ĐÓI HOÀN TOÀN ĐỦ NƯỚC

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 133 - 137)

SINH LÝ BỆNH TRẠNG THÁI ĐÓI

2. ĐÓI HOÀN TOÀN VÊ LƯỢNG

2.2. ĐÓI HOÀN TOÀN ĐỦ NƯỚC

Thời gian chịu đựng đói hoàn toàn nếu cung cấp đủ nước ở người khoảng 40 đến 50 ngày, có trường hợp còn lâu hơn; và kỷ lục là 150 ngày. Thời gian chịu đói của cơ thể phụ thuộc vào:

+ Trạng thái cơ thể :

+ Lượng dự trữ của cơ thể để chi dùng khi đói;

+ Tuổi, giới, trạng thái thần kinh, tinh thần;

+ Nằm im hay hoạt động;

+ Tình trạng m ôi trường: khí hậu ôn hoà hay nóng (mất mồ hôi), lạnh (mất nhiệt).

2.2ểl . Các th ờ i k ỳ đói a) Theo lâm sàng:

Các nhà lâm sàng chia đói ra làm 4 thời kỳ:

- Thời kỳ chưa thay d ổ i: 1 hay 2 ngày; trong đó hành vi, chuyển hoá, thân nhiệt cũng như các hoạt động của các cơ quan vẫn tương đối bình thường.

- Thời kỳ hưng phấn: 1-3 ngày, cảm giác thèm ăn, đói cồn cào.

- Thời kỳ ức chế: cảm giác đói giảm, con vật nằm im , chuyển hoá giảm. Thời kỳ này kéo dài nhất.

- Thời kỳ suy sụp : kéo dài 2-4 ngày, chết.

b) Theo điều tr ị:

Người ta cũng chia đói hoàn toàn làm 4 thời kỳ với mục đích phục vụ điều t r ị : - Hưng phấn : thèm ăn, luôn nghĩ tới ăn.

- Yếu ớt : cảm giác cồn cào; “ đói lả” (run rẩy, toát mồ hôi, giảm trương lực cơ...) chủ yếu do tụt glucose-huyết. Có thể cho ăn chế độ bình thường.

- Thích nghi : kéo dài nhất; mất dần các dấu hiệu nói trên, phục hồi được một số hoạt động thông thường nhưng ở mức thấp và sầy yếu dần, chuyển sang trạng thái nằm yên, nhiễm toan. Không thể nuôi dưỡng lại bằng chế độ ăn thông thường mà bằng chế độ lỏng, tăng dần; thậm chí phải bắt đầu bằng truyền dịch dinh dưỡng.

- Suy k iệ t: khó hồi phục, kể cả truyền dịch giàu năng lượng.'

Căn cứ vào sự chi dùng năng lượng, các nhà sinh lý bệnh chia đói hoàn toàn ra làm 3 thời kỳ:

-Thời kỳ không tiết kiệm : kéo dài 1-2 ngày, cơ thể chi dùng năng lượng ở mức bình thường; thể hiện mức chuyển hoá cơ bản không giảm.

- Thời kỳ tiết kiệm tối đa: đây là thời kỳ kéo dài nhất, cơ thể chi dùng năng lượng mức tối thiểu cho các hoạt động cơ bản đảm bảo sự sống. Thời kỳ này còn gọi là thời kỳ thích nghi.

- Thời kỳ thoái hoá: phung phí, suy kiệt, nhiễm độc, chết sau 2-4 ngày.

2.2.2. Đặc điểm chuyển hoá a) T h ờ i kỳ đầu:

- Chuyển hoá glưcidệ. dự trữ glucid được sử dụng đến cạn kiệt (sau 12 giờ nhịn đói), xuất hiện hội chứng giảm glucose-huyết. Tiếp đó, glucose được tân tạo ở gan từ nguồn protid và giữ được mức glucose-huyết 0,7 hay 0,8 g/lít; nhờ vậy hội chứng hạ đường huyết giảm rồi mấtệ

- Chuyển hoá protid: bắt đầu giảm tổng hợp protid chung của cơ thể, ví dụ tốc độ tạo hồng cầu, tốc độ phục hồi biểu mô ruột. Đổng thời có tăng thoái hoá protid ở gan, thể hiện bằng tăng quá trình khử amin và tạo urê. Bắt đầu quá trình mất cân bằng nitơ (âm tính).

- Chuyển hoá lip id : tăng huy động mỡ dự trữ thể hiện bằng tăng lipid-huyết.

