KHÁI NIỆM VÊ BỆNH
2. QUAN NIỆM VẾ BỆNH HIỆN NAY
2ếl ẳl. Hiểu về bệnh qua quan niệm về sức khoẻ
- WHO/OMS (1946) đưa ra định nghĩa : "Sức khoẻ là tình trạng thoải mái về tinh thần, thể chất và giao tiếp xã hội, chứ không phải chỉ là vô bệnh, vô tật". Đây là định nghĩa mang tính mục tiêu xã hội, "để phấn đấu", được chấp nhận rất rộng rãi.
- Tuy nhiên dưới góc độ y học, cần có những định nghĩa phù hợp và chặt chẽ hơn. Các nhà V học cho rằng " Sức khoẻ là tình trạng lành lặn của cơ thể về cấu trúc, chức năng, cũng như khả năng điều hoà giữ cân bằng nội môi, phù hợp và thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh".
2ệ1.2. Những yếu tô đê định nghĩa bệnh
Đa số các tác giả đều đưa vào khái niệm bệnh r.hững yếu tố sau:
+ Sự tổn thương, lệch lạc, rối loạn trong cấu trúc và chức năng (từ mức phân tử, tế bào, mô, cơ quan đến mức toàn cơ thể). Một số bệnh trước kia chưa phát hiện được tổn thương siêu vi thể, nay đã quan sát được. Một số bệnh đã được mô tả đầy đủ cơ chế phân tử - như bệnh thiếu vitamin B I.
+ Do những nguyên nhân cụ thể, có hại; đã tìm ra hay chưa tìm ra.
+ Cơ thể có quá trình phản ứng nhằm loại trừ tác nhân gây bệnh, lập lại cân bằng, sửa chữa tổn thương. Trong cơ thể bị bệnh vẫn có sự duy trì cân bằng nào đó, mặc dù nó đã lệch ra khỏi giới hạn sinh lý. Hậu quả của bệnh tuỳ thuộc vào tương quan giữa quá trình gâv rối loạn, tổn thương và quá trình phục hồi, sửa chữa;
+ Bệnh làm giám khả năng thích nghi với ngoại cánh; giảm chất lượng cuộc sốna.
+ Với người, có tác giả đề nghị thêm: bệnh làm giảm khả năng lao động và khả năng hoà nhập xã hội.
2.1.3. Mức trừ u tượng và mức cụ thê trong xác định (định nghĩa) bệnh a) Mức trừu tượng cao nhất khi xác định tông quát vê bệnh
Nó phải bao hàm được mọi biểu hiện (dù rất nhỏ) mang tính bệnh lý (như đau đớn, mất ngủ). Đồng thời, do có tính khái quát cao, nó còn mang cả tính triết học.
Vậy một biểu hiện như thế nào được xếp vào khái niệm "bệnh"?.
V í dụ. đã có định nghĩa : "Bệnh là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn về cấu trúc và chức năng, dẫn tới mất cân bằne nội môi và giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh".
Hoặc "Bệnh là sự rối loạn các hoạt động sống của cơ thể và mối tương quan với ngoại cảnh, dẫn đến giảm khả năng lao động".
"Bệnh là sự thay đổi về ỉượnơ và chất các hoạt động sống của cơ thể do tổn thương cấu trúc và rối loạn chức năng, gây ra do tác hại từ môi trường hoặc từ bên trong cơ thể ".V.V..
Định nghĩa loại này đòi hỏi phải bao hàm được mọi trường hợp bệnh lý, từ rất nhỏ tới rất iớn. Nó giúp ta phân biệt bệnh tật với khoẻ mạnh, mà đôi khi ranh giới giữa hai khái niệm đối lập này rất khó xác định.
Một thầy thuốc nổi tiếng đã nói : khó’nhất là khẳng định một ngưồi là "hoàn toàn khỏe mạnh", không có một chút bất thường nào...
Định nghĩa loại này giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao tư duy và nhận thức.
Tuy nhiên, tính thực tiễn của định nghĩa không lớn.
b) Giảm mức trừu tượng hon nữa, ngưòi ta định nghĩa bệnh như quá trình bệnh lý chung.
