BÀI 1: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VI. PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM THỜI KỲ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954 -1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Tình hình đó đã hình thành ở nước ta “hai khu vực có chế độ chính trị và xã hội khác nhau”39. Trong lúc này, ở miền Bắc đang tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo thành hậu phương vững mạnh cho miền Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Pháp luật hình sự trong lúc này lại thực hiện nhiệm vụ lịch sử được đặt ra cho Nhà nước ta ở hai miền khác nhau.
1. Pháp luật hình sự ở miền Bắc
Ở miền Bắc, Nhà nước đã tiếp tục ban hành một số văn bản pháp luật hình sự, một mặt khẳng định việc chấm dứt áp dụng luật lệ của chế độ cũ, mặt khác hoàn thiện các quy định về tội phạm và hình phạt để có cơ sở xử lý các hành vi phạm tội, trong đó những hành vi nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản mà tình hình
39 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 21, tr.505.
37
hiện tại đặt ra. Thông tư số 19-VHH (30/6/1955) của Bộ Tư pháp đã khẳng định việc hoàn toàn xoá bỏ mọi luật lệ của chế độ cũ. Thông tư số 442/TTg (19/1/1955) của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: đối với những hành vi cướp của mà có kèm theo giết người hoặc giết người một cách cố ý, hiếp dâm thì có thể phạt đến tử hình. Tiếp theo, Thông tư 556/TTg (29/6/1955) của Thủ tướng Chính phủ xác định: “Không cẩn thận hay không theo luật đi đường…trường hợp gây ra tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể phạt tù đến chung thân hoặc tử hình”.
Để bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hoá, chống lại những âm mưu, hành động phá hoại, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, tập thể và công dân, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 267-SL (15/6/1956) đã quy định hàng loạt hành vi phạm tội bị trừng trị.
Đặc biệt, với ba Pháp lệnh ban hành vào năm 1967 và 1970, một hệ thống các tội phạm với đầy đủ tên gọi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định. Điều này trước tiên thể hiện sự tiến bộ trong lập pháp hình sự của nước ta. Mặt khác, nó thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước ta trong việc chĩa mũi nhọn trấn áp vào kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, đồng thời bảo vệ cơ sở vật chất và kỹ thuật, bảo vệ nền kinh tế kế hoạch hoá, chống mọi âm mưu và hành động phạm tội. Về các tội phản cách mạng được quy định trong Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 có thể kể đến như: Tội phản quốc (Điều 3), Tội âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân (Điều 4), Tội gián điệp (Điều 5), Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 6), Tội bạo loạn (Điều 7), Tội hoạt động phỉ (Điều 8), Tội trốn theo địch hoặc vì mục đích phản cách mạng mà trốn ra nước ngoài (Điều 9), Tội phá hoại (Điều 11), Tội chống lại hoặc phá hoại việc thực hiện các chính sách và pháp luật của Nhà nước (Điều 13). Tất cả các tội phản cách mạng trên đây đều được Pháp lệnh quy định có thể bị xử phạt tử hình. Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970 cũng đã quy định một số tội phạm, như: Tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 4), Tội cố ý huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 6), Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 7), Tội tham ô (Điều 8), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 10)…v.v... Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân cũng quy định nhiều hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu công dân.
Tóm lại, qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật hình sự của nước ta trong thời kỳ này ở miền Bắc, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Về tội phạm:
+ Chưa có văn bản pháp luật hình sự nào ghi nhận khái niệm tội phạm trong thời kỳ này.
+ Chỉ thị số 64-TH (14/1/1969) của Toà án nhân dân Tối cao quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 14 tuổi (từ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ xử khi phạm tội nghiêm trọng).
+ Khái niệm lỗi chưa được ghi nhận chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, trong các văn bản của ngành Toà án đã phân biệt bốn loại lỗi là: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp (Báo cáo tổng kết số 452-HS2 (10/8/1970) của Toà án nhân dân Tối cao), vô ý do cẩu thả, và vô ý vì quá tự tin (Bản tổng kết số 10-NCPL (8/1/1968) của Toà án nhân dân Tối cao).
+ Các văn bản bản quy phạm pháp luật hình sự chưa ghi nhận chính thức về các giai đoạn thực hiện tội phạm, nhưng các văn bản ngành Toà án có ghi nhận bốn giai đoạn thực 38
hiện tội phạm là: âm mưu phạm tội, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành.
