PHẦN II: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
BÀI 15: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
III. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT VÀ ĐỒNG PHẠM
Về mặt lý luận, tất cả những hành vi khi đã đủ các yếu tố CTTP thì bị xem là hành vi phạm tội và Toà án chỉ việc căn cứ vào điều luật cụ thể quy định về tội phạm đó, căn cứ vào những tình tiết cần thiết có liên quan đến hành vi phạm tội để quyết định hình phạt đối với tội phạm đó. Điều này thật dễ dàng. Tuy nhiên, trong thực tế, tội phạm xảy ra rất phong phú và đa dạng, có những hành vi dù chưa đủ các yếu tố CTTP nhưng đã có đủ cơ sở để CTTP tất yếu được thoả mãn nếu không có sự ngăn cản khách quan và có tính nguy hiểm nhất định cho xã hội cần thiết được xử lý nhằm mục đích phòng ngừa. Bên cạnh đó, cũng có các tội phạm dù đủ các yếu tố CTTP nhưng đó là kết quả của sự đóng góp tích cực của nhiều người và trong một số trường hợp nếu phân tích hành vi của từng người riêng biệt thì có thể không đảm bảo các yếu tố CTTP. Luật hình sự Việt Nam quy định tất cả những hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Để có được một hình phạt đúng đắn và đạt mục đích ở những trường hợp này là một việc làm không phải dễ dàng, bởi vì trong những trường hợp này chúng ta rất khó đánh giá chính xác tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do những người đó thực hiện. Nghiên cứu lý luận về vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện nhận thức và áp dụng hình phạt nhằm mang lại hiệu quả cao.
261
1. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (Điều 52 Bộ luật hình sự)
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ quyết định hình phạt nói chung, Toà án còn phải căn cứ vào những quy định tại Điều 17, 18 Bộ luật hình sự và những điều luật có liên quan đến hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Trước hết, Toà án cần căn cứ vào điều luật quy định về tội phạm tương ứng mà bị cáo định thực hiện hoặc thực hiện chưa đạt. Điều này đòi hỏi các Toà án khi xét xử phải ghi rõ vào bản án là hình phạt được áp dụng đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt về tội phạm gì cùng với việc viện dẫn Điều 17, 18 Bộ luật hình sự.
Căn cứ thứ hai mà Toà án cần phải xem xét là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được quyết định bởi những yếu tố khách quan và chủ quan nhất định. Nó có thể là khách thể, đối tượng, phương pháp thực hiện hành vi, các đặc điểm nhân thân bị cáo...
Một số tình tiết khác rất khó xác định đòi hỏi cần được đánh giá đúng đắn khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là sự quyết tâm và mức độ thực hiện ý định phạm tội. Để có sự đánh giá chính xác những tình tiết này, Toà án cần có sự nhận thức và cân nhắc trong mối quan hệ biện chứng những hành vi được biểu hiện và những nguyên nhân khách quan khiến cho tội phạm dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hoặc chưa đạt. Nếu ở hành vi chuẩn bị phạm tội thì đang ở giai đoạn nào, mới bắt đầu hay đã chuẩn bị xong, ý chí đối với việc chuẩn bị như thế nào. Đối với hành vi phạm tội chưa đạt thì xem đó là chưa đạt chưa hoàn thành hay đã hoàn thành, bởi vì chưa đạt chưa hoàn thành thì hậu quả dự kiến lớn hơn do đó tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng cao hơn. Nhìn chung, người phạm tội càng tiến gần đến mục đích (hậu quả) phạm tội thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi càng cao thể hiện sự quyết tâm và mức độ thực hiện ý định phạm tội cao độ. Do đó, trong những điều kiện tương ứng với cùng một tội phạm cụ thể, hành vi phạm tội chưa đạt bao giờ cũng nguy hiểm hơn hành vi chuẩn bị phạm tội, hành vi phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nguy hiểm hơn chưa đạt chưa hoàn thành. Hình phạt đối với chúng cũng cần phải tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của từng trường hợp cụ thể.
Về mức hình phạt cụ thể, khoản 2 Điều 52 còn quy định: “Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.
Khoản 3 quy định: “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các trường hợp này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”.
262
Chuẩn bị phạm tội
Max: chung thân, tử hình
Max: 20 năm tù Max (cb): 1/2 Max
Max: chung thân, tử hình
Max (cđ): Max
Max: 20 năm tù
Max (cđ): 20 năm tù
Max (cđ): 3/4 Max Phạm tội chưa đạt
Max(cb): 20 năm tù
Chú thích: - Max: mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội định phạm.
- Max (cb): mức hình phạt cao nhất có thể quyết định đối với hành vi chuẩn bị phạm tội.
- Max (cđ): mức hình phạt cao nhất có thể quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt.
Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 1999 là điểm sửa đổi, bổ sung của khoản 3 Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985. Xét ở khía cạnh kỹ thuật lập pháp, đây là một điểm sửa đổi, bổ sung hợp lý vì Điều 52 quy định quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cần được xếp vào chương quyết định hình phạt để dễ dàng trong việc nhận thức. Ngoài ra, Điều 52 cũng bổ sung một số quy định về mức phạt tối đa bị khống chế khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (như đã nghiên cứu). Điều này thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là có thái độ ít nghiêm khắc đối với những trường hợp này, vì dù sao trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt cũng không thể nguy hiểm bằng tội phạm hoàn thành (cùng một hành vi phạm tội). Nếu nghiên cứu Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1985, chúng ta sẽ không nhận ra điều đó.
2. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53 Bộ luật hình sự)
Đồng phạm là trường hợp hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, ngoài việc tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc của việc quyết định hình phạt, Toà án cần phải dựa vào Điều 20 Bộ luật hình sự và ghi các căn cứ đó vào bản án. Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn rằng, trong những điều kiện tương ứng, tội phạm do nhiều người thực hiện bao giờ cũng nguy hiểm hơn tội phạm do một người thực hiện, đòi hỏi Toà án phải xem xét đến tính chất của đồng phạm (đồng phạm đơn giản, phức tạp hay phạm tội có tổ chức). Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do đồng phạm quyết định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của từng người tham gia trong đồng phạm và có ảnh hưởng nhất định đến việc quyết định hình phạt đối với 263
từng cá nhân. Nghiên cứu tính chất và mức độ tham gia của từng người trong đồng phạm có vai trò rất quan trọng trong việc cá thể hoá hình phạt. Tính chất tham gia của cá nhân trong đồng phạm được quyết định bởi vai trò và chức năng của họ trong đồng phạm (người tổ chức, xúi giục, thực hành hay giúp sức). Mức độ tham gia của từng cá nhân trong đồng phạm quyết định bởi tính chất của hành vi và mức độ tích cực tham gia thực hiện hành vi phạm tội (sự tích cực, nỗ lực, quan tâm, động cơ, mục đích, phương pháp thực hiện hành vi phạm tội...). Hai đặc tính trên của từng cá nhân trong đồng phạm cho phép chúng ta tránh được sự máy móc trong khi đánh giá các căn cứ để quyết định hình phạt. Chẳng hạn, lúc nào cũng là người thực hành phải nguy hiểm hơn người xúi giục, hay người tổ chức là nguy hiểm hơn cả trong số những người đồng phạm .
Một vấn đề mà Toà án cần quan tâm khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm là các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội của từng người trong đồng phạm. Tức là, tất cả những tình tiết có ảnh hưởng đến việc giảm hoặc tăng mức hình phạt của người nào thì chỉ cân nhắc và áp dụng với người đó. Điều này thể hiện tư tưởng cá thể hoá hình phạt sâu sắc khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.