ĐẠI CƯƠNG VÊ BỆNH NGUYÊN HỌC
3. XẾP LŨẠI BỆNH NGUYÊN
3.1. NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI
Chủ yếu gây chấn thương cho mô, cơ quan ...
Hậu quả : Tại chỗ : tổn thương, mất máu, nhiễm khuẩn thứ phát...
Toàn thân : sốc 2.4. S ự PHẢN ỨNG CỦA c ơ THỂ
3.1.2ế Yếu tô vật lý - Nhiệt độ :
+ Nếu quá 50° c có thể gây biến tính các protein (enzym) trong tế bào, ảnh hưởng xấu tới chức năng hoặc gây chết tế bào.
+ Nếu quá cao : gây viêm, bỏng hoặc cháy (tại chỗ);
+ Nếu đủ cao và tác dụng lên toàn thân : gây nhiễm nóng;
+ Quá lạnh : gây tê cóng, hoại tử (tại chỗ) hoặc gây nhiễm lạnh (khi tác động lên toàn thân).
- Tia xạ:
+ Gây huỷ các enz ym tế bào; tác hại tương tự nhiệt độ trên 50° c
+ Nhưng chủ yếu là tác hại lên ADN, nhất là khi tế bào đang phân chia (như tế bào non ở tuỷ xương). Cơ chế : tia xạ với năng lượng mang theo của chúng tạo ra các sản phẩm ion hoá và các gốc tự do, gây rối loạn chuyển hoá cho tế bào, kể cả gây chết.
-D òng điện:
‘ Tùy thuộc vào diên tiếp xúc (rộng hay hẹp) và điện trở (thấp hay cao). ' + Tuỳ thuộc vào điện áp : càng cao càng nguy hiểm (từ 220 V trở lên) + Tuỳ thuộc vào: dòng một chiều : tác dụng rất nhanh;
dòng xoay chiều : tần số 25-50 rất nguy hiểm.
+ Có thể gây bệnh tại chỗ (bỏng) hay toàn thân.
+ Tuỳ thuộc cơ quan (nếu qua tim, não: nguy hiểm; qua cơ : co cứng) + Tuỳ thuộc khả năng điện ly của các dịch trong cơ thể.
- Áp suất
+ Nếu áp suất khí quyển quá cao : có thể gây tổn thương tại chỗ (tiếng nổ lớn gây thủng màng nhĩ) hoặc toàn thân (sức ép do bom nổ có thể gây tổn thương nội tạng : choáng, chảy máu niêm mạc, hoặc chết).
+ Nếu áp lực khí quyển đột ngột giảm quá thấp : tai biến tắc mạch. Cơ chế : khí nitơ vốn ở dạng hoà tan trong máu sẽ bốc thành hơi, tạo ra bọt khí. V í dụ, trong bệnh
"thùng lặn": công nhân làm việc ở áp lực rất cao (để đuổi nước ra khỏi thùng lặn);
khi lên gần mặt nước nếu áp lực này không được nới từ từ, mà quá nhanh, sẽ gây tai biến tắc mạch). Cũng tương tự, khi thợ lặn (thở bằng bình oxy) ngoi lên mặt nước quá nhanh.
+ Khi lên cao : không khí quá loãng gây thiếu oxy cho cơ thể và các triệu chứng đặc trưng khác, như thở chậm, lú lẫn... (xem bài sinh lý bệnh Hô hấp).
- Tiếng ồn
+ Nếu tác động lâu dài có thể gây điếc; ví dụ, bệnh điếc nghề nghiệp.
+ Nếu là tiếng ồn "có nội dung" (như sự thô tục, khiêu khích, phi lý...) có thể tác động lên vỏ não gây stress, suy nhược thần kinh, mệt mỏi, cao huyết áp...
3.1.2. Yếu tô hoá học và độc chất
Tuỳ bản chất hoá học và liều lượng, rất nhiều hoá chất có thể gâv bệnh tại chỗ (nơi tiếp xúc) hay toàn thân (khi xâm nhập cơ thể) với các cơ chế rất khác nhau.
