CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 171 - 174)

1. Phân loại theo dấu hiệu chủ quan

a. Đồng phạm không có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thoả thuận, bàn bạc với nhau trước giữa những người đồng phạm hoặc có thoả thuận nhưng không đáng kể, có thể họ nhất trí phạm tội ở hiện trường hoặc đồng phạm được hình thành khi có người đang thực hiện tội phạm. Ví dụ, Nguyễn Văn D, Phạm Văn K và Hà Tuấn G là những thanh niên lương thiện nhưng thường hay uống rượu. Một hôm cả ba kéo nhau đi uống rượu. Trên đường về, sinh sự với một thanh niên đi đường tên là C. K và G nổi giận đánh C. D thấy hai bạn mình bị đánh (hai đánh một nhưng do có rượu và C có võ nghệ nên K và G bị đánh té vào hàng rào) nên tìm một khúc gỗ dài khoảng 1 mét đưa cho G. Nhờ khúc gỗ, G đã đánh C trọng thương. Cả bọn Đ,G,K bị truy cứu tội cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luật hình sự) . Đây là trường hợp đồng phạm không có thông mưu trước.

b. Đồng phạm có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó những người trong đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc với nhau về tội phạm cùng thực hiện. Hình

86 Karpext, Cá thể hóa hình phạt trong Luật hình Xô Viết, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963, tr.95.

168

thức đồng phạm này nói chung nguy hiểm hơn trường hợp đồng phạm thứ nhất. Ví dụ, Phạm Văn C, Huỳnh Thị Xuân H, Tăng Quốc T là những phần tử lười lao động, chuyên sống bằng nghề cờ bạc, trộm cắp. Cả ba đã để ý nhà anh Lê Quang M, vì anh M thường xuyên vắng nhà. Cả bọn đã quan sát kỹ địa hình, địa vật và lập kế hoạch đêm 30/07/1995, C sẽ đột nhập vào nhà, T ở ngoài canh cửa và trợ lực nếu cần thiết. Đem được tài sản về nhà thì H có nhiệm vụ đi tiêu thụ. Lần trộm đó, cả ba bị bắt gọn và bị Toà án đưa ra xét xử trong một vụ đồng phạm.

2. Phân loại theo dấu hiệu khách quan

a. Đồng phạm giản đơn: là hình thức đồng phạm trong đó những người tham gia vụ đồng phạm đều là người thực hành. Ví dụ, trên đường đi nhậu về, Hoàng, Trung, Hải đã gặp chị Lam đang đi trên đường một mình. Cả ba đã dùng vũ lực và thay nhau hiếp dâm chị Lam. Trong vụ phạm tội này, cả ba đều là người thực hành. Trường hợp này gọi là đồng phạm đơn giản.

b. Đồng phạm phức tạp: là hình thức đồng phạm trong đó có một hoặc một số người tham gia giữ vai trò người thực hành, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò tổ chức, xúi giục, giúp sức. Chẳng hạn, A thấy bạn mình là H đang ẩu đả với người khác nên đã tìm một khúc gỗ ném đưa cho H. H đã dùng khúc gỗ đánh gây thương tích cho người khác.

Trong vụ phạm tội này, H là người thực hành, A là người giúp sức. Chỉ cần có thêm một vai trò (ngoài vai trò thực hành) thì đồng phạm được xem là đồng phạm phức tạp.

3. Phạm tội có tổ chức

Khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự nêu rõ: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.” Phạm tội có tổ chức được hình thành trên cơ sở kết hợp hai dấu hiệu chủ quan và khách quan. Mặt khách quan thể hiện ở sự liên kết có sự phân hoá rõ rệt vai trò, nhiệm vụ của những người trong đồng phạm. Mặt chủ quan thể hiện ở sự liên kết hết sức chặt chẽ về mặt ý chí của những người đồng phạm. Lòng tin và sự mong muốn hậu quả phạm tội xảy ra cao hơn trường hợp đồng phạm thường dựa trên sự quyết tâm cao độ ở mỗi người, lòng tin lẫn nhau, sự chặt chẽ của kế hoạch phạm tội. Nhìn chung, phạm tội có tổ chức bao giờ cũng có sự bàn bạc, phân công thực hiện tội phạm nhưng không phải mọi trường hợp bàn bạc, phân công thực hiện tội phạm trước đều là phạm tội có tổ chức vì phạm tội có tổ chức đòi hỏi phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người trong đồng phạm. Theo Nghị quyết 02-HĐTP ngày 16/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, sự câu kết giữa những người trong đồng phạm có thể được thể hiện dưới các dạng sau:

- Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm cướp...có những tên chỉ huy, cầm đầu. Có thể không có những 169

tên chỉ huy, cầm đầu nhưng có sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội.

- Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã định trước.

- Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch rất chu đáo, tinh vi, kỹ càng, có sự chuẩn bị công cụ phương tiện hành động và chống trả khi bất trắc.

Phạm tội có tổ chức trong một số trường hợp là tình tiết định khung tăng nặng (Điều 143, 136, 238... Bộ luật hình sự), cũng có thể là tình tiết tăng nặng tại Điều 48 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp phạm tội có tổ chức thuộc các tội phạm quy định là tình tiết định khung tăng nặng thì khi xét xử, Toà án không được viện dẫn thêm khoản 1 Điều 48 để xem đó là tình tiết tăng nặng.

 Phm ti có t chc và t chc phm ti

Một điểm cần lưu ý là chúng ta cần phân biệt giữa trường hợp phạm tội có tổ chức và tổ chức phạm tội. Tổ chức phạm tội được Bộ luật hình sự quy định thành tội danh độc lập.

Chẳng hạn, Điều 148 - Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn; Điều 206 - Tội tổ chức đua xe trái phép; Điều 249 - Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc...v.v... Trường hợp này, người phạm tội là người đứng ra tổ chức cho người khác thực hiện tội phạm được quy định thành tội danh riêng chứ không phải là đồng phạm với những người tham gia.

Ví dụ, Dương Minh L đã dành khuôn viên nhà mình cho việc chọi gà (mọi người thường gọi là Trường gà). Vào trung tuần mỗi tháng, L tổ chức cho các “tay” chơi gà cá độ với nhau, L sẽ thu 5% trên tổng giá trị tiền cá cược mỗi độ. Bản thân L cũng có nuôi gà nòi và nếu thấy thích hắn cũng tham gia với những tên chủ mang gà tới. Ít lâu sau Trường gà của L bị phát hiện. Ở đây, rõ ràng L tổ chức cho người khác phạm tội và có khi cả mình cũng thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của L đã được Luật hình sự hiện hành quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Những người tham gia chơi bị xem là phạm tội đánh bạc (Điều 248 Bộ luật hình sự nếu thoả mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản).

Như vậy, để xác định một trường hợp phạm tội trong đó có sự tổ chức là trường hợp phạm tội có tổ chức hay tổ chức phạm tội, chúng ta cần nghiên cứu xem trong Bộ luật hình sự có quy định tội phạm được thực hiện thông qua hành vi tổ chức hay không. Nếu hành vi tổ chức cho người khác phạm tội được Bộ luật hình sự quy định thành một tội phạm độc lập thì hành vi đó không bị xem là đồng phạm hoặc cao hơn là trường hợp phạm tội có tổ chức (như ví dụ trên). Nếu Bộ luật hình sự không quy định hành vi tổ chức cho người khác phạm tội là một tội phạm độc lập thì người thực hiện hành vi đó bị xem là người tổ chức trong đồng phạm. Chẳng hạn, bà Cam là một tú bà. Một hôm có em Trinh, người dưới quê mới lên xin vô làm chỗ bà Cam. Bà Cam đã sắp xếp, cho Trinh uống thuốc mê để bán trinh của em Trinh cho ông Quang. Trong trường hợp này, ông Quang là người thực hành tội hiếp dâm, Cam bị xem là đồng phạm với vai trò tổ chức chứ không phải tội “tổ chức hiếp dâm” vì trong Bộ luật hình sự không quy định hành vi này thành một tội phạm độc lập.

170

Một phần của tài liệu Giáo trình luật hình sự việt nam (Trang 171 - 174)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(311 trang)