DIỄN BIẾN VÀ KẾT THÚC CỦA BỆNH NÓI CHUNG

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 54 - 58)

DẠI CƯƠNG VÊ BỆNH SINH HỌC

5. DIỄN BIẾN VÀ KẾT THÚC CỦA BỆNH NÓI CHUNG

5.1. CÁC THỜI KỲ CỦA MỘT BỆNH

Thông thường, người ta chia quá trình bệnhh sinh ra 4 thời kỳ. Điều này đúng với đa số bệnh, nhất là bệnh nhiễm khuẩn và bệnh m ạn tính.

a) T hòi kỳ tiềm tàng

Kể từ lúc bệnh nguyên tác dụng lên cơ thể cho đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên. Nói cách khác, ở thời kỳ này các triệu chứng hoàn toàn chưa biểu hiện, chưa thể chẩn đoán bằng lâm sàng. Đối với các bệnh nhiễm khuẩn, đó là thời kỳ ủ bệnh.

Thời kỳ tiềm tàng có thể rất ngắn (khi ngộ độc cấp diễn, trong sốc phản vệ, mất máu đột ngột...), hoặc được coi như không có (như trong điện giật, bỏng...). Cũng có khi thời kỳ tiềm tàng rất dài, ví dụ nhiều tháng, nhiều năm (bệnh dại. bệnh hủi, bệnh AIDS...).

- Trong thời kỳ này cơ thể huy động các biện pháp bảo vệ và thích nghi nhằm đề kháng với tác nhân gây bệnh, do vậy bệnh khởi phát (sớm, muộn, nặng, nhẹ...) là không hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể cùng mắc một bệnh.

b) T hời kỳ kh ở i phát

Từ khi vài biểu hiện đầu tiên cho tới khi có đầy đủ các triệu chứng điển hình của bệnh. Dài hay ngắn khác nhau tuỳ mỗi bệnh. Nhiều bệnh có những dấu hiệu đặc trưng khiến thầy thuốc có thể chẩn đoán sớm mà không cần chờ tới lúc đầy đủ triệu chứng. V í dụ, trong bệnh sởi thì các vết Koplick hiện ra ngay ngày đầu ở mặt trong má. Ngược lại, rất khó chẩn đoán các bệnh mạn tính trong thời kỳ này.

c) T h ò i kỳ toàn phát

Gác triệu chứng đặc trưng của bệnh xuất hiện đầy đủ khiến khó nhầm với bệnh khác. Độ dài cũng tương đối ổn định, trừ trường hợp các bệnh mạn tính. Tuy nhiên, cũng có thể gặp những trường hợp thiếu một số triệu chứng nào đó (gọi là các thể không điển hình của một bệnh).

d) T h ờ i kỳ kết thúc

Bệnh có nhiều cách kết thúc, trải ra từ khỏi hoàn toàn cho đến tử vong. Các cách kết thúc chủ yếu của một bệnh là :

- Khỏi bệnh

Cần quan niệm rằng khi yếu tố gây bệnh tác hại lên cơ thể, lập tức đã có sự đề kháng, tự hàn gắn và phục hồi. Do vậy, khỏi bệnh cũng là một quá trình, trong đó gồm sự loại trừ các yếu tố gây tổn thương (có thể có, hay không có bệnh nguyên), đồng thời quá trình phục hồi cấu trúc và chức năng chiếm ưu thế so với quá trình tổn thương và rối loạn. Về mức độ lành bệnh, người ta chia ra :

+ Khỏi hoàn toàn :

Hết hẳn bệnh, cơ thể hoàn toàn pnục hồi trạng thái sức khoẻ như khi chưa mắc bệnh. Nhiều cơ quan trong cơ thể có khả năng tái sinh rất mạnh (sự sinh sản tế bào máu) đó là cơ sở để giúp cơ thể khỏi bệnh hoàn ĩoàn. Với bệnh của con người, thì khỏi hoàn toàn được đo bằng khả năns lao động và hoà nhập xã hội. V í dụ, số lượng và chất lượng hồng cầu hoàn toàn hồi phục sau tai nạn mất máu cấp. Có ý kiến cho rằng không bao giờ cơ thể trở về trạng thái trước khi mắc bệnh mà ít nhiều có thay đổi (có lợi : tạo ra miễn dịch; hoặc có hại : suy giảm sức khcẻ và tuổi thọ mặc dù không nhận ra - trừ khi mắc liên tiếp nhiều bệnh).

+ K hỏi không hoàn toàn

Bệnh không hết hẳn, hoặc toàn trạng không thể trở về như khi chưa mắc bệnh;

ví dụ, cánh tay bị thương yếu đi rõ rệt mặc dù vết thương đã lành hẳn, hoặc van tim đã dược thay thế nhưng công suất của tim chưa thể như cũ . Nhiều cơ quan trcng cơ thể có khả năng hoạt động bù rất mạnh (cơ thể vãn không biểu hiện bệnh nếu mất 3/4 gan, 1,5 quả thận, 3/5 phổi...), do vậy nhiều trường hợp khỏi không hoàn toàn bị đánh giá sai là khỏi hoàn toàn (gan xơ, mất 50% tế bào nhu mô vẫn chưa có biểu hiện suy gan). Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp rất khó phân biệt với khỏi hoàn toàn; ví dụ: khi cất bỏ một thận, thận thứ hai vẫn đảm bảo tốt chức năng đào thải (bệnh nhân vẫn lao động và hoà nhập xã hội tốt cho đến cuối đời).

