TUỔI GIÀ VÀ BỆNH TẬT

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 182 - 185)

SÌM LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH LÃO HOÁ

4. TUỔI GIÀ VÀ BỆNH TẬT

Như trên đã trình bày, già làm giảm chức năng m ọi cơ quan, do đó hạn chế khả năng thích ứng và phục hồi, dễ đưa đến rố i loạn cân bằng nội môi. Đó là tiền đề cho bệnh tật xuất hiện. Có thể là bệnh nhẹ từ tuổi trẻ nay phát triển mạnh ở cơ thể già, cũng có thể là bệnh m ới, tương đối đặc trưng cho người già. Có thể coi bệnh người già là bệnh phát sinh do tuổi (tuổi trẻ rất ít mắc), bắt nguồn từ sự thay đổi tế bào, cơ quan, hệ thống trong quá trình lão hoá,đưa đến tình trạng kém bảo vệ (giảm phục hồi, tái tạo, phì đại, giảm viêm, sốt, giảm đáp ứng với hormon, chất trung gian, dễ tổn thương do stress ...)• Do vậy tỷ lệ tử vong tăng: tăng gấp đôi sau 8 năm. Diễn biến bệnh không điển hình, dễ bất ngờ.

Bệnh đặc trưng cho tuổi già thường gặp: ung thư, tim mạch, tiểu đường, loãng xương... Cứ m ỗi thập niên tuổi, tỷ lệ chết do tim mạch lại tăng gấp 2 - 3 lần. V ớ i ung thư, nhiễm khuẩn cũng tương tự. Bệnh tim mạch và u làm giảm thọ 1 0 -1 2 năm.

Nhiều loài động vật lúc trẻ không mắc các bệnh như ở người nhưng về già chúng cũng xuất hiện: xơ vữa tự nhiên (ở voi, lợn, khỉ, bồ câu.. viêm quanh mạch có nút, xơ cầu thận (chó, gặm nhấm), ung thư, loãng rõ xương, khớp .... Điều đặc biệt là cơ thể động vật kh i già cũng có sự tăng sinh và biến chất của mô liên kết, tương tự như ở người.

Thống kê ở V iệ t Nam cho thấy người già trên 65 tuổi (ngoài bệnh đặc trưng tuổi già) có mang 1 - 3 bệnh mạn tính khác, hoặc m ới mắc, hoặc từ trẻ nay nặng lên.

Trên thực tế, số người chết thuần tuý do già là rất hiếm.

Có những hội chứng bệnh lý di truyền làm cơ thể già đi rất nhanh khiến phải nghĩ đến sự tồn tại những “ gen gây già” , bên cạnh đó là tình trạng d i truyền về tuổi thọ làm ta nghĩ đến những “ gen tuổi thọ” . Các theo dõi, điều tra gợi ra hai ý: quá trình lão hoá có vai trò của ngoại cảnh, do vậy nhiều thuyết cho rằng già là quá trình tích luỹ các tổn thương không hồi phục do các tác nhân có hại (xạ, gốc tự do, vi khuẩn .. .)■ Nhưng quan trọng hơn là do d i truyền. Ở đây có hai yếu tố chi phối:

1) Khả năng sống giúp cho cơ chế dễ thích nghi, do nhiều gen phụ trách

2) N hịp điệu sống, quy định tốc độ giảm khả năng sống do m ột số gen khác phụ trách. Cũng có kh i chia ra hai nhóm gen: phát triể n (giúp cơ thể lớn lên và phát triển thành già: sớm hay muộn); và duy tr ì (làm già nhanh hay chậm). Trong quần thể, có sự tổ hợp rất đa dạng của hai loại gen trên gây ra tình trạng già sớm hay muộn, và già nhanh hay chậm.

Đã phát hiện một sô' rất hiếm các cá thể già rất chậm: Người 20 tuổi có ngoại hình và nét mặt của trẻ 10 tuổi. Hay gặp hơn là các hội chứng mau già (progerie).

- H ộ i chứng H utchinson-G ilfod: do một gen ỉặn ở nhiễm sắc thể thường, khá hiếm gặp. Dấu hiệu già đầu tiên xuất hiện ngay lúc một tuổi, chết trong vòng trên dưới 10 tuổi với các biểu hiện: già nhanh, chậm lớn, bạc tóc, đục nhân mắt, kh í thũng ỏ phổi, tăng cholesterol trong máu, xơ vữa, mô liên kết phát triển, mặt có nét già tự nhiên và điển hình.

- H ộ i chứng W erner: cũng do gen lặn, khá hiếm gặp. Dấu hiệu già xuất hiện vào tuổi sắp dậy thì; bạc tóc, hói, teo xương, sừng hoá da, đục nhân mắt, xơ vữa, tiểu đường, giảm thính lực, dễ mắc u ở mô đệm, có sự tăng sinh mô liên kết ... và chết ở tuổi 15 - 25.

Cả hai hội chứng: nuôi cấy fibroblast đều khó phân bào.

Các nhiễm sắc thể giới tính cũng mang những gen gây già nhanh (hội chứng Down, hội chứng T urner... ).

Bảng dự đoán tuổi thọ ở M ỹ cách đây 2 thập kỷ

Tuổi thọ hiện tại Tuổi hy vọng sống tiếp (năm) Tỷ lệ nam/nữ

Nam Nữ (%)

Mới đẻ 70,7 78,1 90,5

• 60 tuổi 17,5 22,4 78,1

65 14,2 18,5 76,8

70 11,3 14,8 76,4

75 8,8 11,5 76,5

80 6,7 8,6 77,0

85 、 5,0 6,3 79,4

Một phần của tài liệu Sinh lý bệnh học (2012) (Trang 182 - 185)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(470 trang)