THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI

Một phần của tài liệu Marketing Quốc Tế: Phần 2.Pdf (Trang 24 - 47)

Chúng ta có thể tự hỏi các quốc gia đang phát triển và các thị trường đang nổi (Emerging markets) gồm các quốc gia nào

348 CHUONG 6: CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CŨ HỘI CHO CÁC CÔNG TY và các thị trường nào với các chỉ số liên hệ như: dân số, tổng sản lượng nội địa (GDP) tính theo đầu người, GDP và trị giá mậu dịch (gồm xuất và nhập khẩu)

Việc chuyển đổi từ các nên bình tế xã hội chủ nghĩa sang bình tế thị trường (ở VN được gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), 0iệc tự do hóa các chánh sách thương mại uà đầu tư trong các nước đang phát triển, uiệc chuyển đổi các xí nghiệp thuộc khu Uục quốc doanh sang khu vuc tu nhân, va uiệc phát triển nhanh các liên mình thị trường khu vuc (the rapid development of regional market alliances) dang lam biến đổi diện mạo các quốc gia sẽ tạo điêu kiện thuận lợi cho thuong mai va tao su thanh vuong trong thé ky 21.

Minh Họa 6.4: Các Thị Trường Lớn Đang Nổi

Quốc Gia Dân Số GDP* GDP" (mỗi Nhập Xuất Khẩu (Tỷ) đầu người) Khẩu Hàng và

Hàng Hóa Dịch Vụ 'và Dịch Vụ (tỷ USD)

(tỷ USD) s Á Châu

Trung Quốc 1/2884 — 1.375,2 5.196USD 441,8 502,8

An 1.064,4 543,7 511 83,7 88,6

Đại Hàn 47,9 586,1 12.232 213,8 266,4

Việt Nam 81,3 38,2 470 28,6 23,9

e My La-Tinh

Argentina 46,8 263,5 7.165 19,4 34,7

Brazil 176,6 619,9 3.510 63,8 88,0

Colombia 44,6 89,9 2.017 19,1 18,6

Mexico 102,3 §92,5 5.792 189,2 177,9

s Âu Châu

Ba Lan 38,2 177,0 4.634 60,0 56,7

Thé Nhi Ky 70,7 210,5 2.997 69,5 66,3

ô Phi Chõu

Nam Phi 45,8 138,7 3.026 37,6 37,4

Source: World Bank, 2005, World Development Indicators

* Đô-la cố định năm 2000

DUONG HUU HANH 349

Công Nghệ R!ú¡

của Sản Phim Giúp Đẩy Mạnh Tiêu Thụ, Chiếm Thị Phần Cao Hơn

va Tang Sue Canh Tranh Trén

Thị Trường

Cong nghệ COMA 2000 1x EY-D0 chủ phép xem tivi, phím ảnh trực tiếp trên điện Kị D thoại dỉ độmg, rút tiền tử máy ATM, mua hàng tử máy bán hàng tự động, thanh toán điện tử... Trong ảnh: nhân viên Tập đoàn SK - Telecom: (Han tuốt), một dối tác tiấu tw và khai thác mạng $-Fonte lại VN, giới thiệu tiện ích xem truyền hình Qua mang dlén thoai CDMA

Bộ Thương Mại Mỹ ước đoán trên 75% mức tăng trưởng kỳ vọng của thương mại thế giới (the expected growth in world trade) trong hai thập niên tới sẽ phát xuất từ hơn 130 quốc gia đang phát triển và các quốc gia công nghệ mới (NICs). Một kỷ lục nhỏ của các quốc gia này là sẽ chiếm hơn phân nữa tốc độ tăng trưởng đó (“Big Emerging Markets Share of World Export Continues to Rise”, Business America, March 1994, p. 28). Họ tiên đoán chỉ có

các nước được xem như là các thị trường lớn đang nổi BEMs (big emerging markets) sẽ là thị trường nhập khẩu lớn vào cuối năm 2000 hơn là Liên Minh Châu Âu và Nhựt Bổn cộng lại.

