 10 lần số tiền phạm tội hoặc tiền lãi (Điều 161, 163 Bộ luật hình sự).
Khi áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung thì không giới hạn đó là loại tội phạm gì, miễn sao tội phạm đó thuộc các lĩnh vực quản lý kinh tế, tham nhũng, ma tuý hoặc các lĩnh vực khác do Bộ luật hình sự quy định. Một điểm khác nữa là khi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung thì mức phạt tiền tối đa không quá 500 triệu đồng (Điều 172 Bộ luật hình sự) hoặc không quá 5 lần giá trị tài sản phạm tội (Điều 279, 289…Bộ luật hình sự).
Trong tình hình hiện nay, cần mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mà không nhất thiết áp dụng hình phạt tù. Bộ luật hình sự sửa đổi năm 1999 đã thể hiện được nội dung đó khi tăng số lượng tội phạm được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Đồng thời để tránh việc vận dụng và áp dụng tuỳ tiện, tràn lan hình phạt tiền, Bộ luật hình sự cũng quy định rõ phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với các loại tội phạm nào, các loại tội phạm khác nếu xét thấy việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính không đảm bảo mục đích của hình phạt thì có thể áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung (các tội phạm về tham nhũng, về ma tuý...).
220
Như vậy, hình phạt tiền quy định tại Điều 30 (Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1985) cũng có những sửa đổi, bổ sung cơ bản. Trong Bộ luật hình sự hiện hành, hình phạt tiền được quy định là hình phạt chính và hình phạt bổ sung, thế nhưng, trong phần các tội phạm cụ thể, hình phạt được thể hiện rất ít ở các điều luật cụ thể. Điều này phù hợp với quan điểm của một số luật gia cho rằng nên hạn chế áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính vì như thế sẽ tạo ra tư tưởng lấy tiền để đổi lấy tù, có tiền thì không phải ở tù. Thậm chí, một số người còn cho rằng nên bỏ hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính trong Luật hình sự. Quan điểm này là sai lầm. Việc tăng cường áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và cho phép chuyển đổi từ hình phạt tiền sang hình phạt tù và ngược lại (trong một số trường hợp hợp lý) sẽ đảm bảo cho việc điều chỉnh cơ cấu của hệ thống hình phạt theo hướng tăng cường các loại hình phạt không phải tù, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề cao khả năng thi hành án của người bị kết án cũng như nâng cao khả năng vận dụng linh hoạt các loại hình phạt của Toà án. Vì vậy, ở phương diện lý luận thì việc tăng cường áp dụng hình phạt tiền là có cơ sở. V.I. Lênin nó: “Đối với người phạm tội cần thiết phải đưa ra Toà án công khai và không phải để trừng phạt nghiêm khắc (có lẽ để khiển trách cũng đủ) mà chính là để cho người thấy rõ và để chấm dứt tình trạng chung là ai nấy đều tin rằng những kẻ phạm tội không bị trừng phạt”126. Ở khía cạnh thực tiễn, trong tình hình hiện nay, cần mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm mà không cần áp dụng hình phạt tù đặc biệt là hiện nay khi các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính tăng nhiều. Đối với các loại tội phạm này thì áp dụng hình phạt tiền sẽ mang lại hiệu quả cao hơn hình phạt tù. Dĩ nhiên, việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền phải đi đôi với việc quy định chặt chẽ các điều kiện áp dụng chúng nhằm tránh việc tuỳ tiện, đảm bảo áp dụng hình phạt tiền vừa có tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa, tránh nảy sinh quan niệm tiêu cực cho rằng có tiền là không phải ở tù ở mọi người dân.
Xuất phát từ những cơ sở hợp lý trên, Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi và quy định:
“phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định”. Đối với những tội phạm về tham nhũng, tội phạm về ma tuý và một số tội phạm khác, khi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ không đảm bảo mục đích hình phạt, trường hợp đó, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung. Việc quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền là một triệu đồng cũng đã nói lên được tính nghiêm khắc của chế tài hình sự so với các loại chế tài khác như hành chính, kinh tế...
c. Cải tạo không giam giữ (Điều 31 Bộ luật hình sự):
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội. Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Toà án “giao người bị cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục” (khoản 2 Điều 31). Thời gian cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm.