Tóm lại, đây là thời kỳ con vật không tiết kiệm năng lượng, sẵn sàng dùng dự trữ protid và lipid thay thế cho nguồn glucose đã sớm cạn kiệt để duy trì mọi hoạt động sống ở mức bình thường, thể hiện ở mức chuyển hoá. Đây cũng là thời kỳ trọng lượng cơ thể giảm mạnh nhất (1,5 - 2,5% mỗi ngày).

Có thể nói, mỗi cá thể động vật đều đã ít nhất một lần lâm vào giai đoạn 1 của đói hoàn toànễ Trong lâm sàng càng dễ gặp.

b) T h ờ i kỳ 2.ặ

Đây là thời kỳ tiết kiệm năng lượng tối đa, kéo dài 40-50 ngày.

- Chi p h í năng lượng ỏ mức thấp'. Khoảng 70-80%smức bình thường.

- Chuyển hoá lip id : Huy động mỡ dự trữ tăng cao tối đa làm lipid máu tăng,

• 7 Ễ ■ 9 ,

xuất hiện thế ceton trong máu, tăng hoạt tính enzym giáng hoá lip id. 〇 giai đoạn này, mỡ là nguồn cung cấp năng lượng chính (chiếm 80%), trong khi đó glucid chỉ cung cấp được 3-5% tổng số năng lượng. Chuyển hoá protid: ở mức tối thiểu, cân bằng nitơ âm tính nhẹ nhưng càng nặng lên nếu kho lipid cạn đi.

- Chuyển hoá cơ bản giảm ỉ?.ệ Nhờ vậy trọng lượng cơ thể cũng giảm tối thiểu (0,5-1% mỗi ngày). Trọng lượng các cơ quan giảm không đều nhau, cơ quan iighỉ thì giảm nhiều, cơ quan hoạt động thì giảm ít, cơ quan dự trữ giảm mạnh nhất.

c) Theo mức độ chuyển hoá:

Bảng 1 ■ Tý lệ % trọng lượng bị giảm trong đổi hoàn toàn

Cơ quan Giảm trọng lượng (%) Cơ quan Giảm trọng lượng (% )

Tim 3,5 Thận 25,9

Não 3,9 Máu 26,6

Xương 13,9 Cơ 30,7

Tụy 17,0 Tinh hoàn 40,0

Phổi 17,7 Gan 53,7

Ruột 18,0 Lách 60,0

Da 20,6 Mô mỡ 97,0

c) T h ò i kỳ 3:

Cạn kiệt nguồn dự trữ; cơ thể huy động tối đa các dự trữ còn lại để duy trì những chức năng sinh tồn trọng yếu nhất.

- Thoái hoá protid mạnh. Protid là nguồn năng lượng chủ yếu nhất của cơ thể ở giai đoạn này. Thận đào thải nhiều nitơ cùng với phosphat kali (nói lên sự tiêu hủy tế bào).

- Các tế bào bị hủy hoại: Các cấu trúc bên trong tế bào bị biến đổi, thoái hoá (nhất là ty lạp thể) làm rố i loạn trao đổi chất, tăng tính thấm.

- Rối loạn thần kinh dinh dưỡng: Loét và hoại tử ở da, niêm mạc.

- Giảm sản nhiệt, thân nhiệt giảm thấp, chết.

2.2.3. Chức năng các cơ quan a) T h ờ i kỳ 1 và 2

Chức năng các cơ quan đều có thay đổi nhưng vẫn giữ được hoạt động trong giới hạn sinh lý với cơ chế bù trừ và thích nghi.

- Các tế bào: ở những cơ quan hoạt động (tim, não) không giảm về số lượng và kích cỡ; chúng vẫn duy trì được các chức năng chủ yếu. Còn các cơ quan khác (cơ, ống tiêu hoá) hiện tượng chủ yếu là teo tế bào; nhưng về số lượng thì ít thay đổi hơn.

- Chức năng thần kinh: Những ngày đầu có hưng phấn, con vật thèm ăn, tìm ăn, run rẩy, rối loạn thần kinh thực vật.

Đến thời kỳ thích nghi và ổn định: hết run cơ, bớt rồi mất cảm giác đói, các cảm giác khác và các phản xạ ở mức bình thường, có thể lao động (trí óc, chân tay) được, nhưng sẽ càng mau cạn kiệt dự trữ năng lượng. Tuy nhiên, cơ thể giảm khả năng thích nghi, ví dụ dễ bị nhiễm nóng hoặc nhiễm lạnh nếu thay đổi nhiệt độ môi trường.

- Chức năng tiêu hoá: Giảm enzym tiêu hoá,giảm tiết dịch, giảm co bóp và hấp thu. Dần dần mất chức năng tiêu hoá,ruột teo và dính niêm mạc.