Theo Bộ Thương Mại Mỹ, các thị trường lớn đang nổi (BEMs) sẽ cùng nhau chia sẻ 8 nét quan trọng sau:

ứ Họ đều là thị trường lớn xột về-phạm vi địa lý e Đều có đân số đông

350 CHUONG 6: CAC THI TRUONG DANG NOI: CO HO! CHO CAC CONG TY

ô Tiờu biểu cho cỏc thị trường quan trọng đối với hàng loạt sản phẩm chế tạo khác nhau

e Đều có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế mạnh (như Trung Quốc bình quân khoảng 9%/năm và Việt Nam: 7,5%/nam) hay có tốc độ tăng trưởng tiểm năng quan trọng

ứ Đó thực hiện cỏc chương trỡnh cải cỏch kinh tế đẩy ý nghĩa cụ thể như Việt Nam và Trung Quốc

ứô Đều cú tầm quan trọng về chỏnh trị đỏng kể trong cỏc khu vực của họ

s Tất cả đều là “các nhà định hướng kinh tế khu vực”

(regional economic drivers)

e Tất cả sẽ tạo ra việc bành trướng ở các thị trường lân cận khi các nước đó phát triển kinh tế

Mặc dù các tiêu chuẩn này đều có tính tổng quát xét về bản chất và mỗi nước không đáp ứng được mọi tiêu chuẩn, Bộ Thương Mại Mỹ (Department of Commerce) đã nhận diện các thị trường đang nổi lớn (BEMs) được liệt kê trong Minh Họa 6.4 như sau: ở Á Châu: Trung Quốc, Indonesia, Ấn, và Hàn Quốc; ở Mỹ La-Tinh: Mexico, Argentina, và Brazil; ở Phi Châu:

Nam Phi; ở Trung Âu: Ba Lan; và Nam Âu: Thể Nhĩ Kỳ.

Chúng ta có thể kể các thị trường đang nổi, lớn và các khía cạnh: dân số, GDP, GDP tính theo đầu người và xuất nhập khẩu (thương mại). Các khía cạnh trên đều khác nhau giữa các nước:

Á Châu Mỹ La-Tinh = Phi Chau Au Chau Cac Quéc Gia Có Thể Bổ Sung

Trung Quốc Mexico Nam My BaLan Cotombia

Indonesia Argentina Thổ Nhĩ Kỳ Thái Lan

Ấn Brazil Venezuela

Hàn Quốc : Việt Nam

DUONG HUU HANH 351

Các nước khác như Ai Cập, Venezuela và Colombia có thể đưa vào dznh sách trong tương lai gần. Danh sách này có tính chất linh hoạt vì một số nước sẽ bị biến mất trong khi các nước khác sẽ được bổ sung do các điều kiện kinh tế thay đổi. Thông điệp đã rõ ràng: Bộ Thương Mại Mỹ muốn tập trung vào các nước chứng tỏ có tiềm năng tăng trưởng lớn nhứt. Số tiền cho vay của Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Mỹ (Export - Import Bank) và bảo hiểm rủi ro chánh trị được xoáy mạnh vào các khu vực này.

BEMs khác với các nước đang phát triển khác vì họ nhập khẩu nhiều hơn các thị trường nhỏ hơn và nhiều hơn các nền kinh tế có quy mô tương tợ. Khi họ bắt đầu phát triển kinh tế, mức cầu về thiết bị, dây chuyển máy móc sẽ gia tăng để xây dựng cơ sở chế tạo và phát triển cơ sở hạ tầng. Hoạt động kinh tế gia tăng có nghĩa là tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn và có thu nhập nhiều hơn được dùng cho chi tiêu các sản phẩm chưa sản xuất được ở địa phương. Do đó, khi nền kinh tế của họ bành trướng, sẽ có mức độ tăng trưởng gia téc (an accelerated growth) về mức cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, đa số trong số đó đều phải nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu của BEMs ước tính gần 1 ngàn tỷ USD (1.000.000.000.000$) cao hơn con số thực hiện trong năm 1990; nếu các dịch vụ được tính vào, số tiền nói trên sẽ vượt khỏi 1 ngàn tỷ USD và tất nhiên năm 2007, con số 2y đã nhảy lên hơn 1 ngàn tỷ dollar. Vì nhiều nước trong sế các nước này thiếu cơ sở hạ tầng hiện đại, các khu vực kỹ nghệ sẽ tăng trưởng nhiều trong tương lai như công nghệ thông tin, công nghệ môi trường, vận tải, công nghệ năng lượng, công nghệ chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ tài chính.

