DẠI CƯƠNG VÊ BỆNH SINH HỌC
1.4. ĐIỂU HOÀ CÂN BẰNG GLUCOSE MÁU
Bình thường, glucose máu khoảng 1 g/1. Khi cơ thể sử dụng mạnh glucid (lao động nặng, hưng phấn thần kinh, sốt, ...) thì glucose máu có thể lên tới 1,2 - 1,5 g/1.
K hi nghỉ ngơi, ngủ, glucose máu có thể giảm tới 0,8 g/1. Nếu vượt quá 1,6 g/1 thì glucose bị đào thải qua thận, nếu giảm xuống dưới 0,6 g/1 thì các tế bào thiếu năng lượng, có thể dẫn đến hôn mê. Bằng cơ chế điều hoà, cân bằng lượng glucid được cung cấp với lượng glucid tiêu thụ mà cơ thể người bình thường duy trì được glucose máu ở mức thích hợp từ 0,8 - 1 , 2 g/1. Hệ nội tiết và hệ thần kinh là những cơ quan trực tiếp điều hoà glucose máu.
Neuồn cuns cấp Tiêu thu
- Glucid thức ăn - Thoái hoá trong tế bào cho
- Glycogen của gan: lượng glycogen dự trữ năng lượng, C 0 2, H ,0 .
của gan có thể bổ sung và duy trì glucose máu - Tổng hợp lipid, acid amin.
trong 5-6 giờ.
- Thải qua thận nếu glucose - Glycogen của cơ: co cơ tạo a.lactic; về gan; máu vượt quá l,6g/l-
tổng hợp lại ĩhành glucose.
- Tân tạo glucose từ sản phẩm chuyển hoá của protid (và lipịd).
1.4.1. Vai trò điều hoà của nội tiết
Một số nội tiết tố có tác dụng lên một số enzym hưởng đến mức glucose máu. Có hai nhóm đối lập nhau :
(1) Một bên là insulin làm giảm glucose máu.
(2) Một bên là một tập hợp gồm nhiều'nội tiết tố dụng làm tăng glucose máu.
chuyển hoá glucid nên ảnh
và một số chất khác có tác
1,0g/lít
Sự cân bằng glucose huyết
Trong điều hòa nồng độ glucose huyết người ta chia các hormon thành hai nhóm:
A: Insulin (làm giảm glucose huyết)
B: Hệ đối kháng insulin (làm tăng glucose huyết) được ví như các quả cân hai bên đĩa cân. Bệnh tiểu đường có thể xảy ra khi insulin giảm chức năng hoặc khi hệ đối kháng Insulin vượt trội lẽn.
a) In s u lin:
Do tế bào beta của đảo tụy tiết có tác dụng làm giảm glucose máu nhanh và mạnh.
Insulin làm glucose nhanh chóng vào tế bào và nhanh chóng được sử dụng (thoái hoá cho năng lượng, tổng hợp glycogen, tổng hợp lipid, acid a m in ):
- Hoạt hoá hexokinase làm glucose nhanh chóng vào tế bào.
- Tăng khả năng thấm ion kali và phosphat vô cơ vào tế bào, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phosphoryl hoá và sử dụng glucose.
- Trực tiếp chuyển glycogen synterase từ dạng không hoạt động sang dạng hoạt động để tổng hợp glycogen từ glucose.
- ức chế một số enzym xúc tác tân tạo đường như pyruvat carboxylase.
- Gắn với thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào đích, tạo nên chất trung gian (mediator) là oligoglycopeptid có tác dụng vận chuyển glucose vào tế bàoễ
- Làm giảm thoái hoá các chất có khả năng tạo ra glucose như: glycoơen, lipid, protid.
Có tác dụng làm tăng glucose máu.
- Adrenalin: kích thích tạo AMP vòng của tế bào đích, tăng hoạt hoá enzym phosphorylase ở gan làm tăng thoái hoá glycogen tạo glucose.
- Glucagon: tác dụng tương tự như adrenalin nhưng mạnh hơn và kéo dài hơn.
Glucagon còn kích thích phân huỷ mỡ do enzym lipase được hoạt hoá bởi AM P vòng.
- Glucocorticoid: ngăn cản glucose thấm vào tế bào (trừ tế bào não). Tăng hoạt hoá G-6-phosphatase làm tăng giải phóng glucose ở gan vào máu. Tăng tân tạo glucose từ protid.
- Thyroxin: tăng hấp thu đường ở ruột, tăng phân huỷ glycogen.
- 5 7 //: tăng thoái hoá glycogen bằng cách ức chế enzym hexokinase. STH còn hoạt hoá insulinase.
- Insulinase và kháng thể chống insulin: trực tiếp huỷ insulin (gặp trong một số trường hợp bệnh lý).
1.4.2. Thần kinh
ô
- Thí nghiệm cổ điển của Claude Bernard: Bernard châm vào não thất 4 đã gây tăng đường huyết. Bykov gây được tăng đường huyết bằng phản xạ có điều kiện.
- Đường huyết tăng trong một số trường hợp hưng phấn vỏ não và hệ giao cảm (hồi hộp, xúc động, stress).
- Vai trò của vùng dưới đồi: đến nay người ta đã phát hiện được hai trung tàm (A và B) ở vùng dưới đồi tham gia điều hoà đường huyết thông qua hormon:
+ Trung tâm A: Gồm những tế bào thần kinh, không có mặt insulin vẫn thu nhận được glucose từ máu. Trung tàm nàu đại diện cho các tế bào “ không cân” insulin vẫn thu nhận được glucose, như: tế bào não, 2an. hổng cầu. Khi glucose máu giảm xuống dưới 0,8 g/1 thì trung tâm A bị kích thích >àm tăng tiết glucagon, adrenalin, ACTH, LM H (Lipid mobilising hormon) đế tăng tạo glucose cho đạt nồng độ 1 g/1.
+ Trung tâm B: Đại diện cho tất cả cấc tế bào còn lại của cơ thể, “ phải có”
insulin mới thu nhận được glucose. Các tế bào loại nàv sử dụng được thể ceton như là một nguồn năng lượng bổ sung quan trọng. Khi thiếu insulin, trung tâm B sẽ huy động mọi cơ chế nội tiết làm glucose máu tăng rất cao. đủ thấm vào tế bào nhờ sự chênh lệch lớn về nồng độ glucose trong và ngoài te' bào. Tuy nhiên nếu chỉ trông cậy vào
b) Hệ đôi kháng với insulin:
sự khuếch tán nhờ nồng độ cao thì nồng độ này phải tăng gấp 4 lần bình thường mới đủ. Khi đó lượng glucose bị thận đào thải sẽ rất lớn (gặp trong bệnh tiểu đường do thiếu insulin).