Đó là tình trạng bất thường gặp phổ biến (trong nhiều cơ thể bị các bệnh khác nhau), có tính chất tương tự nhau, không phụ thuộc nguyên nhân, vị trí tổn thương, loài, và cùng tuân một qui luật.
V í dụ : quá trình viêm. Tương tự, ta có: sốt, u, rối loạn chuyển hoá... Trong giáo trình Sinh Lý Bệnh, chúng được xếp vào phần Các quá trình bệnh lý điển hình.
Định nghĩa loại này bắt đầu có ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng, đồng thời vẫn giúp ta khái quát hoá về bệnh.
c) Tăng mức cụ thê hon nữa, kh i ta cần xác định loại bệnh Nói khác, đó là quan niệm
(nosological unit). Ví dụ, khi ta nói
coi mỗi bệnh như một "đơn vị phân loại"
: bệnh viêm phổi (không phải viêm nói chung), bệnh sốt thương hàn (không phải sốt nói chung), bệnh ung thư da (mà không phải ouá trình u nói chung)...
M ột trong những định nghĩa "thế nào là một bệnh" hiện nay đang lưu hành là:
"bệnh là bất kỳ sự sai lệnh hoặc tổn thương nào về cấu trúc và chức năng của bất kỳ bộ phận, cơ quan, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng một bộ triệu chứng đặc trưns giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều khỉ ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh lý học và tiên lượng" (Từ điển y học D orlands 2000).
Định nghĩa ở mức này rất có ích trong thực tiễn : để phân lập một bệnh, và để đề ra tiêu chuẩn chẩn đoán nó. Tìm cách chữa và xác định th ế nào là khòi bệnh và mức độ khỏi.
Hiện nay, y học thống kê được trên 1000 bệnh khác nhau ở người và gần đây phát hiện thêm những bệnh mới (bệnh Lym e, bệnh AIDS, bệnh A lzheim er ...)•• Cố nhiên ngoài định nghĩa chung "thế nào là một bệnh", mỗi bệnh cụ thể còn có một định nghĩa riêng của nó để không thể nhầm lẫn với bất kỳ bệnh nào khác. Chẳng hạn, định nghĩa viêm phổi, lỵ, hen, sởi...
d) Cụ thê nhát là xác định bệnh ở mỗi bệnh nhân cụ thể.
Dù một bệnh nào đó đã có định nghĩa chung, ví dụ bệnh viêm phổi; nhưng viêm phổi ở bệnh nhân A không giống ở bệnh nhân B.
Loại định nghĩa này rất có ích trong tác nghiệp hàng ngày. Nó giúp thầy thuốc cKú V đến đặc điểm của từng người riêng biệt.
Dưới đâv là sơ đồ tóm tắt
3. VÀI KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN
3.1. YỂU TỐ XÃ HỘI VÀ BỆNH ở NGƯỜI Bệnh của người
Có những bệnh và nguyên nhân gây bệnh riêng cho người mà động vật ít mắc hoặc ít chịu ảnh hưởng; thậm chí không mắc :
- Bệnh do thav đổi môi trường sinh thái;
- Bệnh do nghề nghiệp;
- Bệnh do rối loạn hoạt động tâm thần;
- Bệnh phản vệ.
Thay đổi cơ cấu và tính chất bệnh do sự tiến bộ xã hội
- Xã hội lạc hậu: đặc trưng bằng các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng, xơ gan, ung thư gan...
- Xã hội công nghiệp : nổi bật là chấn thương, tai nạn lao động và giao thông, béo phì, tim mạch, ung thư, bệnh tuổi già...
- Xưa, sốt rét rất phổ biến ở vùng Địa Trung Hải, nay hầu như không còn nữa.
- Tính chất bệnh lao ngày nay khác nhiều vói lao được mô tả trước đây 30 năm.
3.2. XẾP LOẠI BỆNH
Có nhiều cách, mỗi cách đều mang những lợi ích nhất định (về nhận thức và về thực hành). Do vậy, chúng tồn tại mà không phủ định nhau.
