Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 250 - 264)

PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP

BÀI 15: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

III. CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

4. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Bộ luật hình sự quy định, khi quyết định hình phạt, Toà án phải xem xét, cân nhắc đồng thời cả hai loại tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt. Tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết thuộc yếu tố khách quan hoặc chủ quan của hành vi phạm tội, không có ý nghĩa xác định tội danh hoặc khung hình phạt mà chỉ có ý nghĩa làm giảm nhẹ hoặc tăng nặng mức hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt nhất định (lượng hình).

Cần nhấn mạnh rằng, chỉ những tình tiết có liên quan đến hành vi phạm tội đang được xét xử, ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mới được xem là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ví dụ, một người đang bị truy tố về tội cố ý gây thương tích thì có nhiều người viết đơn tố cáo rằng người này còn thiếu nợ chưa trả.

Tình tiết “thiếu nợ” không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Chính vì thế, các tình tiết này chỉ được xem xét, cân nhắc sau khi đã xác định tội danh và khung hình phạt. Chúng không đóng vai trò định tội hoặc định khung mà chỉ có ý nghĩa làm giảm hoặc tăng mức hình phạt trong phạm vi một khung hình phạt đối với một tội phạm cụ thể. Những tình tiết này không được quy định trong các điều khoản về tội phạm mà được quy định tại Điều 46, 48 Bộ luật hình sự và một 247

số văn bản khác (Nghị quyết 01-HĐTP ngày 19/04/1989, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP (04/08/2000) của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao). Khi quyết định hình phạt, Toà án chỉ được phép xem xét, đánh giá những tình tiết đã được luật hình sự quy định.

Ngoại lệ, Toà án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng lý do giảm nhẹ phải được giải trình trong bản án.

Trong thực tiễn, tội phạm diễn ra rất đa dạng và phong phú. Không phải trường hợp phạm tội nào cũng chỉ đơn thuần có các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự như luật định. Trong nhiều vụ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng đan xen nhau, có tình tiết được quy định, có tình tiết không được quy định trong luật. Để có được một hình phạt đúng đắn, Toà án cần có sự nhận thức khách quan và sự đánh giá toàn diện, đầy đủ trong một chỉnh thể các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xác định giá trị pháp lý của từng tình tiết đối lập nhau có ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Bởi vì, các tình tiết này không có ý nghĩa như nhau trong những trường hợp phạm tội nhất định. Việc xem xét, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của Toà án. Sau khi đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Toà án cần có sự ghi nhận cụ thể vào bản án các tình tiết nào là giảm nhẹ và các tình tiết nào là tăng nặng, mức độ ảnh hưởng của nó đối với hành vi phạm tội. Điều này góp phần tạo cơ sở vững chắc và đầy sức thuyết phục, đem lại hiệu quả của hình phạt đã tuyên.

a. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự).

- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

Hành động ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm có thể do người phạm tội tự làm hoặc do người khác khuyên, bắt làm. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào thái độ muốn ngăn chặn tác hại của tội phạm của người phạm tội mà tính chất giảm nhẹ có khác nhau. Hành động của người phạm tội phải đã diễn ra trên thực tế và thực tế đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm thì mới có giá trị giảm nhẹ.

Cần lưu ý, tình tiết này xác định là “tác hại” chứ không phải “thiệt hại”, bởi vì hai khái niệm này không giống nhau. Ví dụ, hành vi buôn bán trái phép chất ma tuý thì thiệt hại của tội phạm là số lượng chất ma tuý buôn bán trái phép, trong khi tác hại là những ảnh hưởng xấu của chất ma tuý đối với xã hội, đối với con người.

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

Đây là trường hợp mà thiệt hại của tội phạm đã xảy ra. Người phạm tội sau khi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Tình tiết này quy định ba nội dung là sửa chữa, bồi thường và khắc phục hậu quả. Sửa chữa là sửa chữa lại những hư hỏng do tội phạm gây ra. Bồi thường là đền bù lại những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra.

