ẢNH HƯỞNG CỦA cơ THỂ TỚI QUÁ TRÌNH BỆNH SINH

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 47 - 51)

DẠI CƯƠNG VÊ BỆNH SINH HỌC

3. ẢNH HƯỞNG CỦA cơ THỂ TỚI QUÁ TRÌNH BỆNH SINH

3.1. KHÁI NIỆM v'Ê TÍNH PHẢN ỨNG CỦA c ơ THỂ

Trước tác động của một kích thích nào đó (gây bệnh, hoặc không gây bệnh), cơ thể động vật đáp lại bằng một hay nhiều phản ứng. Trước một kích thích nhất định, có loại phản ứng là chung cho nhiều loài, ví dụ : đồng tử co nhỏ lại khi ánh sáng đủ cường độ chiếu vào võng mạc; tăng glucose-huýết khi đau đớn.ằế. Có loại phản ứng chỉ là chung cho các cá thể trong một loài; và có loại phản ứng của cá thể (không hoàn toàn giống nhau giữa các cá thể của một loài). V í dụ, phản ứng chung của mọi người là tăng nhịp tim khi bị stress, nhưng có người tăng quá nhiều (quá hồi hộp, lo lắng), ngược lại, có người lại tăng rất ít (phản ứng loại "thản nhiên"). Nếu nhiều cá thể có chung một phản ứng trước một kích thích, người ta xếp họ thành nhóm và thành kiểu phản ứng. Chẳng hạn, phản ứng của nhóm người già và nhóm người trẻ trước một bệnh nguyên có những đặc trưng khác nhau.

Trong y học, mỗi người bệnh là một cá thể (của một loài), do vậy người ta chú ý đến các đặc điểm phản ứng cá thể và nhóm cá thể.

Đa số cách phản ứng in đậm dấu vết di truyền mang tính bẩm sinh nhưng cũng có nhiều phản ứng hình thành trong quá trình sống, chịu ảnh hưởng của tuổi, giới, trạng thái thần kinh-nội tiết, môi trường, thời tiết....

Từ đó, người ta đi đến khái niệm về tính phản ứng. Đó là tập hợp các đặc điểm phản ứng của cơ thể trước các kích thích nói chung và trước bệnh nguyên nói riêng.

Tính phản ứng khác nhau có thể làm quá trình bệnh sinh ở mỗi cá thể và mỗi nhóm không giống nhau, đưa lại các kết quả khác nhau (tốt, xấu, nặng, nhẹ), nên các thầy thuốc đều cần biết.

2.2.3. Vị trí tác dụng của bệnh nguyên

3.2. NHỮNG YỂU T ố ẢNH HƯỞNG TỚI TÍNH PHẢN ỨNG

Hiểu biết về tính phản ứng của cơ thể đến nay chưa đầy đủ và chưa thống nhất;

kể cả cách phân loại. Tuy nhiên, những gì đã được chứng minh và được đa số thừa nhận đã mang lại những lợi ích về nhận thức lý luận và thực tiễn nghiệp vụ.

Các yếu tố ảnh hưởng tới tính phản ứng gồm : 3.2.1. Thần kinh

a) Trạng thái vỏ não

Nếu vỏ não ở trạng thái hưng phấn, thường tạo ra những phản ứng mạnh và nếu ức chế thì ngược lại. Con vật bị gây mê đáp ứng kém với các kích thích (tiêm adrenalin, mất máu,,,) so với khi nó còn tỉnh. Từ đó, người ta cắt nghĩa được trạng thái sốc rất ồn ào khi truvền máu sai nhóm ở người còn tỉnh; trái lại, sốc này ở người, đang được gây mê lại diễn ra rất thầm lặng. Trong các ưạng thái trên, phản ứng sốt và viêm cũng thay đổi như vậy (thân nhiệt tăng nhiều hay ít, viêm mạnh hay yếu). Có thể lấy nhiều ví dụ khác trong thực tế hoặc trong thực nghiệm.

b) Thần kinh cao cấp

Yếu tố tâm lý ảnh hưởng rất rõ tới quá trình bệnh sinh : tuỳ trường hợp, nó làm bệnh diễn biến tốt lên hay xấu đi. Hơn nữa, nhiều khi tâm lý còn là nguyên nhân gây bệnh, hoặc là một liệu pháp thật sự.