Thí dụ, Ấn Độ có chưa tới 46 triệu điện thoại và chưa tới 25

triệu điện thoại di động để phục vụ cho dân số hơn 1 tỷ, và Thổ Nhĩ Kỳ có các kế hoạch cải tiến các dịch vụ sức khỏe sẽ làm gia tăng mức cầu đối với các dịch vụ bệnh viện tư và đầu tư thiết bị mới.

Hiện nay, Nhựt Bổn, Châu Âu, và các quốc gia tân công

352 CHƯƠNG 6: CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CƠ HỘI CHO CAC CÔNG TY

nghiệp (NIOs) đã trở thành các đối thủ cạnh tranh đữ dội trong các thị trường đang nổi.

6.3.1- Khu Vực Châu Mỹ

Hiệp Định Thương Mại Tự Do Bắc Mỹ “NAFTA” (The

North American Free Trade Agreement) đã đánh đấu một điểm

quan trọng trong cuộc cách mạng chánh trị và kinh tế thầm lặng đã xảy ra ở khu vực Bắc Mỹ (Xem Bản Đồ 6-1) trong hai thập niên qua. Hầu hết các quốc gia đã thay đổi từ chế độ độc tài quân sự sang các chánh quyển bầu cử một cách dân chủ (democratically elected governments), trong khi việc tự do hóa kinh tế và thương mại lan tràn đang thay thế mô hình kinh tế mà đa số các quốc gia Mỹ La-Tinh đã theo đuổi trong nhiều thập niên. Ngày nay, nhiều nước Mỹ La-Tinh đang thực hiện cùng giai đoạn tự do hóa (liberalization) vốn đã tạo nên mức tăng trưởng năng động ở Châu Á trong ba thập niên qua.

NAFTA đánh dấu bắt đầu một kỹ nguyên khi tất cả các nước thuộc khu vực Bắc Mỹ cuối cùng tham gia như là các đối tác đang cùng tìm kiếm sự thanh vượng hỗ tương (lẫn nhau)

DUONG HUU HANH 353 Map 6-1 The Americas

= > Alaska ~—>_——=& /

~ nited States)/

s 217 NS

“ ATLANTIC

OCEAN

` xv

+ - 0e Sates) NẺ

zor

v

PACIFIC a

oo BOL’,

OCEAN we PARAGUAY a

o

t i

i ằ `

° , +

160" 440 320" sort oo a 20° #

Khuynh hướng tiến đến việc tư nhân bóa (privatization) các xí nghiệp sở hữu nhà nước (state - owned enterprises) hay quốc đoanh tiếp theo sau thời kỳ các chánh quyển chỉ phối đời

354 CHƯƠNG 6: CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CƠ HỘI CHO CAC CONG TY

sống kinh tế trong hầu hết thế kỷ 20. Quyền sở hữu nhà nước (State ownership) da ting được xem là động lực lý tưởng cho tăng trưởng kinh tế (trường hợp của Trung Quốc và Việt Nam, riêng Việt Nam được tính từ năm 1986 trở về trước). Tuy nhiên, thay vì tăng trưởng kinh tế, các công ty quốc doanh luôn làm ăn thua lỗ, không hiệu quả, ngân sách nhà nước phải bù lỗ, quản trị và điều hành kém cỏi, loại bỏ triệt để quyền sở hữu tư nhân trong nước và nuéc ngoai (foreign and domestic private ownership). Một số ngành không đầu tư vào công nghệ mới và do đó đã mất khả năng cạnh tranh. Một cuộc nghiên cứu về 35 công ty thép ở Brazil đã ghi nhận chỉ có 8 phòng thí nghiệm nghiên cứu và chỉ có một tổ chức đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D). Chính vì thế, năng lực sản xuất vẫn đứng yên trải dài một thập niên.