Khắc phục thiệt hại là khắc phục những thiệt hại trực hoặc gián tiếp do tội phạm gây ra. Chỉ cần thực hiện một trong ba hành vi này thì có thể thoả mãn tình tiết giảm nhẹ. Đồng thời, không cần người phạm tội đã sửa chữa, bồi thường hay khắc phục hoàn toàn thiệt hại thì tình tiết này mới được áp dụng.

248

Theo nội dung của tình tiết, những hành vi này phải được người phạm tội tự nguyện thực hiện, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải sau khi phạm tội thì mới có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể người phạm tội được thúc đẩy hoặc bắt buộc làm việc đó cũng có thể được giảm nhẹ. Thậm chí, nếu người phạm tội là người chưa thành niên, có cha mẹ tự nguyện sửa chữa, bồi thường, hoặc khắc phục hậu quả cũng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.137

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp người vì muốn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà có hành vi chống trả quá mức cần thiết nhằm ngăn chặn và đẩy lùi hành vi xâm hại.

Việc luật quy định tình tiết này với tư cách là tình tiết giảm nhẹ xem ra không cần thiết vì thực tế nó không thể được áp dụng với tư cách là tình tiết giảm nhẹ. Người có hành vi chống trả vượt mức cần thiết trong phòng vệ chính đáng chỉ được phép gây ra thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ. Hai trường hợp này đã được Bộ luật hình sự quy định với tư cách là tình tiết định tội tại Điều 96 Bộ luật hình sự - Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và Điều 106 Bộ luật hình sự - Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngoài hai trường hợp này, không còn trường hợp nào được xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác đã có hành vi gây thiệt hại rõ ràng lớn hơn thiệt hại cần tránh. Như vậy, để áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, phải có điều kiện về nguồn nguy hiểm đang đe doạ gây thiệt hại phải hiện tại, hiện hữu, có khả năng gây thiệt hại trên thực tế nếu không được ngăn chặn và người phạm tội không còn cách nào khác phải gây ra một thiệt hại khác để ngăn ngừa thiệt hại có nguy cơ xảy ra. Tuy nhiên, thiệt hại mà người phạm tội gây ra lại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra.

Để áp dụng tình tiết này đòi hỏi phải có hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác khiến cho người phạm tội bị kích động. Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc của người khác không cần thiết phải nghiêm trọng hoặc làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Do đó, người phạm tội cũng không cần phải bị kích động mạnh đến mức mất khả năng kiềm chế hành vi của mình. Đây là hai điểm để nhận biết đâu là tình tiết giảm nhẹ và đâu là tình tiết định tội quy định tại Điều 95, 105 Bộ luật hình sự.

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình tự gây ra.

Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình tự gây ra là những hoàn cảnh do thiên tai, địch hoạ, dịch bệnh hoặc bất kỳ nguyên nhân khách quan nào khác. Chẳng hạn, Minh từ quê đưa mẹ lên thành phố để chữa bệnh. Tuy nhiên, khi mới xuống xe thì bị kẻ gian móc túi lấy hết tiền. Lúc đó, có một người đến thuê Minh mang một gói ma tuý đến điểm

137 Xem Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP (12/5/2006).

249

hẹn để giao và hứa sẽ trả một khoản tiền. Biết đó là hành vi phạm tội nhưng vì muốn có tiền để chữa bệnh mẹ nên Minh đã phạm tội.

- Phạm tội mà chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn.

