THỰC DÂN PHÁP ĐÁNH BẮC

Một phần của tài liệu GA su 8, 18-19 (Trang 144 - 149)

KHÁNG CHIẾN LAN RỘNG RA TOÀN QUỐC (1873 – 1884)

II. THỰC DÂN PHÁP ĐÁNH BẮC

- Ngày soạn: 08/02/2019 -Ngày giảng: 13/02/2019

DUYỆT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN Ngày...tháng...năm 2019

Tổ trưởng

Đinh Thị Thủy

Hoạt động 1:(15’)

- HS đọc từ đầu đến rối loạn cực độ

 Tình hình nước ta sau Hiệp ước Giáp Tuất như thế nào?

- HS: ND phản đối mạnh, nhiều cuộc k.n nổ ra, KT suy kiệt, giặc cướp nổi lên khắp nơi, tình hình đất nước rối loạn.

 Nêu âm mưu của TD Pháp?

 Tại sao TD Pháp tiến đánh Bắc Kì lần II?

- HS: Pháp quyết tâm chiếm Bắc Kì vì Pháp đang  mạnh chúng cần vơ vét nguồn tài nguyên khoáng sản ở Bắc Kì, nếu chiếm được Bắc Kì sẽ làm chủ s.Hồng để thông thương với miền Vân Nam (T.Quốc) rộng lớn, giàu có. Bên cạnh đó một số nước Anh, Đức, Tây Ban Nha đang có ý định thương thuyết với triều đình Huế nên Pháp càng muốn hành động gấp.

 Nguyên cớ để Pháp đem quân ra HN là gì?

 Tình hình chiến sự tại Hà Nội diễn ra ntn?

- GV trình bày trên bản đồ

- GV hướng dẫn HS quan sát h.87 trong SGK (dựa vào HDSDKH... trang 117).

 Sau khi thành Hà Nội mất thái độ của triều đình Huế ntn?

- HS: Cầu cứu nhà Thanh, cử người ra Hà Nội thương thuyết với Pháp, ra lệnh cho quân ta phải rút lên mạn ngược.

 Hậu quả của những hành động nhu nhược đó của triều đình Huế ntn?

Hoạt động 2:(10’)

- HS đọc từ đầu đến chống Pháp.

 Khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ hai, ND Bắc Kì đã có những hành động gì?

1. Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882)

- Âm mưu của Pháp:

+ Sau Hiệp ước 1874, Pháp quyết tâm chiếm bằng được Bắc Kì, biến nước ta thành thuộc địa.

+ Lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874, tiếp tục giao thiệp với nhà Thanh, Pháp đem quân xâm lược Bắc Kì.

- Diễn biến:

+ Ngày 3/4/1882 quân Pháp do Ri- vi-e chỉ huy kéo ra Hà Nội.

+ Ngày 25/4/1882, giặc nổ súng tấn công và chiếm được thành Hà Nội.

+ Sau đó, Pháp chiếm một số nơi khác như Hòn Gai, Nam Định...

2. Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng Pháp

- Nhân dân Bắc Kì phối hợp với

 Nhân dân Bắc Kì chống Pháp bằng những biện pháp gì?

+ Thực hiện vườn không nhà trống.

+ Tự tay đốt nhà tạo thành bức tường lửa.

+ Không bán lương thực cho Pháp.

+ Đào hào, đắp lũy, đắp đập, cắm kè trên sông, làm hầm chông, cạm bẫy...

- GV tường thuật chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai trên bản đồ- liên hệ với chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất (21/12/1873): Quân của Hoàng Tá Viêm kết hợp với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc.

 Tình hình ta và địch như thế nào sau chiến thắng Cầu Giấy?

- HS: + Quân Pháp hoang mang dao động chúng định rút chạy.

+ Triều đình lại chủ trương thương lượng với Pháp hy vọng chúng sẽ rút quân như 1873.

 Tại sao thực dân Pháp không nhượng bộ triều đình Huế sau khi Ri-vi-e bị giết tại trận Cầu Giấy 1883?