- Hai cách tác động chủ yếu là gây tổn thương, phá huỷ (hoại tử, tan huyết...), hoặc gây rối loạn chuyển hoá, suy giảm hay kích thích quá mức chức năng cơ quan (ngộ độc, suy thận, suy gan, hôn mê, co giật, ảo giác...).
- Các acid mạnh, kiềm mạnh và một số chất khác có thể gây bỏng, cháy, hoại tử da và niêm mạc khi tiếp xúc.
- Nhiều chất có tác dụng huỷ enzym trong tế bào, hoặc gây ngộ độc toàn thân do làm rối loạn chuyển hoá (với các cơ quan đích khác nhau, nhất là các cơ quan tích luỹ và đào thải chúng : gan, thận), với mọi mức độ hậu quả.
- Danh mục của chúng rất d à i:
- chất vô cơ (chì, hợp chất thuỷ ngân, arsenic...);
- các chất hữu cơ (benzen, cura, phenylhydrazin, một số dược chất nếu quá liều lượng...);
- một số sản phẩm của động vật hay thực vật (nọc rắn, nọc bò cạp, độc chất trong mật cá trắm, gan cóc, trong một số nấm độc...)-
3.1ế3. Yếu tô sinh học
Nhiều sinh vật - động vật và thực vật - có thể gày bệnh hoặc truyền bệnh cho người. Hàng đầu là :
- Vi khuẩn, Virus : gồm mấy trăm loại khác nhau, được xếp vào giới thực vật, gây bệnh trong quá trình ký sinh ở cơ thể vật chủ. Gần đây vẫn tiếp tục phát hiện các loại vi khuẩn và virus mới (gây bệnh Lyme, Alzheimer, AIDS...). Chúng là nguyên nhân gây bệnh nổi bật trong xã hội còn lạc hậu hay còn kém phát triển, mức sống còn thấp kém. Có loại luôn luôn có hại, cũng có loại chỉ có hại khi gặp những điều kiện thích hợp.
- K ý sinh v ậ t: Có loại sinh sống lâu dài trong (hoặc trên bề mặt) cơ thể vật chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng và gây bệnh tại nơi ký sinh (giun đũa, sán xơ mít, sán lá gan, amip, ghẻ, chấy, ve...); có loại gây bệnh với triệu chứng toàn thân (trypanosom, leismania, plasmodium...). Có loại sống ngoài cơ thể, có thể trực tiếp gây bệnh (mẩn ngứa, phù) hoặc đóng vai trò trung gian truyền bệnh (muỗi, ve...).
Sẽ được học chi tiết hơn ở môn học V i Sinh và K ý Sinh.
3.1.4ẻ Yếu tô xã hội và bệnh nguyên
- Bệnh của người. Người và động vật có thể mắc chung nhiều bệnh nhưng con người còn mắc một số bệnh mà không (hoặc rất hiếm) gặp ở giới động vật.
Có ba loại :
1- Loại liên quan đặc điểm sinh học và thể tạng của riêng con người, ví dụ bệnh loét dạ dày; dị ứng, cao huyết áp... rất ít hoặc không gặp ở động vật. Rất khi) gây thực nghiệm ở động vật.
2- Loại liên quan tới vai trò hoạt động thần kinh cao cấp, ví dụ bệnh tâm thần;
bệnh suy nhược thần kinh, bệnh do stress, do lo lắng, bệnh sợ khoảng rộng, sợ khoảng kín, bệnh tưởng... Nguyên nhân gây bệnh có khi phi vật chất (tâm lý, hoang tưởng).
3- Loại liên quan với yếu tố xã hội, ví dụ bệnh điếc do tiếng ồn, bệnh nghề nghiệp, bệnh do thuốc, do nhiễm xạ,...
- Yếu tố xã hôi với vai trò điều kiện gây bệnh.
