PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
II. CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP CỤ THỂ
1. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41 Bộ luật hình sự)
Việc tịch thu sung quỹ Nhà nước được áp dựng đối với các trường hợp sau:
- Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
- Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
- Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
Đối với việc xử lý các vật tiền trong trường hợp này, khoản 2 và 3 Điều 41 quy định:
- Vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Chẳng hạn, tài sản bị cướp, trộm cắp, cướp giật…
234
- Vật tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Điều đó có nghĩa là nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của tài sản không có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội thì sẽ được trả lại tài sản bị thu giữ trước đó. Ví dụ, A mượn xe B nói là dùng để chở bạn gái đi chơi. Tuy nhiên, A đã dùng xe đi cướp giật. Việc này B không biết. Vì vậy, xe của B không thể bị tịch thu theo biện pháp tư pháp này.
Cần lưu ý phân biệt hình phạt bổ sung tịch thu tài sản với biện pháp tư pháp này. Hai biện pháp cưỡng chế này tuy có điểm giống nhau là tước tài sản của người phạm tội sung quỹ Nhà nước, không có đền bù, do Toà án áp dụng nhưng có bản chất pháp lý khác nhau. Tịch thu tài sản với tư cách là hình phạt bổ sung có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án, không hoặc có liên quan trực tiếp đến tội phạm, được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đối tượng của biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, có thể thuộc quyền sở hữu cá nhân người phạm tội hoặc tài sản của họ do chuyển quyền sở hữu bất hợp pháp (phạm tội mà có). Biện pháp tư pháp có thể được thực hiện ở những giai đoạn tố tụng trước khi thi hành án.
2. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 42 Bộ luật hình sự)
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
Thực tiễn có nhiều trường hợp người phạm tội sau khi chiếm đoạt đã chuyển cho (tặng cho, bán, cầm cố…) người khác mà người này không biết đó là tài sản do phạm tội mà có. Sau đó, người được chuyển giao đã giữ nguyên hiện trạng ban đầu hoặc làm tăng giá trị tài sản thì có thể nảy sinh vấn đề. Trường hợp người được chuyển giao dù không biết nhưng vẫn có lỗi vô ý (buộc phải biết và có thể biết đó là tài sản phạm tội mà có) thì tài sản vẫn bị thu lại để trả cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp mà không trả lại khoản tiền đã mua, cầm cố…có thể vẫn được chấp nhận. Tuy nhiên, trong trường hợp người được chuyển giao không có lỗi (không bị buộc phải biết hoặc không thể biết đó là tài sản do phạm tội mà có) thì việc thu lại tài sản để trả cho chủ sở hữu mà không có đền bù xem ra không khả thi khi người phạm tội không có khả năng đền bù. Chẳng hạn, Tuấn trộm xe đạp của Tèo (trị giá 800 ngàn đồng) và sau đó đem đi cầm cho bà Lan với giá 500 ngàn đồng. Khi cầm, bà Lan hỏi Tuấn xe của ai, Tuấn nói của mình, vì kẹt tiền nên đem đi cầm, vài hôm tới chuộc. Khi phát hiện, công an đến tiệm cầm đồ lập biên bản tịch thu chiếc xe đạp để trả lại cho Tèo. Tuy nhiên, bà Lan không giao chiếc xe đạp vì không được trả 500 ngàn đồng.
Trong trường hợp gây thiệt hại về tinh thần, Toà án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại. Biện pháp tư pháp này thường được áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác như Tội làm nhục người khác (Điều 121 Bộ luật hình sự), Tội vu khống (Điều 122 Bộ luật hình sự)...v.v…
235
Đối với những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không được xem là thiệt hại về vật chất. Tuy nhiên, với những thiệt hại này sẽ dẫn đến những thiệt hại về vật chất, như tiền mai táng, tiền chữa vết thương, thiệt hại từ thu nhập bị mất…Những khoản tiền này, người phạm tội hoặc đại diện hợp pháp của họ phải bồi thường cho người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ.
Đối với những thiệt hại về tinh thần, Toà án buộc người phạm tội phải công khai xin lỗi và bồi thường vật chất cho người bị hại. Việc xác định mức độ bồi thường vật chất đối với thiệt hại về tinh thần thật khó khăn đối với các Toà án và thường không áp dụng thống nhất. Chẳng hạn, cũng với một mức độ thiệt hại về tinh thần nhưng Toà án này thì quyết định bồi thường 3 triệu đồng, Toà án khác quyết định bồi thường 5 triệu đồng, cá biệt có Toà án quyết định 10 triệu đồng.134
3. Bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 Bộ luật hình sự)
Bắt buộc chữa bệnh được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự). Tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Toà án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp thấy không cần thiết đưa vào điều trị tại cơ sở chuyên khoa thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Toà án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, đối với người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật hình sự còn quy định hai biện pháp tư pháp đặc thù là: giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng (khoản 1 Điều 70 Bộ luật hình sự hiện hành).
4. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, Toà án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm.
134 Đinh Văn Quế, Tội phạm và Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001, tr.267-268.
236
- Người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ học tập, lao động, tuân theo pháp luật, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và tổ chức xã hội được Toà án giao trách nhiệm, làm cam kết với cơ quan giám sát.
- Gia đình người chưa thành niên có trách nhiệm giáo dục, giúp đỡ người đó sửa chữa lỗi lầm.
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải được lập thành hồ sơ theo dõi.
5. Đưa vào trường giáo dưỡng:
Toà án cũng có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Trong trường hợp người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người được đưa vào trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn do Toà án quyết định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng. Trường giáo dưỡng là trường được tổ chức theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Các nội dung liên quan đến việc giáo dục, học tập, kinh phí…của trường giáo dưỡng được quy định cụ thể trong Nghị định số 52/NĐ-CP (2001).
CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ
1. Nêu khái niệm hệ thống hình phạt?
2. Phân tích các hình phạt chính (khái niệm và điều kiện áp dụng)?
3. Phân tích các hình phạt bổ sung (khái niệm và điều kiện áp dụng)?
4. Các biện pháp tư pháp bao gồm những biện pháp nào?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, 7th ed, West Group: St Paul Minn, 1999.
2. V.I. Lê-nin toàn tập, Tập 36, Nxb Ngoại Văn Hà nội 1963.
237
3. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần chung), Nxb TPHCM, TPHCM, 2000.
4. Đinh Văn Quế, Tội phạm và Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
5. Chu Phát Tăng, Trần Long Đào, Tề Cát Tường (Nguyễn Văn Dương dịch), Từ điển Lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc, Nxb Trẻ, TPHCM, 2001.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
7. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
8. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005.
238