Về điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, theo khoản 1 Điều 31, cải tạo không giam giữ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết cách ly người phạm tội khỏi xã hội.
Xét về bản chất, cải tạo không giam giữ có mức độ nghiêm khắc nhẹ hơn hình phạt tù và nặng hơn hình phạt tiền, cảnh cáo. Tuy nhiên, trong quá trình chấp hành hình phạt, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ127 và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án (khoản 3
126 V.I. Lê-nin tòan tập, Tập 36, Nxb Ngọai Văn Hà nội 1963, tr.783.
127 Xem Nghị định số 60/2000/NĐ-CP (30/10/2000) về việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
221
Điều 31). Đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì không thực hiện việc khấu trừ này (Điều 73 Bộ luật hình sự hiện hành).
Nếu trong quá trình điều tra, xét xử, người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.
So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự hiện hành có bước sửa đổi, bổ sung cơ bản về hình phạt này. Bộ luật hình sự mới đã mở rộng phạm vi áp dụng và tăng thời gian áp dụng hình phạt này, đồng thời quy định rõ những trường hợp được áp dụng hình phạt này. Loại hình phạt này theo Bộ luật hình sự hiện hành được áp dụng cho cả quân nhân phạm tội, thay vì trước kia nếu quân nhân phạm tội phải áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội. Đây là một sửa đổi rất hợp lý trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt này trong gần mười năm kể từ khi có quyết định thành lập Đơn vị kỷ luật của quân đội (theo Quyết định số 276/QĐ-TM ngày 01/9/1990 của Tổng Tham mưu trưởng). Việc tăng thời hạn tối đa của việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 2 năm lên 3 năm và mở rộng phạm vi áp dụng cho cả tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng nhằm tạo khả năng cho Toà án khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, tránh xu hướng nặng về hình phạt tù.
d. Trục xuất (Điều 32 Bộ luật hình sự):
Trục xuất là hình phạt buộc người bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hình phạt này chỉ áp dụng đối với người nước ngoài. Việc cân nhắc áp dụng hình phạt trục xuất với tư cách là hình phạt chính hay bổ sung là tuỳ vào sự cân nhắc của Toà án trong từng trường hợp cụ thể. Nếu xét thấy người nước ngoài phạm tội mà tính nguy hiểm ở mức độ hạn chế và việc áp dụng hình phạt trục xuất đã đảm bảo tương xứng thì Toà án có thể áp dụng trục xuất với tư cách là hình phạt chính. Trong trường hợp phạm tội mà tính nguy hiểm cao, việc áp dụng trục xuất như là hình phạt chính không đảm bảo được sự tương xứng thì Toà án chuyển việc áp dụng hình phạt trục xuất với tư cách là hình phạt bổ sung và áp dụng hình phạt chính là hình phạt khác cho tương xứng với tính nguy hiểm cho tội phạm đã thực hiện.
Hình phạt trục xuất là hình phạt mới được bổ sung vào Bộ luật hình sự mới (Bộ luật hình sự năm 1985 không có hình phạt này). Hiện nay, Nhà nước ta đang mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế.
Số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, sinh sống, du lịch...càng tăng. Trong số đó sẽ có người phạm tội tại Việt Nam. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để xử lý người nước ngoài, việc bổ sung hình phạt này là kịp thời và hợp lý. Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật hình sự 1999 ra đời cho đến nay, hình phạt này rất ít được áp dụng. Để hình phạt này thật sự phát huy hiệu quả, đòi hỏi các Toà án phải cân nhắc sử dụng thường xuyên đối với người nước ngoài phạm tội, đặc biệt là áp dụng nó với tư cách là hình phạt bổ sung.
Một nét đặc biệt của hình phạt trục xuất là nó không được ghi nhận với tư cách là chế tài trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể cân nhắc và áp dụng hình phạt trục xuất đối với người nước ngoài phạm bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Bộ luật hình sự.
đ. Tù có thời hạn (Điều 33 Bộ luật hình sự):
222