RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ LIPID
2. RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ LIPID
2.6. MỠ HOÁ GAN (XEM THÊM BÀI SLB CHỨC NĂNG GAN)
Đó là tình trạng tế bào gan bị tích đọng một lượng lipid lớn và kéo dài, ảnh hưởng xấu tới chức năng chung của gan.
Gan là cơ quan đứng hàng đầu cơ thể trong việc tổng hợp và oxy hoá lipid (gồm các acid béo, glycerid, phospholipid, cholesterol, các lipo-protein, thể ceton...).
Lipid ăn vào hoặc điều động từ mô mỡ, hoặc tân tạo từ glucid... đều có mặt ở tế bào gan và được đưa ra ngoài (đến nơi sử dụng) dưới dạng lipo-protein hoặc thể cetonic.
Mất cân bằng giữa lượng lipid vào tế bào gan và lượng lipid điều đi khỏi gan thì mỡ sẽ tích lại trong tế bào gan. Tùy mức độ, người ta chia ra : thâm nhiễm mỡ (infiltration) : tạm thời, có thể phục hồi hoàn toàn; và thoái hoá mỡ (degeneration):
khi cấu trúc và chức năng tế bào gan đã thay đổi, xu hướng tiến tới xơ gan.
Mất cân bằng điều hoà lượng mỡ đến và đi ở gan gặp trong:
- Tăng kéo dài acid béo trong máu, gan tạo nhiều triglycerid và tích lại vì không kịp tạo ra LP: gặp khi ăn quá nhiều mỡ, rối loạn chuyển hoá glucid.
- Thiếu apoprotein khiến không tạo được LP, làm lipid không được vận chuyển đi. Nguyên nhân và cơ chế : suy gan, hoặc chế độ ăn thiếu các chất có tính chất
“ hướng mỡ” (thực chất là các chất cần thiết để gan sản xuất apo-protein) như methionin, cholin, lipocain...
Vai trò di truyền trong béo phì
Thành động mạch có nhiều lớp, lớp chun giúp động mạch có tính đàn hồi (để điều hoà áp lực và lưu lượns máu), lớp cơ giúp động mạch thu hẹp đường kính (khi cần nâng huyết áp), lớp vỏ xơ củng cố sự bền vững, còn lớp nội mạc trơn nhẫn có vai trò bảo vệ và chống đông máu tự phát. X ơ vữa động mạch là sự tích đọng cholesterol dưới lớp áo trong (intima) của động mạch, làm thành mạch dầy lên (thu hẹp lòng mạch); tiếp đó là sự lắng đọng calci đưa đến thoái hoá, loét, sùi do thiếu nuôi dưỡng (vữa) và làm mô xơ phát triển tại chỗ; sự loét và sùi khiến nội mạc mất sự trơn nhẵn, tạo điều kiện cho tiểu cầu bám vào và khởi động quá trình đông máu (gây tắc mạch).
X ơ vữa là bệnh của các mạch tương đối lớn (nhiều lớp áo), khác với cao huyết áp là bệnh của hệ thống động mạch tận với sự phong phú của các thụ thể tiếp nhận chất co mạch. Tuy nhiên, hai bệnh này có thể tạo thuận cho nhau.
L D L có vai trò bệnh sinh quan trọng nhất trong xơ vữa động mạch : đó là dạng để gan đưa cholesterol tới các tế bào sử dụng; trong khi đó H D L có vai trò mang cholesterol từ các mô trả về san. Người Việt Nam bình thường từ 18-55 tuổi có hàm lượng HDL-cholesterol khoảng 1,33; còn LDL-cholesterol khoảng 2,50 mmol/l.