+ Khái niệm đồng phạm đã xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các văn bản ngành Toà án (chẳng hạn, Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1963 đề cập đến “kẻ cộng phạm” và những người khác là “tổ chức”, “xúi giục”, hay “giúp sức”). Các văn bản pháp luật hình sự (như Pháp lệnh ngày 30/10/1967 về việc trừng trị các tội phản cách mạng, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân) dù không có quy định khái niệm đồng phạm nhưng nhận thức và quy định về đồng phạm có bước tiến bộ đáng kể với Sắc lệnh số 27 (18/2/1946) trong nội dung bàn về đồng phạm.
+ Về các tính tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi, các văn bản pháp luật hình sự thời kỳ này chưa có khái niệm chính thức nhưng có quy định về phòng vệ chính đáng trong những trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, phòng vệ chính đáng trong các trường hợp có dùng vũ khí trong khi thi hành công vụ (Nghị định số 301-TTg (10/7/1957) quy định chi tiết Luật số 103-SL (20/5/1957) cũng có quy định việc đảm bảo quyền tự do thân thể, trong đó cho phép người thi hành công vụ dùng vũ khí). Ngoài ra, Bản tổng kết số 452-SL (10/6/1970) của Toà án nhân dân Tối cao cũng đề cập đến việc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Về hình phạt: chưa có văn bản quy định hệ thống hình phạt trong thời kỳ này. Tuy nhiên, nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự lúc bấy giờ, chúng tôi thấy có một số loại hình phạt sau:
+ Các hình phạt chính: Tử hình, Tù chung thân, Tù có thời hạn (từ 6 tháng đến 20 năm), Cảnh cáo.
+ Các hình phạt vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt phụ: Quản chế (từ 1 đến 5 năm), Phạt tiền.
+ Các hình phạt phụ: Tước một số quyền công dân, Tịch thu tài sản, Cư trú bắt buộc và cấm cư trú (từ 1 đến 5 năm), Cấm thực hành một số nghề nghiệp nhất định hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa.
- Về quyết định hình phạt: Bản tổng kết về thảo luận báo cáo công tác ngành Toà án nhân dân năm 1959 của Toà án nhân dân Tối cao nêu rõ: “Trước hết, chúng ta cần căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hại của phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng, phạm pháp nhẹ. Chúng ta cũng cần căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, tiền án hay không...) và trường hợp tăng hoặc giảm tội...”
- Pháp luật hình sự thời kỳ này luôn theo sát tình hình để phục vụ kịp thời các yêu cầu về chính trị. Chúng ta có thể nghiên cứu các văn bản sau: Sắc lệnh số 267-SL (15/6/1956) về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước...; Thông tư số 442- TTg (19/1/1955) về trừng trị một số tội phạm, trong đó có thừa nhận án lệ;40 Thông tư số 19- VHH (30/6/1955) của Bộ Tư pháp; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng (30/10/1967);
Sắc lệnh số 133-SL (20/10/1953); Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (21/10/1970); Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân (21/10/1970).
40Bộ Công an, Những văn bản của Nhà nước về an ninh trật tự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1998, tr. 8.
39
Nhìn chung, pháp luật hình sự của nước ta trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã có những bước tiến rất rõ nét xét về kỹ thuật lập pháp. Chúng ta có thể thấy, hàng loạt các khái niệm như lỗi, các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm...được quy định, các tội phạm cụ thể (như các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, các tội phạm xâm phạm tài sản công dân...) cũng được quy định rõ ràng, chặt chẽ.
Những quy định có tính nguyên tắc trong các Pháp lệnh về trừng trị các tội phản cách mạng, trừng trị các tội tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản công dân là những cơ sở quan trọng, tạo ra tiền đề phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay.
2. Pháp luật hình sự ở miền Nam
Dù chiến tranh diễn ra ác liệt, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật hình sự như Nghị định số 2- NĐ/75 về trật tự an ninh tạo cơ sở pháp lý trừng trị bọn nguỵ quân nguỵ quyền, bảo vệ vùng giải phóng. Ngoài ra còn có Nghị quyết của Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam (6/6/1969), Chương trình 12 điểm, Chính sách 7 điểm (25/3/1975) của cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, do chiến tranh khốc liệt nên hoạt động xây dựng pháp luật nói chung cũng như xây dựng pháp luật hình sự nói riêng ở miền Nam rất hạn chế. Dù sao, các văn bản pháp luật hình sự ít nhiều đã góp phần thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn này.