KHÁI NIỆM VÊ BỆNH
4. DIỄN BIẾN VÀ KẾT THÚC OỦA BỆNH
Thông thường, người ta chia quá trình bệnh ra 4 thời kỳ. Điều này đúng với đa số bệnh, nhất là bệnh nhiễm khuẩn và bệnh mạn tính.
4.1.l ẵ Thời kv tiềm tàng
Kể từ lúc bệnh nguyên tác dụng lên cơ thể cho đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên. Nói khác, ở thời kỳ này các triệu chứng hoàn toàn chưa biểu hiện, chưa thể chẩn đoán bằng lâm sàng. Đối với các bệnh nhiễm khuẩn, đó là thời kỳ ủ bệnh.
Thời kỳ tiềm tàng có thể rất ngắn (khi ngộ độc cấp diễn, trong sốc phản vệ, mất máu đột ngột...), hoặc được coi như không có (như trong điện giật, bỏng...). Cũng có khi thời kỳ tiềm tàng rất dài, ví dụ nhiều tháng, nhiều năm {bệnh dại, bệnh hủi, bệnh AIDS...).
- Trong thời kv này cơ thể huy động các biện pháp bảo vệ và thích nghi nhằm đề kháng với tác nhân gây bệnh, do vậy bệnh khởi phát (sớm, muộn, nặng, nhẹ...) là không hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể cùng mắc một bệnh.
4.1.2. Thời kỳ khởi phát
Từ khi vài biểu hiện đầu tiên cho tới khi có đầy đủ các triệu chứng điển hình của bệnh. Dài hay ngắn khác nhau tuỳ mỗi bệnh. Nhiều bệnh có những dấu hiệu đặc trưng khiến thầy thuốc có thể chẩn đoán sớm mà không cần chờ tới lúc đầy đủ triệu chứng. V í dụ, trong bệnh sởi thì các vết Koplick hiện ra ngay ngày đầu ở mặt trong má. Ngược lại, rất khó chẩn đoán các bệnh mạn tính trong thời kỳ này.
4.1.3ế Thời kỳ toàn phát
Các triệu chứng đặc trưng của bệnh xuất hiện đầy đủ khiến khó nhầm với bệnh khác. Độ dài cũng tương đối ổn định, trừ trường hợp các bệnh mạn tính. Tuy nhiên, cũng có thể gặp những trường hợp thiếu một số triệu chứng nào đó (gọi là các thể không điển hinh của một bệnh).
4.1.4. Thời kỳ kết thúc
Bệnh có nhiều cách kết thúc, trải ra từ khỏi hoàn toàn cho đến tử vong. Các cách kết thúc chủ yếu của một bệnh là :
a) K hỏi bệnh :
Cần quan niệm rằng khi yếu tố gây bệnh tác hại lên cơ thể, lậo tức đã có sự đề kháng, tự hàn gắn và phục hồi. DÓ vậy, khỏi bệnh cũng là một quá trình, trong đó gồm sự loại trừ các yếu tố gây tổn thương (có thể có, hay không có bệnh nguyên), đồng thòi quá trình phục hồi cấu trúc và chức năng chiếm ưu thế so với quá trình tổn thương và rối loạn.
Về mức độ lành bệnh, người ta chia ra :
- Khỏi hoàn toàn : hết hẳn bệnh, cơ thể hoàn toàn phục hồi trạng thái sức khoẻ như khi chưa mắc bệnh. Nhiều cơ quan trong cơ thể có khả năng tái sinh rất mạnh (sự sinh sản tế bào máu) : đó là cơ sở để giụp cơ thể khỏi bệnh hoàn toàn. Với bệnh của con người, thì khỏi hoàn toàn được đo bằng khả năng lao động và hoà nhập xã hội. V í dụ, số lượng và chất lượng hồng cầu hoàn toàn hồi phục sau tai nạn mất máu cấp. Có ý kiến cho rằng không bao giờ cơ thể trở về trạng thái trước khi mắc bệnh mà ít nhiều có thay đổi (có lợi : tạo ra miễn dịch; hoặc có hại : suy giảm sức khoẻ và tuổi thọ mặc dù không nhận ra - trừ khi mắc liên tiếp nhiều bệnh).