Lời nói (chữ viết) ảnh hưởng sâu sắc tới bệnh sinh đã được nhận xét từ lâu, nhất là lời nói của thầy thuốc : nếu thiếu trách nhiệm và đạo đức (nói ra tiên lượng xấu;

mắng mỏ, vô tâm...) sẽ ảnh hưởng xấu tới diễn biến của bệnh vì gây ra những chấn thương tâm lý. Trái lại, những lời nói phù hợp với đạo đức nghề nghiệp lại thật sự là những liều thuốc công hiệu.

c) Vai trò thần kinh thực vật

Hệ giao cảm chi phối những phản ứng đề kháng tích cực, do vậy rất có tác dụng khi cơ thể cần huy động năng lượng chống lại các tác nhân gây bệnh; ví dụ khi say 'làu xe, khi mệt mỏi... Trái lại, khi cơ thể đã hao cạn dự trữ thì hệ này làm bệnh diễn biến xấu vì phung phí năng lượng : lúc này hệ cận giao cảm lại có vai trò phù hợp của mình. Hệ cận giao cảm có vai trò lớn trong tạo trạng thái trấn tĩnh, tiết kiệm năng lượng, tăng chức năng tiêu hoá và hấp thu...

3.2.2. Vai trò nội tiết

a) A C TH và corticosteroid:

Ảnh hưởng tới bệnh sinh thông qua tác dụng chống viêm, ức chế thực bào, gây thoái biến mô lympho, ức chế tạo kháng thể, giảm tính thấm của thành mạch, làm chậm quá trình tạo sẹo, tân tạo glucose lừ protid... Như vậy, nó góp phần quan trọng

khi bệnh nguyên gây ra những trạng thái viêm có cường độ quá m ạnh và sự hưng phấn quá mức hệ giao cảm. Tác dụng sẽ xấu đối với bệnh sinh khi cơ thể suy kiệt, khi đe doạ nhiễm khuẩn, hoặc nhiễm khuẩn mà không có các loại kháng sinh thích hợp.

b) Thyroxin:

Ảnh hưởng tới bệnh sinh thông qua tác dụng gây tăng chuvển hoá cơ bản và tăng tạo nhiệt. Có vai trò rất lớn trong phản ứng tạo cơn sốt và sự huy động năng lượng chống lại tác nhân gây bênh (chống giảm thân nhiệt, chốns nhiễm khuẩn...).

Ngược lại, sẽ tác dụng khống thuận lợi cho bệnh sinh khi cơ thể suy kiệt, chống nóng, sốc, mất máu nặng...).

c) STH và aldosteron:

Chúng đối lập với ACTH và cortisol. Ảnh hưởng tới bệnh sinh thông qua tác dụng tăng cường quá trình viêm, làm mô liên kết tăng sinh, chống hoại tử. Do vậy rất có ích khi cơ thể cần tạo phản ứng viêm m ạnh mẽ. cần tăng cường m iễn dich, tạo sẹo, hoặc chốnơ quá trình hoại tử. Tác dụng sẽ không thuận lợi nếu cơ thể cần giảm phản ứng quá mức cần thiết (giảm viêm, giảm phản ứn2 giao cảm...) để tránh cạn kiệt dự trữ.

3.2.3. G iới và tuổi a) Giói

Một số bệnh hay gặp và dễ nặng lên ở nam giới (ung thư phổi, loét dạ dàv-tá tràng, nhồi máu cơ tim...); một số bệnh khác hay gặp ở nữ giới (bệnh tự miễn, ung thư vú, viêm túi mật...). Điều đáng chú ý là ung thư vú ở nữ có thể chữa rất hiệu quả bằng horm on sinh dục nam. Như vậy, nhiều bệnh phát sinh liên quan với nội tiết ở mỏi giới (điều kiện thuận lợi).

b) Tuổi

Viêm và sốt ở cơ thể trẻ thường mạnh hơn so với cơ thể già. Triệu chứng lâm sàng thường điển hình, thậm chí quá ồn ào (tới mức có hại) so với nhóm tuổi cao. Do vậy, hậu quả tốt hay xấu cũng thường trái ngược nhau : cơ thể trẻ có thể m au lành bệnh (do đề kháng m ạnh mẽ), nhưng cũng dễ lâm vào những phản ứng quá mức; còn cơ thể già các biểu hiện bệnh có thể kém rõ ràng (khó chẩn đoán), lại dễ có biến chứng nguy hiểm khi viêm, sốt (do đề kháng kém)...

Trong chuyên khoa, người ta chia ra : bệnh trẻ em, bệnh người già, bệnh của tuổi dậy thì, bệnh người trưởng thành..., thì lý do chủ yếu là tính phản ứng với bệnh nguyên của các lứa tuổi này không giống nhau.

