CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ NĂM 1858

Một phần của tài liệu GA su 8, 18-19 (Trang 136 - 140)

CUỘC KHÁNG CHIẾN TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873

II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ NĂM 1858

1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì

* Tại Đà Nẵng: Nhiều toán nghĩa quân đã kết hợp với quân triều đình đánh Pháp.

* Tại ba tỉnh miền Đông Nam Kì:

- Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hi vọng của Pháp trên

- GV hướng dẫn HS quan sát h.85 trong SGK (dựa vào HDSDKH... trang 114).

- GV chỉ trên bản đồ địa bàn hoạt động của cuộc khởi nghĩa: Gò Công, Tân An, Mĩ Tho, Chợ Lớn, Gia Định, 2 nhánh sông Vàm Cỏ, từ biển Đông lên tới Cam-pu-chia.

 ND ta đã anh dũng k/c chống Pháp ntn?

- HS: ND ta quyết tâm kháng Pháp, PT ở 3 tỉnh miền Đông pt’ sôi nổi, đã hình thành các trung tâm k/c lớn: Trương Định, Võ Duy Dương (Đồng Tháp Mười), hình thành cách đánh rất hiệu quả “đánh pháo thuyền” của Nguyễn Trung Trực làm cho TD Pháp ăn không ngon, ngủ không yên.

Hoạt động 2:(7’)

 Tình hình nước ta sau điều ước 1862 ntn?

- HS: + Triều đình tập trung lực lượng đàn áp các cuộc k.n ở Trung và Bắc Kì, ngăn trở PT k/c ở Nam Kì.

+ Sang Pháp xin chuộc 3 tỉnh miền Đông nhưng thất bại.

 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì ntn?

- GV chỉ trên bản đồ 3 tỉnh miền Tây.

- HS đọc phần chữ nhỏ trong mục 2

 PT k/c chống Pháp của ND 6 tỉnh Nam Kì diễn ra ntn?

- HS lên chỉ những điểm nổ ra k.n trên bản đồ.

- GV kể về những tấm gương chiến đấu kiên cường, bất khuất: Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực. Dùng văn thơ để chiến đấu như:

Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị

 Em hãy đọc 1 đoạn thơ k/c chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu mà em biết?

(Bài Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc)

 Phong trào k/c của nhân dân 3 tỉnh miền Đông và miền Tây giống và khác nhau ntn?

+ Giống: Phong trào sôi nổi, đều khắp ở những nơi thực dân Pháp XL.

sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861).

- Khởi nghĩa Trương Định ở Gò Công làm cho quân Pháp khốn đốn và gây cho chúng nhiều thiệt hại.

2. Kháng chiến lan rộng ra ba tỉnh miền Tây Nam Kì

- Triều đình Huế ngăn cản phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta ở Nam Kì, ra lệnh bãi binh.

- Do thái độ cầu hòa của triều đình Huế, từ ngày 20 - 24/6/1867 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) không tốn một viên đạn.

- Nhân dân Nam Kì nổi lên chống Pháp với nhiều hình thức:

+ Kiên quyết đấu tranh vũ trang, nhiều trung tâm kháng chiến ra đời: Đồng Tháp Mười, Tây Ninh…

+ Dùng văn thơ để chiến đấu.

+ Khác: PT ở 3 tỉnh miền Đông sôi nổi và quyết liệt hơn, hỡnh thành ủ trung tõm k/c lớn.

3 tỉnh miền Tõy khụng cú ủ trung tõm k/c lớn.

 Vì sao có sự khác nhau đó?

- HS: Pháp rút kinh nghiệm ở 3 tỉnh miền Đông, chúng thành lập sẵn hệ thống c/quyền ở miền Đông sang áp đặt vào 3 tỉnh miền Tây, cho nên PT ở 3 tỉnh miền Tây  khó khăn hơn.

4. Củng cố bài: (5’)

* Hướng dẫn HS trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 2: Tinh thần kháng chiến chống Pháp xâm lược của ND ta được thể hiện ntn?

Tại Đà Nẵng, nhiều toán nghĩa binh nổi lên phối hợp chặt chẽ với q.triều đình để chống giặc. Khi Pháp đánh vào Gia Định nghĩa quân Ng.Trung Trực đã đốt cháy tàu Ét-pê-răng của Pháp trên s.Vàm Cỏ Đông tại địa phận thôn Nhật Tảo (10/12/1861).