- Khỏi không hoàn toàn : bệnh không hết hẳn, hoặc toàn trạng không thể trở về như khi chưa mắc bệnh; ví dụ, cánh tay bị thương yếu đi rõ rệt mặc dù vết thương đã lành hẳn, hoặc van tim đã được thay thế nhưng công suất của tim chưa thể nhu củ . Nhiều cơ quan trong cơ thẩ có khả năng hoạt động bù rất mạnh (cơ thể vẫn không biểu hiện bệnh nếu mất 3/4 gan, 1,5 quả thận, 3/5 phổi...), do vậy nhiều trường hợp khỏi không hoàn toàn bị đánh giá sai là khỏi hoàn toàn (gan xơ, mất 50% tế bào nhu
mô vẫn chưa có biểu hiện suy gan). Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp rất khó phân biệt với khỏi hoàn toàn; ví dụ : khi cắt bỏ một thận, thận thứ hai vẫn đảm bảo tốt chức năng đào thải (bệnh nhân vẫn lao động và hoà nhập xã hội tốt cho đến cuối đời).
Ngoài ra, khỏi không hoàn toàn còn gồm :
- Đ ể ỉại di chứng', bệnh đã hết, nhưng hậu quả về giải phẫu và chức năng thì vẫn còn lâu dài (sau viêm não, trí khôn sút giảm; gãy xương đã liền nhưng có di lệch, khó cử động; viêm nội tâm mạc đã hết nhưng để lại di chứng hẹp van tim; xuất huyết não đưa đến liệt một chi...). Nói chung, gọi là di chứng, nếu nó không diễn biến để tiến tới nặng thêm. Nhiều di chứng có thể khắc phục một phần hay toàn phần nhờ sự tiến bộ của y học.
- Đ ể lại trạng thái bệnh lý : diễn biến rất chậm, và đôi khi có thể xấu đi. Khó khắc phục. V í dụ, do chấn thương, bị cắt cụt một ngón tay; vết thương còn để lại sẹo lớn...
b) Chuyên sang mạn tính
Tức là giảm hẳn tốc độ tiến triển. Không kể những bệnh diễn biến mạn tính ngay từ đầu (xơ gan, vữa xơ động mạch), còn có những bệnh từ cấp tính chuyển sang mạn tính. Có thể có những thời kỳ được coi như đã khỏi, hoặc đã ngừng diễn biến, hoặc diễn biến hết sức chậm, nhưng sẽ tái phái và có thể có những đợt cấp (tiến triển nhanh hơn). Nhiều trường hợp bệnh mạn tính chưa có cách chữa, hoặc chỉ mong nó ngừng lại mà không mong nó lùi lại.
- Có bệnh không bao giờ mạn tính (sốc, mất máu lớn, tả, điện giật...);
- và có bệnh lại rất dễ chuyển sang mạn tính (viêm đại tràng, lỵ amip, lao khớp...), mà nguyên nhàn thường do: *yếu tố bệnh nguyên khó khắc phục (lao, ung thư); *cơ thể đề kháng kém; *sai lầm trong chẩn đoán (muộn) hoặc trong điều trị.
Người ta phân biệt tái phát và tái nhiễm (mắc lại) : cả hai đều là mắc lại bệnh cũ, nhưng một bên thì bệnh nguyên vẫn tồn tại trong cơ thể, nay tiếp tục gáy bệnh;
còn một bên là đã hết bệnh nguyên trong cơ thể, nay lại từ ngoài xâm nhập cơ thể.