3.2ế4. Ảnh hưởng của môi trường a. Thời t iế t :

Nhiệt độ môi trường (quá nóng hay quá lạnh), độ ẩm, sức gió... đều ảnh hưởng tới bệnh sinh của nhiều bệnh, ví dụ khi cơ thể bị nhiễm lạnh, nhiễm nóng, sốc, viêm phổi, hen... Nhiều bệnh dễ phát sinh, tái phát hoặc nặng lên khi thời tiết thay đổi.

b. C h ế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng năng iượng, nhất là dinh dưỡng protein và vitamin, ảnh hưởng rất rõ tới bệnh sinh của nhiều bệnh. Thống kê và nghiên cứu cơ chế cho thấy khi dự trữ protein giảm sút thì tỷ lệ mắc viêm phổi và các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên rõ rệt.

Vitamin A có vai trò rất lớn trong tăng cường sức đề kháng của cơ thể nói chung và da. niêm mạc nói riêng; vitamin nhóm B có tác dụng tăng quá trình oxy hoá tế bào, qua đó ảnh hưởng tốt tới chức năng thần kinh, tiêu hoá, thực bào, tăng sức chịu đựng và đề kháng. Thí nghiệm : nhóm chuột thiếu vitamin B bị chết 76,4%

khi bị tiêm virus sốt vàng, trong khi nhóm chứng chỉ chết 16,7%. Vitamin c rất cần cho quá trình oxy hoá, do vậy nhu cầu tăng lên khi cơ thể nhiễm khuẩn và ứ đọng các sản phẩm chuyển hoá, giảm khả năng thực bào và đề kháng...

Nói chung, đến nay cơ chế tác dụng của các vitamin đã được làm sáng tỏ ở mức phân tử.

Bản thân chế độ dinh dưỡng xấu không những là điều kiện thuận lợi để bệnh phát sinh và diễn biến xấu, mà còn là nguyên nhân gây bệnh gọi là suy dinh dưỡng.

Nhiễm khuẩn ở người suy dinh dưỡng thường đưa lại hậu quả xấu hơn : phản ứng sốt biểu hiện rất kém - kể cả khi nhiễm khuẩn cấp - nói lên sự suy giảm miễn dịch và kém đề kháng biểu hiện lâm sàng có thể mờ nhạt (khó chẩn đoán) nhưng dễ tiến triển nặng, dễ tái phát.

Những yếu tố khác của ngoại cảnh có thể ảnh hưởng tới bệnh sinh : - Địa lý

- Nhịp ngày - đêm

3.2.5. Cục bộ và toàn thán trong bệnh sinh

Có quan niệm chia quá trình bệnh sinh thành hai nhóm lớn : nhóm biểu hiện cục bộ (ví dụ, viêm, gẫv xương, vết chàm), và nhóm biểu hiện toàn thân (ví dụ, sốt, sốc, tính trạng nhiễm độc).

Cách phân loại này có thể mang lại một vài lợi ích về nhận thức, nhưng thường tạo ra những sai lầm về quan niệm và hành động, ví dụ chỉ chữa cơ quan bị bệnh mà khôn? chú ý toàn thân, kể cả không chú ý tâm trạng bệnh nhân.

Một số bệnh có thể biểu hiện cục bộ nhưng phải quan niệm đó là bệnh của cả cơ thể, có thể ảnh hưởng rất sâu sắc tới toàn thân. V í dụ, chỉ đau một chiếc răng cũng có thể gây sốt, kém ăn, mất ngủ và suy nhược. Những bệnh trầm trọng ở từng cơ quan riêng lẻ, như não, tim, thận, gan, phổi... (những cơ quan có chức năng toàn thân) bao giờ cũng kèm theo những rối loạn sâu sắc và nặng nề ở toàn thân - và tử vong có thể do những rối loạn "ngoài cơ quan" đó.

Ngược lại, trạng thái toàn thân luôn luôn ảnh hưởng tới cục bộ, trước hết là ảnh hưởng tới đề khángphục hồi khi yếu tố bệnh nguyên xâm nhập tại chỗ. Chẳng hạn, tình trạng miễn dịch (toàn thân) làm cho gan (cục bộ) không mắc viêm do virus vết thương sẽ mau lành (tạo sẹo) nếu toàn trạng tốt. Thầy thuốc giỏi bao giờ cũng nhìn toàn thân khi điều trị bệnh "cục bộ".

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 47 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(470 trang)