Trong nhóm 3, nguyên nhân trực tiếp gây bệnh trong đa số trường hợp vẫn chỉ là các tác nhân quen thuộc (như tiếng ồn, hoá chất, tia xạ...) nhưng chúng chỉ gây được bệnh trong bối cảnh xã hội. Nói khác, một số yếu tố xã hội là điều kiện thuận lợ i của các nguyên nhàn trên. Chẳng hạn :
- Có bệnh liên quan với trình độ vật chất của xã hội : do sự phát triển cao của xã hội mà có (tai nạn máy bay, bệnh phản vệ, bệnh do thuốc, bệnh nghề nghiệp...)-
- Có bệnh liên quan với trình độ tổ chức của xã hội : làm thay đổi cơ cấu bệnh tật (một số bệnh dễ hoặc khó phát triển). Xã hội lạc hậu : cơ cấu bệnh chủ yếu gồm nhiễm khuẩn, kv sinh vật, suy dinh dưỡng... Xã hội công nghiệp-, chấn thương, tai nạn, tiếng ồn, tim mạch, ung thư.
- Có bệnh liên quan với tâm lý xã hội, ví dụ các bệnh do hoang tưởng, do tự ám thị, do mê tín...
3.2.1. Yếu tố di truyền
Được coi là nguyên nhân bên trong của một số bệnh, vì bệnh nhân mang sẵn trong nhân tế bào các gen bệnh do cha mẹ truyền cho. Có những họ tộc mang bệnh di truyền qua nhiều thê' hệ liên tiếp. Tuy nhiên, phải ứa lời câu hỏi : gen bệnh của cá thể đầu tiên do gì gây ra. Từ lâu đã có nhận xét: nhiều bệnh về gen sinh bệnh rất trầm trọng (về nguyên tắc, là có thể di truyền), nhưng do rối loạn quá nặng khiến cá thể không thể sống đến tuổi trưởng thành (có khả năng sinh sản) nhưng những cá thể mang gen bệnh vẫn tiếp tục xuất hiện khiến tỷ lệ bệnh nhân trong quần thể rất hằng định.
Đến nay, đã xác định được nhiều nguyên nhân bên ngoài (tia, hoá chất, độc tố vi khuẩn, thiếu oxy...) tác động lên nhân tế bào, gây ra những rối loạn cấu trúc ở nhiều mức độ. Nếu thời điểm tác động là giai đoạn phát triển tương đối sớm của bào thai thì sẽ gáy những khuyết tật và bệnh lý bẩm sinh, nhiều trường hợp có khả năng di truyền. Đây là giai đoạn thai đang phát triển, sự phân bào diễn ra mạnh mẽ, nhiều tế bào đang ở trạng thái phân chia (ADN đang nhân đôi) nên rất nhạy cảm với tác nhân gây bệnh.
- Đến nay hầu hết các bệnh di truyền đã đứợc làm sáng tỏ về cơ chế sinh bệnh, kể cả ở mức phân tử. Một số bệnh di truyền đã có cách điều trị theo cơ chế bệnh sinh, một số ít hơn đã có cách điều trị bằng ghép gen. Nhưng nguyên nhân của từng trường hợp mới thì nhiều khi không tìm ra được.
*ế - Một số chứng và bệnh di truyên xuất hiện hay không, nặng hay nhẹ còn tuỳ điều kiện. V í dụ, chứng tàn nhang chỉ xuất hiện nếu da bị ánh sáng mặt trời chiếu đủ liều lượng. Có một chứng tan huyết do thiếu enzym Glucose-Ó- Phosphat- Dehydrogenase (G6PD) ở màng hồng cầu chỉ xuất hiện khi dùng một số thuốc (chữa sốt rét, PAS, sulfamid...).
3.2.2. Các khuyết tật bẩm sinh
- Có thể di truyền, có thể không (thừa ngón, móng chi hình vuốt, sứt môi, hở khẩu cái...)
- Do vậy, có thể do nguyên nhân "bên trong" hay bên ngoài.
3.2.3. Thê tạng (diathesis)
- Được nói tới từ thời y học cổ truyền. Y học hiện đại cho rằng tạng là có thật, nhưng khái niệm về tạng còn mâu thuẫn, nhất là quan niệm về các loại tạng cụ thể và sự phán loại chúng.