Chưa gây thiệt hại là thiệt hại chưa xảy ra. Thiệt hại không lớn là thiệt hại có xảy ra nhưng chưa đáng kể. Việc thiệt hại chưa xảy ra hoặc thiệt hại không lớn là nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội. Nếu đây là kết quả của ý thức chủ quan của người phạm tội thì có thể áp dụng quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hoặc tình tiết giảm nhẹ tại điểm a Điều này – người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Phạm tội lần đầu là chỉ mới phạm tội một lần. Có thể người phạm tội đã từng phạm tội những tội phạm đó đã được xoá án tích rồi thì lần sau phạm tội cũng được xem là phạm tội lần đầu. Phạm tội lần đầu sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ này nếu kèm theo trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện tại, chưa có hướng dẫn về trường hợp phạm tội như thế nào được xem là trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, thực tiễn thường xem trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng là trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt đến 3 năm tù) hoặc tội phạm nghiêm trọng nhưng người phạm tội chỉ đáng bị phạt 3 năm tù dựa theo các tình tiết phạm tội.

- Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức.

Tình tiết nêu lên hai nội dung là bị đe doạ hoặc cưỡng bức. Thực chất, đe doạ chính là một sự cưỡng bức về tinh thần, có mức độ bắt buộc thấp hơn đe doạ về vật chất. Vì vậy, có thể hiểu đe doạ là cưỡng bức về tinh thần.

Bị cưỡng bức về tinh thần là bị uy hiếp có thể gây gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc bất kỳ một lợi ích nào khác. Người bị cưỡng bức về tinh thần do lo sợ những thiệt hại có thể xảy ra đối với mình hoặc đối với những người mà mình quan tâm nên đã có hành vi phạm tội. Nếu sự cưỡng bức tinh thần đến mức khiến người bị cưỡng bức tê liệt ý chí thì hành vi không cấu thành tội phạm. Ngược lại, người phạm tội sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Trường hợp người bị cưỡng bức về vật chất mà phạm tội thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Phạm tội do lạc hậu.

Lạc hậu xảy ra ở những người do không được học tập, không có điều kiện tiếp cận thông tin tiến bộ, không được tiếp cận quy định của pháp luật hoặc điều kiện đời sống xã hội đặc biệt mà không nhận thức được đâu là điều cấm của pháp luật. Có thể họ phạm tội nhưng vẫn cho rằng đó là việc nên làm hoặc không trái pháp luật. Ví dụ, người Banar có tục giết người mà họ cho là “ma lai”, hoặc người H’rê tìm giết người “cầm đồ” (người mang thuốc độc muốn giết ai cũng được).

Bộ luật hình sự 1985 còn có quy định giảm nhẹ cho người phạm tội “do trình độ nghiệp vụ non kém”. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự 1999 đã bỏ tình tiết này. Điều này là cần thiết. Thực tế, nhiều cán bộ được đào tạo chính quy, có chuyên môn, nghiệp vụ nhưng khi bị xét xử về các tội phạm có liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ (thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, cố ý làm trái các quy

250

định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng…) đã đưa tình tiết giảm nhẹ này để xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Và không ít Toà án đã giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ một cách thiếu căn cứ.

- Người phạm tội là phụ nữ đang có thai.

Phụ nữ có thai thường có tâm lý đặc biệt, hay nóng nảy, cáu gắt…có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện tội phạm. Vì vậy, người đang có thai khi phạm tội sẽ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Điều này, người phạm tội phải chứng minh và các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra tính xác thực.

- Người phạm tội là người già.

Theo Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP (12/5/2006), “người già” được xác định là người từ 70 tuổi trở lên. Tuy nhiên, Nghị quyết này sử dụng tình tiết người già với tư cách là đối tượng phạm tội trong tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người già”. Dù vậy, cũng có thể sử dụng nội dung trên trong trường hợp này.

Theo một số tác giả, người già ở đây được thực tiễn xét xử coi là người từ 60 tuổi trở lên.138

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Đây là trường hợp người phạm tội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh nào khác làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Ví dụ, một người đang điều khiển xe gắn máy đột nhiên bị lên cơn co giật, lạc tay lái, đụng phải người đi đường gây tai nạn.

Nếu bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi thì không áp dụng tình tiết này mà áp dụng Điều 13 Bộ luật hình sự để xác định người có hành vi nguy hiểm không có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Người phạm tội tự thú.