- HS: Vì tham vọng XL của Pháp muốn xâm chiếm toàn bộ nước ta, chúng nắm được triều đình Huế không kiên quyết chống lại do nhu nhược, hèn nhát, hơn nữa lúc này triều đình đang lúng túng trong việc phế lập nên Pháp lợi dụng thời cơ đánh thẳng vào kinh đô Huế hi vọng sớm hoàn thành cuộc XL.

Hoạt động 3:(9’)

 Em hãy trình bày cuộc tấn công của thực dân Pháp vào Thuận An?

- HS đọc phần chữ nhỏ.

 Nêu nội dung Hiệp ước Quí Mùi?

+ Triều đình chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp.

+ Thu hẹp địa giới quản lí của triều đình (chỉ còn Trung Kì)

quân triều đình đánh Pháp bằng nhiều hình thức.

- Ngày 19/5/1883, quân ta giành thắng lợi trong trận Cầu Giấy lần thứ hai, Ri-vi-e bị giết tại trận.

- Triều đình vẫn chủ trương thương lượng với Pháp ⇒ Pháp quyết định tấn công kinh thành Huế.

3. Hiệp ước Pa-tơ-nốt. Nhà nước phong kiến Việt Nam sụp đổ (1884)

- Chiều 18/8/1883, Pháp bắt đầu tiến công vào Thuận An, đến ngày 20/8, Pháp đổ bộ lên khu vực này.

- Ngày 25/8/1883, triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Quí Mùi (thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì, Trung Kì).

+ Quyền ngoại giao của nước ta do Pháp nắm + Triều đình phải rút quân ở Bắc Kì về Trung Kì.

 Em có n.xét gì về Hiệp ước này? So sánh với Hiệp ước Giáp Tuất 1874?

- HS: các điều khoản, đ/kiện nặng nề hơn, tính chất thoả hiệp nghiêm trọng hơn  về cơ bản triều đình đã đầu hàng hoàn toàn ⇒ đây chính là Hiệp ước đầu hàng

 Thái độ của ND ta khi triều đình kí Hiệp ước 1883?

 Nêu hậu quả của Hiệp ước Quí Mùi?

- HS: + Phong trào k/c của ND lên mạnh.

+ Phe chủ chiến trong triều hình thành và hành động mạnh tay hơn.

 Tại sao Hiệp ước Pa-tơ-nốt được kí kết?

Hiệp ước Pa-tơ-nốt dẫn tới hậu quả ntn?

- GV kết luận: Với hiệp ước 1884, triều đình phong kiến VN đã mất vai trò LS. Với Hiệp ước này đã kết thúc quá trình đầu hàng hoàn toàn của triều đình Huế.

- Sau Hiệp ước Hác-măng, Pháp chiếm hàng loạt các tỉnh Bắc Kì:

Bắc Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên...

- Ngày 6/6/1884, Pháp buộc triều đình kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt. Với hiệp ước này, nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách một quốc gia độc lập đã hoàn toàn sụp đổ.

4. Củng cố bài: (5’)

* Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu hỏi: Nêu nội dung chủ yếu của Hiệp ước 1883 và 1884?

- Hiệp ước 1883 (Hiệp ước Quí Mùi)

+ Triều đình chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp.

+ Thu hẹp địa giới quản lí của triều đình (chỉ còn Trung Kì) + Quyền ngoại giao của nước ta do Pháp nắm

+ Triều đình phải rút quân từ Bắc Kì về Trung Kì

- Hiệp ước 1884 (Hiệp ước Pa-tơ-nốt): Giống như Hiệp ước 1883, chỉ điều chỉnh chút ít về ranh giới khu vực Trung Kì, mở rộng thêm vùng đất cho triều đình Huế được tạm thời cai quản (thực chất chỉ để làm dịu dư luận phản đối của 1 số quan lại trong triều đình Huế)

5. Hướng dẫn học ở nhà:(1’)

- Hướng dẫn HS cách học bài & làm bài ở nhà.