Đặc biệt cuộc k.n do Trương Định l/đạo đã làm cho địch lao đao, khốn đốn.

5. Hướng dẫn học ở nhà:(1’)

- Hướng dẫn HS cách học bài & làm bài ở nhà.

- Chuẩn bị bài mới: Bài 25 “K/c lan rộng ra toàn quốc” cần nắm các nội dung:

+ Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882) + Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng Pháp.

TƯ LIỆU THAM KHẢO:

- Trương Định: sinh tại phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê-Sơn Tịnh-Quảng Ngãi). Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam. Sau khi cha mất, ông kết hôn với bà Lê Thị Thưởng, vốn là con gái của một hào phú ở huyện Tân Hòa (Gò Công Đông ngày nay). Năm 1854, nhờ sự trợ giúp của bên vợ, Trương Định xuất tiền ra chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận (Gò Công), vì thế, ông được nhà Nguyễn phong chức Phó quản cơ. Tháng 2/1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem nghĩa binh lên đóng ở Thuận Kiều chống trả và đã từng thắng nhiều trận ở Cây Mai, Thị Nghè... Đầu năm 1861, Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai, Trương Định đem quân của mình phối hợp với binh của tướng Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Chí Hòa. Khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông lui về Gò Công chiêu binh ứng nghĩa, trấn giữ vùng Gia Định-Định Tường. Ở đây, Trương Định tổ chức lại lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười và kéo dài đến tận biên giới Cam-pu-chia. Đầu năm 1862 Pháp chiếm Biên Hòa, Trương Định đứng lên mộ nghĩa, người hưởng ứng theo hơn vạn người. Ngày 5/6/1862, triều đình nhà Nguyễn ký kết hòa ước với Pháp.

Bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh, ông rút quân về Gò Công, lấy nơi này làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa k/c, được ND tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái.

Ngày 16/12/1862, Trương Định đã ra lệnh tấn công các vị trí của quân Pháp ở cả ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đẩy Pháp vào tình thế lúng túng, bị động. Tháng 2/1863, nhờ có viện binh, Pháp phản công tại Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công.

Ngày 26/2/1863, Pháp đánh chiếm thành trì, ông thoát khỏi vòng vây và kéo quân về Biên Hòa. Tháng 9/1863, giặc mở cuộc càn quét thứ hai, bắt được vợ con và một số

tùy tùng của Trương Định. Ngày 19/8/1864 , Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh thất thủ, Trương Định bị trọng thương (gãy xương sống) nên đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công) để bảo toàn khí tiết vào sáng ngày 20/8/1864. Hay tin Trương Định tuẫn tiết, vua Tự Đức sai truy tặng ông phẩm hàm, và 1871 lại cho lập đền thờ ông tại Tư Cung (Quảng Ngãi). Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp thêm 6 năm nữa.

- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888): sinh tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849) cùng đi với em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi). Ngày 31/12/1848, mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ. Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất vả và thời tiết thất thường, nên đến Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng, sau đó bị mù cả hai mắt. Lâm cảnh đui mù, hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút... Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851, thì mở trường dạy học và làm thuốc ở Gia Định. Truyện thơ “Lục Vân Tiên” có lẽ được sáng tác vào thời gian này.

Năm 1859, quân Pháp nổ súng tấn công Gia Định. Vô cùng đau đớn trước thảm cảnh mà quân Pháp đã gây nên cho đồng bào và rất thất vọng về sự hèn yếu, bất lực của triều đình, ông làm bài thơ "Chạy giặc".

Đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (16/12/1861), những nghĩa sĩ mà trước đây vốn là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã quả cảm tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng 15 nghĩa sĩ bỏ mình. Những tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu làm bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận đánh này.

Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất về tay Pháp, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Thanh Ba (Cần Giuộc) về Ba Tri (Bến Tre), ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình ra phục vụ cuộc ĐT anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt trong hơn 20 năm, dù đã mù lòa.

V. RÚT KINH NGHIỆM:

………

………

………

………

- Ngày soạn: 17/01/2019 -Ngày giảng: 23/01/2019

Tiết 38 Bài 25:

Một phần của tài liệu GA su 8, 18-19 (Trang 136 - 140)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(193 trang)
w