Tự thú là trường hợp sau khi phạm tội, chưa bị ai phát hiện mà người phạm tội đã nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình. Cũng coi là tự thú khi người phạm tội bị bắt về một tội, nhưng sau đó đã khai ra hành vi phạm tội khác thì được áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho tội phạm đã khai ra đó.139

Theo Thông tư liên ngành số 5/TTLN (02/6/1990) hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú thì kể cả trường hợp sau khi phạm tội, bị phát hiện, biết không thể lẩn trốn nên người phạm tội đã ra trình diện. Trường hợp này cũng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, theo Công văn 81, trường hợp này chỉ có thể sử dụng nó như tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 chứ không phải khoản 1 Điều 46.

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

138 Đinh Văn Quế, Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr.82.

139 Xem Công văn số 81/2002/TANDTC (10/6/2002) về việc giải đáp các vấn đề về nghiệp vụ.

251

Tình tiết này hàm chứa hai nội dung, tương ứng với hai tình tiết giảm nhẹ. Thành khẩn khai báo là sau khi bị phát hiện, bắt, người phạm tội đã khai rõ sự việc liên quan đến hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Trong khi điều tra tội phạm, cơ quan điều tra có thể hỏi cả những việc không liên quan đến tội phạm, nếu người phạm tội không khai sự thật về những vấn đề đó thì không ảnh hưởng đến việc sử dụng tình tiết giảm nhẹ này.

Người phạm tội đã ăn năn hối cải là sau khi phạm tội, người phạm tội cắn rứt lương tâm, hối hận và muốn sửa chữa lỗi lầm. Thái độ này phải được thể hiện bằng hành vi tích cực: chấp hành pháp luật, sống gương mẫu, hối hận, muốn trở thành công dân tốt. Cần xem xét kỹ phòng khi người phạm tội giả vờ ăn năn hối cãi. Vì vậy, để áp dụng tình tiết này, Toà án cần lấy tài liệu từ các kênh thông tin từ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng và nhân dân nơi người phạm tội sinh sống sau khi phạm tội.

- Người phạm tội tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm.

Tình tiết này được áp dụng đối với người sau khi phạm tội và bị bắt (không phải tự thú) đã tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm. Việc làm này có thể được biểu hiện bằng việc cung cấp tài liệu, tin tức, bằng chứng…có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra tội phạm. Có thể người bị bắt khai ra một tội phạm khác không liên quan đến mình cũng được áp dụng tình tiết này.

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội.

Lập công chuộc tội là sau khi phạm tội, người phạm tội đã có những hành động dũng cảm cứu người, tài sản đang bị xâm hại hoặc đe doạ xâm hại, có công trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Ví dụ, đuổi bắt kẻ phạm tội quả tang.

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

Đây là trường hợp mà người phạm tội trước khi phạm tội đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác. Thành tích này được xác định thông qua huân chương, huy chương, bằng khen của Chính phủ, bằng lao động sáng tạo, bằng sáng chế, phát minh, anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú…Người phạm tội chỉ cần đạt một trong số bốn lĩnh vực nói trên thì có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Hay nói khác hơn, điểm này quy định bốn tình tiết giảm nhẹ.

So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự 1999 đã bỏ một số tình tiết giảm nhẹ sau đây:

- Phạm tội vì bị người khác chi phối về mặt vật chất, công tác hay các mặt khác;

- Phạm tội do trình độ nghiệp vụ non kém.

Tuy nhiên, Bộ luật hình sự mới đã bổ sung 3 tình tiết giảm nhẹ mới so với Bộ luật hình sự 1985. Đó là các tình tiết được quy định tại điểm b, r và s khoản 1 Điều 46.

Khoản 2 điều 46 quy định: “khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Thực tiễn xét xử cho thấy, 252

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 250 - 264)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)