Trên thực tế, người ta đã phân loại bệnh theo:
- Cơ quan mắc bệnh: bệnh tim, bệnh phổi, bệnh gan... M ỗi bệnh loại này đã có riêng một chuyên khoa nghiên cứu và điều trị.
- Nguyên nhân gây bệnh', bệnh nhiễm khuẩn, bệnh nghề nghiệp...
- Tuổi và giới: bệnh sản phụ, bệnh nhi, bệnh lão khoa...
- Sinh thái, ẩịa d ư : bệnh xứ lạnh, bệnh nhiệt đới...
- Bệnh sinh: bệnh dị ứng, bệnl\tự miễn, sốc, bệnh có viêm...
3.3. CÁC THỜI KỲ CỦA MỘT BỆNH.
Điển hình, một bệnh cụ thể gồm 4 thời kỳ, mặc dù nhiều khi có thể thiếu một thời kỳ nào đó.
- Thời kỳ ủ bệnh (tiềm tàng): không có biểu hiện lâm sàng nào nhưng ngày nay bằng các biện pháp hiện đại, nhiều bệnh đã được chẩn đoán ngay từ thời kỳ này.
Nhiều bệnh quá cấp tính do các tác nhân quá mạnh, có thể không có thời kỳ này (chết do bỏng, giật điện, mất máu quá lớn...).
- Thời kỳ khởi phát: xuất hiện một số triệu chứng đầu tiên (khó chẩn đoán chính xác). Xét nghiệm có vai trò rất lớn.
- Thời kỳ toàn phát: triệu chứng đầy đủ và điển hìr.h nhất. Tuy nhiên vẫn có những thể không điển hình.
- Thời kỳ kết thúc: Có thể khác nhau tuỳ bệnh, tuỳ cá thể: khỏi, chết, di chứng, trở thành mạn tính...(xem bài Bệnh sinh).
Tuy nhiên, nhiều bệnh, hoặc nhiều thể bệnh có thể thiếu một hay hai thời kỳ nào đó. V í dụ, bỏng toàn thân, hoặc điện giật không có thời kỳ ủ bệnh.
3.4. QUÁ TRÌNH BỆNH LÝ VÀ TRẠNG THÁI BỆNH LÝ 3.4.1 Quá trìn h bệnh lý
Một tập hợp các phản ứng tại chỗ và toàn thân trước tác nhân gây bệnh, diễn biến theo thời gian, dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tương quan giữa yếu tố gây bệnh và đặc tính đề kháng của cơ thể.
Quá trình bệnh lý có thể vẫn diễn biến khi nguyên nhân đã ngừng tác dụng. V í dụ: trong bỏng, tác nhân gây bệnh - là nhiệt độ cao - chỉ tác dụng trong vài phút, nhưng quá trình bệnh lý ở người bị bỏng diễn ra hàng tháng. Viêm, sốt, dị ứng, mất máu, u... đều có quá trình bệnh lý đặc trưng của chúng.
3.4.2. Trạng thái bệnh lý
Cũng là quá trình bệnh lý, nhưng diễn biến hết sức chậm chạp (năm, thập kỷ), có khi được coi như không diễn biến. Một cánh tay bị liệt vĩnh viễn là một quá trình bệnh lý, vì các cơ teo dần theo thời gian. Nhưng khi nó đã teo tối đa : có thể được coi là trạng thái bệnh lý. Khi một sẹo đã hình thành đầy đủ ,ế cũng được coi là trạng thái bệnh lý.
- Trong đa số trường hợp trạng thái bệnh lý là hậu quả của quá trình bệnh lý (vết thương đưa đến sẹo, loét dạ dầy đưa đến hẹp m ôn vị, chấn thương đưa đến cụt chi...).
- Đôi khi, trạng thái bệnh iý chuyển thành quá trình bệnh lý (vết loét mạn tính ở dạ dầy chuyển thành ung thư).
- Cũng có khi, có quá trình bệnh lý hoặc có trạng thái bệnh lý nhưng không kèm theo bệnh (trừ khi chúng mạnh lên, hoặc cơ thể yếu đi), V í dụ, viêm nang lông chỉ là quá trình bệnh lý, nhưng sẽ là bệnh nếu phát triển thành nhọt.