Ngoài ra, khỏi không hoàn toàn còn gồm :

* Đ ể lạ i d i chứng: bệnh đã hết nhưng hậu quả về giải phẫu và chức năng th: vẫn còn láu dài (sau viêm não, trí khôn sút giảm; gãy xương đã liền nhưng có di lệch, khó cử động; viêm nội tâm mạc đã hết nhưng để lại di chứng hẹp van tim; xuất huyết não đưa đến liệt một chi...). Nói chung, gọi là di chứng nếu nó không diễn biến để tiến tới nặng thêm. Nhiều di chứnẹ có thể khắc phục m ột phần hay toàn phần nhờ sự tiến bộ của y học.

Đ ể lạ i trạng thái bệnh lý : diễn biến rất chậm, và đôi khi có thể xấu đi. Khó khắc phục. V í dụ, do chấn thương, bị cắt cụt một ngón tay; vết thương còn để lại sẹo lớn...

- Chuyển sang mạn tính .ể

Tức là giảm hẳn tốc độ diễn biến. Có bệnh diễn biến mạn tính ngav từ dầu (xơ gan, vữa xơ động mạch), nhưng cũng có những bệnh từ cấp tính chuyển sang mạn tính. Có thể có những thời kv được coi như đã khỏi, hoặc đã ngừng diễn biến, hoặc diễn biến hết sức chậm, nhưng sẽ tái phát và có thể có những đợt cấp (tiến triển nhanh hơn). Nhiều trường hợp bệnh mạn tính chưa có cách chữa, hoặc chỉ m oní nó ngừng lại m à không m ong nó lùi lại.

+ Có bệnh không bao giờ mạn tính (sốc, ung thư gan, điện giật...)

+ Có bệnh lại rất dễ chuyén sang mạn tính (viêm đại tràng, lỵ amip, lao khớp...). Nguyên nhân : yếu tố bệnh nguyên khó khắc phục; đề kháng kém; sai lầm trong chẩn đoán (m uộn) hoặc trong đi ầu trị.

Người ta phân biệt tái pháttái nhiễm (mắc lại) đều là mắc lại bệnh cũ nhưng một bên thì bệnh nguyên vẫn tồn tại trong cơ thể, nay tiếp tục gây bệnh còn m ột bên là đã hết bệnh nguyên trong cơ thể, nay lại từ ngoài xâm nhập cơ thể. Sốt rét có khi là tái phát, có khi là tái nhiễm.

- Chuyên sang bệnh khác :

Viêm gan do virus sau khi khỏi vẫn có một tỷ lệ cao chuyển thành xơ gan; rồi từ xơ gan lại có thể chuyển thành ung thư gan. Viêm màng trong tim dễ chuyển thành bệnh van tim, từ viêm họng có thể mắc tiếp viêm cầu thận...

5.2. TỬ VONG

Chết là một cách kết thúc của bệnh, nhưng là một quá trình, mặc dù chỉ kéo dài vài chục giây tới mười phút - được nghiên cún dưới cái tên là tình trạng cuối cùng của cuộc sống. Đến nay, tuyệt đa số nhân loại đều chết bệnh mà không phải chết già. Dẫu vậy, trạng thái cuối cùng cũng tương tự nhau.

- H iện nay, hầu hết tử vong là do bện/ề', rất ít trường hợp tử vong thuần tuý do già. Theo một tính toán tuổi thọ con người có thể tới 200 năm. Thực tế, có đã trường hợp sống trên 150 năm.

- Tử vong là một quá trình (gọi là tình trạng kết thúc), trong trường hợp điển hình gồm 2-4 giai đoạn:

+ G iai đoạn đầu tiên (giờ, ngày): hạ huyết áp (60mmHg); tim nhanh và yếu; tri giác giảm (có thể lú lẫn, hôn mê).

+ G iai đoạn hấp hối các chức năng suy giảm toàn bộ, kể cả có rối loạn (co giật, rối loạn nhịp tim, nhịp thở. Kéo dài 2-4 phút (có thể ngắn hơn hoặc dài tới 10-15 phút).

+ G iai đoạn chết lâm sàng: các dấu hiệu bên ngoài của sự sống không còn (thở, tim đập, co đồng tử do ánh sáng...) tuy nhiên, nhiều tế bào của cơ thể còn ít nhiều hoạt động (kể cả não), thậm chí vẫn còn hoạt động. Nhiều trường hợp còn có thể hồi phục cơ thể, nhất là nếu chết đột ngột ở m ột cơ thể không suy kiệt. Trừ khi đã chết não.

+ G iai đoạn chết sinh vật (sinh học): não chết hẳn

• Cấp cứu - hồi sinh

• Trường hợp chết đột ngột ở một cơ thể chưa suy kiệt, có thể hồi sinh khi chết lâm sàng, chủ yếu bằng hồi phục tim (kích thích, bóp ngoài lồng ngực) và hô hấp (máy, thổi ngạt).

• Thời gian an toàn của não là 6 phút (trung b nh), trường hợp đặc biệt (lạnh, mất máu cấp) có thể dài hơn. Nếu tỉnh lại sau 6 phút có thể để lại di chứng não (nhẹ hay nặng, tạm thời hay vĩnh viễn).

Rôì LOẠN CHUYỂN HÓA GLUCID

M ụ c tiêu

1. Trình bày tình trạng mất cân bằng glucose máu.

2. Trình bày bệnh nguyên, bệnh sinh của bệnh tiểu đường.

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 54 - 58)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(470 trang)