HDL-choIesteroI: trong thành phần chứa 50% protid, 50% lipid (phospholipid và cholesterol), giúp vận chuyển cholesterol từ tổ chức đến tế bào gan. H D L thuộc a- lipo-protein, có tác dụng bảo vệ thành mạch. Do vậy, lượng H D L thấp thì khả năng bị xơ vữa động mạch nhiều hơn. Nhiều tác giả cho rằng H D L là cơ chất tự nhiên của lecithin-cholesterol-acyl-transferase (LCAT). H D L và LC AT chuyển cholesterol từ tổ chức đến gan để tạo acid mật. Acid béo không ồão hoà có tác dụng làm tăng HDL.
LDL-cholesteroI: trong thành phần chỉ có 25% protid, còn 75% là lipid (chủ yếu là phospholipid và cholesterol, rất ít triglycerid). L D L thuộc p-lipo-protein. LD L vận chuyển cholesterol từ máu đến các mô, do vậy thường gây lắng đọng ở thành mạch. Acid béo bão hoà có tác dụng làm tăng LDL.
Trên bề mặt mọi tế bào, đặc biệt là tế bào gan, có các thụ thể đặc hiệu tiếp nhận các apoprotein của LD L, tức là tiếp nhận phức hợp LDL-cholesterol để đưa vào trong tế bào. Trong tế bào, cholesterol sẽ được tách ra để cung cấp vật liệu tạo hình (các màng và bào quan) hoặc tạo acid mật và nội tiết tố steroid (nếu đó là tế bào gan, tuyến thượng then, sinh dục). Nếu thừa, cholesterol sẽ bị thoái hoá và tế bào không tiếp nhận thêm nữa (do LD L đưa tới).
- X ơ vữa có thể do :
(1) Hoặc tế bào thiếu thụ thể : đa số là bẩm sinh, do một (số) gen chi phối; đưa đến xơ vữa rất sớm, nhất là ở cơ thể đồng hợp tử. Một số yếu tố nguy cơ của xơ vữa cũng tác động theo cơ chế này: gây giảm tổng hợp thụ thể (tăng tỷ lệ mắc bệnh và làm bệnh tiến triển nhanh).
(2) Do xuất hiện quá nhiều cholesterol trong máu; hậu quả chung : tăng LD L- máu, vượt khả năng bắt giữ của thụ thể và sự tiêu thụ của các tế bào. Nếu sự giáng hoá và đào thải cholesterol (qua mật) không đạt yêu cầu thì quá trình xơ vữa sẽ hình thành và phát triển.
2.7. X ơ VỮA ĐỘNG MẠCH
* Nguyên nhân tăng LD L, giảm HDL:
- Giảm protid máu.
- Không có thụ thể tiếp nhận LDL-cholesterol: bệnh có tính di truyền, nếu là đồng hợp tử thì bệnh xuất hiện khi còn trẻ (10 tuổi) và nặng, nếu là dị hợp tử thì bệnh nhẹ hơn, kéo dài hơn (20 tuổi).
Giảm lipo-protein lipase di truyền.
Ăn nhiều mỡ động vật, thức ăn giàu cholesterol.
Vai trò acid nicotinic trong giảm cholesterol huyết ỉ . Làm giám NEFA từ mô mỡ tới gan
2. Giảm sản xuất cholesterol từ NEFA ở gan 3. Giảm sản xuất V LD L do vậy giảm cả L D L 4. Tăng sán xuất H D L
* Điều kiện thuận lợi giúp cholesterol tàng mức láng đọng: Đây chính là các yếu tố nguy cơ : gồm thiếu vitamin c, giảm sút hệ enzym heparin-lipase (ở người cao tuổi), lipid máu tăng cao kéo dài, cao huyết áp, có tổn thương ở vách mạch;
nghiện thuốc lá, rượu; ít vận động thể lực...
* Hậu quả : Tùy vị trí và phạm vi xơ vữa. Nặng nhất là xơ vữa động mạch vành và động mạch não (nguyên nhân tử vong chủ yếu của thế kỷ này), biến chứng
nghiêm trọng nhất là tắc mạch và vỡ mạch.
M ô m ỡ
H D L ( T ) -