- Chuẩn bị bài mới: Bài 26 “Phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối thế kỉ XIX” cần nắm các nội dung:

+ Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến ở Huế tháng 7 - 1885 + Phong trào Cần Vương

TƯ LIỆU THAM KHẢO:

- Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai (1882): Lực lượng Pháp dưới quyền Trung tá hạm trưởng Henri Rivie được rời Sài Gòn ngày 26/3/1882 với 2 tàu chiến chở theo 2 đại đội thủy bộ binh, một toán biệt phái xạ thủ An Nam, 5 tàu sà-lúp máy

hơi nước, mỗi binh sĩ được trang bị 200 viên đạn. Trước khi lên đường, Rivie được lệnh phải tuân thủ hiệp định đã ký và chỉ được dùng vũ lực trong trường hợp cần thiết, tuy nhiên người ta cũng hiểu rằng chỉ cần có phản ứng nhỏ của quan lại Việt Nam thì Rivie lập tức hành động. Đại đội quân binh Pháp tới Hải Phòng ngày 2/4, đến Hà Nội ngày 3/4/1882, rồi đóng quân ở Đồn Thủy hiện đang có 2 đại đội thủy bộ binh đóng giữ dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Villers. Tổng số quân Pháp đóng ở ngoài thành Hà Nội lúc này là 600 bộ binh. Được tin quân Pháp động binh, quan binh Bắc Kỳ lo phòng bị chống giữ. Ngày 25/4/1882, vào lúc 5 giờ sáng, Rivie gởi tối hậu thư đến Tổng đốc Hoàng Diệu hạn đến 8 giờ sáng thì trong thành phải giải giáp và các quan lại phải đến trình diện tại Đồn Thủy nếu không Rivie sẽ chiếm thành. Trước đó triều đình Huế đã phái ngay Tả thị lang bộ Hộ Nguyễn Thành Ý vào Sài Gòn biện bạch về những lý do khiến cho người Pháp phải động binh đồng thời cũng gởi khẩn thư lệnh cho quan binh Bắc Kỳ phải giữ nguyên trạng thành HN như đã có trước khi các đội quân của Rivie kéo đến nhưng khẩn thư nầy tới quá trễ. Quân quan nhà Nguyễn trong thành HN tổ chức chống cự đơn độc mà ko có sự chi viện kịp thời của các cánh quân từ Sơn Tây (Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc) và Bắc Ninh (Trương Quang Đản), mặc dù cánh quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đóng ở Phủ Hoài (Dịch Vọng, Từ Liêm) cách Hà Nội không xa. Đúng 8h15, các pháo thuyền của Pháp từ bờ sông Hồng bắn đại bác vào thành. Tới 10h45, quân Pháp đổ bộ tấn công vào thành. Vào lúc 11 giờ thì quân Pháp chiếm được thành. Thiếu tá Villers và 3 binh sĩ Pháp bị thương. Trong thành Hà Nội, Hoàng Diệu cùng lãnh binh Hồ Văn Phong chỉ huy phòng thủ cửa Bắc, đề đốc Lê Văn Trinh giữ của Đông, lãnh binh Lê Trực giữ cửa Tây và lãnh binh Nguyễn Đình Đường giữ cửa Nam. Phía quân triều đình có 40 tử trận và chỉ có 20 bị thương, vì đa số đã binh lính đều bỏ thành chạy trốn. Ở cửa Đông và cửa Nam, Lê Văn Trinh và Nguyễn Đình Đường sợ hãi bỏ trốn.

Tổng đốc Hoàng Diệu cố gắng chống cự nhưng quân Pháp đã tràn vào thành, đành treo cổ tự vẫn dưới một cái cây trước Võ Miếu (nằm tại góc tây nam thành ở vị trí đầu phố Chu Văn An trước mặt trụ sở Bộ Ngoại giao ngày nay). Sau khi chiếm được thành, Rivie cho đi tìm Tôn Thất Bá để giao lại thành, nhưng quân Pháp vẫn ở lại Hành cung, đóng giữ cửa đông và cửa bắc. Hai bên chính thức ký kết việc giao trả thành HN vào ngày 29/4/1882, có hiệu lực từ 01/5/1882. Quân binh đồn trú của triều đình không được quá số 200 người và ko được xây đắp thêm hào lũy hay đồn canh phòng thủ chung quanh thành. Mặc dù trái lệnh ban đầu được giao về việc chỉ sử dụng vũ lực khi cần thiết, hành động của Rivie vẫn được thống đốc Nam Kỳ bao che và Rivie thậm chí còn được tặng thưởng huân chương về chiến tích này.