- Chức năng tuần hoàn, hô hấp: vẫn duy trì được lưu lượng máu, huyết áp, p02, pC 02 phù hợp với mức độ chuyển hoá. Nhưng giảm khả năng thay đổi hoạt động để thích nghi khi nhu cầu cơ thể đòi hỏi.

- Chức năng hệ nội tiết' chức năng các tuyến: sinh dục, giáp trạng, tụy giảm.

Ngược lại, chức năng của hệ yên - thượng thận tăng đã giúp cơ thể tăng khả năng chịu đựng đói, tăng huy động lipid, protid dự trữ.

- Chức năng thận: giai đoạn đầu, thận đảm bảo được chức năng đào thải các chất như urê, các muối ẻ.. Vài ngày cuối của giai đoạn 2 thì khả năng này giảm dần và dẫn đến tình trạng ứ đọng gây nhiễm toan, nhiễm độc.

-Máu: thiếu máu, loãng máu ở giai đoạn sau do ứ nước,

-Cơ: giảm trương lực và sức co bóp, sau đó teo nhỏ do protein bị huy động mạnh.

b) T h ờ i kỳ 3

Tế bào của các mô và cơ quan từ trạng thái teo đét, nay tổn thương và thoái hoá, biểu lộ bằng sự đào thải các sản phẩm cấu trúc của chúng nước tiểu. Do vậy, chức năng của các cơ quan và hệ thống các cơ quan đều suy giảm, kiệt quệ. Sự điều trị hồi phục hết sức khó khăn, rất dễ thất bạiề

2.2.4. Nuôi dưỡng lại

Trong quá trình thực nghiệm gây đói hoàn toàn đủ nước, nếu cho nuôi dưỡng lại, dù là cuối giai đoạn 2,nếu đúng phương pháp (từ từ, tạo sự thích nghi lại của ống tiêu hoá) thì con vật sẽ được phục hồi nhanh chóng về trọng lượng, cũng như cấu trúc, chức năng các cơ quan; hoàn toàn không có di chứng. Thời gian phục hồi

thường rất nhanh, nhanh gấp 2-3 lần so với thời gian bị đói. M ột con chó nhịn đói sắp sang giai đoạn 3 (sau 30 ngày) có thể phục hồi sau 10 hay 15 ngày nếu nuôi dưỡng lại. Ớ người, khi bị đói hoàn toàn về lượng nhưng đủ nước uống, nếu được nuôi lại tốt cũng diễn biến như ở động vật thực nghiệm.

2.2.5. Đ ói lặp lại

Nếu sau kh i nuôi dưỡng lại, rồi lại bỏ đói lần 2, 3, 4 ... (đói lặp lại) thì sự phục hồi càng về sau càng chậm và xuất hiện tổn thương không hồi phục (di chứng): ví dụ chức năng tạo máu, miễn dịch.

Đ ói lặp lại thực nghiệm có một số đặc điểm sau:

- Thời kỳ hưng phấn: ngắn dần ở các lần đói sau, nhanh chóng đi vào thời kỳ ức chế, tiết kiệm năng lượng.

- N uô i dưỡng lại: càng khó khăn nếu đói lặp lại nhiều lần.

- Huy động dự trữ kém, con vật chết vì đói khi trọng lượng cơ thể chỉ giảm 30- 40% (trong kh i đói lần đầu, con vật chết khi trọng lượng cơ thể giảm 50%). Có các tổn thương thoái hoá các tế bào của gan, tủy xương, niêm mạc ruột... Khả năng đề kháng giảm sút kh i con vật đã hồi phục trọng lượng.

ơ người, nếu bị đói trường diễn nhưng xen kẽ có những thời kỳ no đủ cũng có những đặc điểm như đói lặp lại ở động vật thực nghiệm.

3. ĐÓI KHÔNG HOÀN TOÀN (đói một phần về lượng)

Cơ thể vẫn thu nhận năng lượng nhưng tổng số ở dưới mức tố i thiểu so với nhu cầu, do vậy còn gọi là đói không hoàn toàn về lượng. Nhiều nguyên nhân gây ra đói một phần về lượng: ngoài nguyên nhân xã hội (rất dễ gặp ở các vùng nghèo, dân trí thấp) thì hay gặp nhất là do đói bệnh lý (ở lâm sàng); cho nên loại đói này gặp phổ biến trong thực tế.

Thiếu một phần năng lượng trong khẩu phần thường kèm theo thiếu protein và một số chất vi lượng khác nên diễn biến kéo dài và phức tạp, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của cơ thể, dễ bị bệnh. Đ ói protein - calo có những biểu hiện: chậm lớn, dễ nhiễm khuẩn ... giống như đói không hoàn toàn về lượng.

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 133 - 137)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(470 trang)