Sốt rét có khi là tái phát, có khi là tái nhiễm.
c) Chuyển sang bệnh khác :
Viêm gan do virus sau khi khỏi vẫn có một tỷ lệ chuyển thành xơ gan; rồi từ xơ gan lại có thể chuyển thành ung thư gan. Viêm màng trong tim dẻ chuyển thành bệnh van tim, từ viêm họng có thể mắc tiếp viêm cầu thận...
4.2. KẾT THÚC CỦA BỆNH (TỬ VONG).
4.2.1. Chết
Là một cách kết thúc của bệnh, nhưng đó là một quá trình, mặc dù có khi chỉ kéo dài vài chục giây hay năm-bảy phút, cũng có khi kéo dài vài ngày - được nghiên cứu dưới cái tên là tình trạng cuối củng (của cuộc sống).
- Hiện nav, hầu hết tử vong là do bệnh, rất ít trường hợp tử vong thuần túy do già. Dù vậy, trạng thái cuối cùng vẫn tương tự nhau. Theo một tính toán, tuổi thọ con người có thể kéo dài tới 200 năm. Thực tế. đã có trường hợp sống trên 150 năm.
4.2ằ2. Các giai đoạn
Quá trình tử vong, trong trường hợp điển hình, gồm 2- 4 giai đoạn.
a) G iai đoạn tiền hấp hối
Kéo dài nhiều giờ tới vài ngày, biểu hiện bằng khó thở, hạ huyết áp (60 mm Hg), tim nhanh và rất yếu; tri giác giảm (có thể ỉú lẫn, hôn mê).
b) G iai đoạn hấp hối
Các chức năng dần dần suy giảm toàn bộ, kể cả có rối loạn (co giật, rối loạn nhịp tim, nhịp t hở. . Kéo dài 2 - 4 phút (có thể ngắn hơn hoặc dài tới 5 - 10 phút).
c) G iai đoạn chết lâm sàng
Các dấu hiệu bên ngoài (biểu hiện vể lâm sàng) của sự sống không còn nữa (thở, tim đập, co đồne tử...) do các trung tâm sinh tồn ở não ngừng hoạt động. Tuy nhiên, nhiều tế bào của cơ thể vẫn còn sống - kể cả não - thậm chí vẫn còn hoạt động chức năng. V í dụ, bạch cầu vẫn thực bào. Nhiều trường hợp chết lâm sàng vẫn còn có thê hồi phục, nhất là nếu chết đột ngột ở một cơ thể không suv kiệt. Trừ khi não đã chết hẳn.
ằ
d) G iai đoạn chết sinh học
Não chết hẳn, điện não chỉ là số không, do vậy hết khả năng hồi phục. Tuy nhiên, những tế bào quen chịu đựng thiếu oxy vân còn sống và hoạt động khá lâu (tính theo phút hoặc giờ). Cơ quan lấy ra còn có thể ghép cho cơ thể khác.
4.2ẽ3. Cấp cứu - hồi sinh
- Trường hợp có chết đột ngột ở một cơ thể không suy kiệt, ví dụ do tai nạn (thường không có giai đoạn tiền hấp hối, còn giai đoạn hấp hối rất ngắn - hoặc cũng không có) thì còn có thể hồi sinh khi đã chết lâm sàng, chủ yếu bằng hồi phục hô hấp (dùng máy hoặc thổi ngạt), và nếu tim đã ngừng cũng cần khẩn trương hồi phục (kích thích bằng máy, hay bóp ngoài lồng ngực). Trái lại, chết sau một quá trình suy kiệt (thường hấp hối kéo dài) thì không thể áp dụng các biện pháp hồi sinh.
- Não chịu được thiếu oxy trong 6 phút, do vậy, nếu tỉnh lại sau 6 phút trên lâm sàng, có thể để lại di chứng não (nhẹ hay nặng, tạm thời hay vĩnh viễn). Trường hợp đặc biệt (lạnh, mất máu cấp) não có thể chịu đựng trên 6 phút.