- Trận Cầu Giấy lần thứ hai (19/5/1883): Sau khi nhận được yêu cầu cứu viện của Rivie, chỉ huy hải quân Pháp ở Trung Quốc là đô đốc Mayer lập tức đưa quân Pháp tới ứng cứu, lực lượng này tới Hà Nội ngày 14/5/1883. Trong lúc đó người Pháp ở Hà Nội tiếp tục bị tấn công bởi một lực lượng mạnh từ 15 cho tới 20.000 quân. Sau khi quân tiếp viện của Mayer tới nơi, lực lượng Pháp bắt đầu quay lại phản công. Ngày 15, người Pháp đốt khu vực đồn trú của quân Cờ đen, một ngày sau đó quân Pháp dưới sự chỉ huy của Berthe de Villers tiến tới ngã ba sông Đuống. Tuy nhiên Rivie vẫn cảm thấy bất an và trong lúc chờ lực lượng cứu viện cho phép người Pháp chiếm Bắc Ninh và Sơn Tây, Rivie quyết định vào ngày 19/5 sẽ rút khỏi Hà Nội để tiến về

Phủ Hoài theo hướng Sơn Tây. Tối ngày 18, Rivière cho triệu tập các sĩ quan Pháp để thông báo quyết định chuyển quân, ông ta cho rằng hành động này của quân Pháp không có gì bất thường nên sẽ ít bị đối phương chú ý. Tuy nhiên Rivie không ngờ rằng kế hoạch của mình đã bị một người hầu gốc Hoa nghe được. 4h sáng ngày 19/5, lực lượng Pháp do Villers chỉ huy bắt đầu xuất phát, Rivie cũng có mặt trong đội quân này, cùng lúc một nhóm quân Pháp do đại úy Jacquin chỉ huy được lệnh canh chừng cho cuộc hành quân. Tới 6 giờ sáng thì các cuộc đụng độ giữa hai bên bắt đầu và quân Pháp chiếm được Cầu Giấy. Được thông báo trước về kế hoạch của người Pháp, quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc đã phục sẵn với đại bác ở khu vực làng Hạ Yên Khê (còn gọi là Hạ Yên Quyết) bên trái Cầu Giấy.Khi quân Pháp tiến gần làng thì lính Cờ đen bắt đầu nổ súng làm Villers thiệt mạng. Nhận thấy đối phương với lực lượng đông đảo có dấu hiệu chặn đường rút lui của mình, Rivie ra lệnh cho quân Pháp vừa đánh vừa lùi, một loạt lính Pháp cùng hai sĩ quan bị giết, một số khác bị thương. Trong khi đang lùi quân thì một khẩu đại bác của quân Pháp bị rơi xuống ruộng lúa buộc Rivie phải chỉ huy quân kéo khẩu súng lên đường vì không muốn nó lọt vào tay quân Cờ đen. Bất ngờ quân Cờ đen nổ súng vào vị trí của Rivie khiến ông ta tử vong cùng viên đại úy Jacquin và một lính thủy. Sau khi Rivie chết, quân Cờ đen tiến tới cắt đầu và tay của ông ta để làm chiến lợi phẩm. Đến 9h30 thì tàn quân Pháp rút về tới thành Hà Nội trong sự truy đuổi ráo riết của quân Cờ đen. Quân Pháp trong thành buộc phải cố thủ và phái người tới Hải Phòng xin tiếp viện.

V. RÚT KINH NGHIỆM:

………

………

………

………

Tiết 40 Bài 26:

PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN

Một phần của tài liệu GA su 8, 18-19 (Trang 144 - 149)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(193 trang)
w