Ngoài năng lực sản xuất thấp, đa số các xí nghiệp quốc doanh cần sự hỗ trợ tài chánh của chánh phủ mới duy trì, tổn

tại

Các tân lãnh đạo quốc gia đã chuyển từ các chánh sách đóng cửa cổ truyền của quá khứ để thực hiện các cải cách tích cực hướng về thị trường và tìm các phương cách cho hợp tác kinh tế. Tư nhân hóa các xí nghiệp sở hữu nhà nước SOEs (state- owned enterprises) và các cải cách chánh sách kinh tế,

tiền tệ và hương mại khác đã cho thấy có sự chuyển dịch từ các chánh sách hướng nội (inward looking policies of import substitution) thay thế nhập khẩu (tức là chế tạo sản phẩm trong nước thay thế cho hàng nhập khẩu) và thực hiện chế độ bảo hộ (protectionism). Để đáp ứng tích cực cho các cải cách này, các nhà đầu tư đã để đầu tư hàng tỷ USD vào các nhà máy chế tạo, đường hàng không, các ngân hàng, các công trình công cộng và các hệ thống viễn thông.

Tỷ lệ tư nhân hóa và tốc độ tăng trưởng kinh tế thay đổi khác nhau giữa các nước Mỹ La-Tinh.

Argentina, Chile và Mexico, đều nằm trong số các nước có

DUONG HUU HANH 355

các cải cách về định chế nhanh. Tất cả lạm phát đều được kiểm soát; Argentina đã cho thấy việc sụt giảm lạm phát ngoạn mục nhứt, giảm từ tỷ lệ hàng năm 672% năm 1985 xuống còn 7% năm 1993 (Việt Nam cũng tương tợ)

Mexico là nước dẫn đầu việc tư nhân hóa và giảm thuế quan (lowering tariffs) ngay trước khi gia nhập NAFTA. Trên 750 doanh nghiệp, bao gồm công ty điện thoại, nhà máy thép, hãng hàng không, và các ngân hàng đã được đem bán (Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, Vietcombank của Việt Nar.

cũng đã được cổ phần hóa, tức bán cho công chúng). Pemex, công ty dầu hỏa quốc gia là ngành chủ yếu duy nhứt của Mexico đã không được tư nhân hóa, mặc dù việc hạn chế các dự án liên doanh giữ Pemex và các công ty ngoại quốc đã được tự do hóa.

Ngoài việc tư nhân hóa và thuế quan thấp, đa số các nước Mỹ La-Tinh đã tạo ra một môi trường hấp dẫn để thu hút vốn từ nước ngoài. Chi-Lê, Mexico và Bolivia đều là các nước đầu tiên cắt giảm mạnh thuế quan từ mức cao 100% hay nhiều hơn xuống còn tối đa 10% đến 20%. Các thuế như là các hàng rào thương mại phi thuế quan (nontariff trade barriers) đã được loại bỏ như các hạn chế chuyển lợi nhuận về nước (repatriation of profits). Chanh diéu này và các thay đổi khác đã tạo ra sinh lực cho các chánh quyền, dân chúng và các nhà đầu tư ngoại quốc.

Có một thái độ tích cực về hợp tác kinh doanh ở mọi mức độ ở Mỹ La-Tinh vì nhiều người hiểu rằng các quốc gia họ sẽ bị tụt hậu nếu không thực hiện điều đó. Mối quan tâm này được phản ánh trong lời nhận định sau của nhà thương thuyết thương mại Argentina khi ông nói: “Việc toàn cầu hóa thương)

mại đã khiến chúng tôi hiểu việc khẩn cấp phải thành lập

khối kinh tế khu vực”

356 CHƯƠNG 6: CÁC THỊ TRƯỜNG ĐANG NỔI: CŨ HỘI CHO CAC CONG Ty

Free markets such as this one have emerged all over China as new laws allowing private ownership have been passed.

Vì cơ sở quy mô và tài nguyên của họ, thị trường Mỹ La- Tỉnh luôn được xem có triển vọng to lớn về kinh tế và thị trường. Dân số gần 460 triệu, lớn hơn Mỹ và Liên Minh Châu Âu (EU). Hâu như 60% thương mại hàng hóa ở Mỹ La-Tinh được giao dịch với các nước ở Tây Bán Cầu. Riêng Mỹ đã cung cấp hơn 40% hàng hóa nhập của Mỹ La-Tinh và cũng mua một tỷ lệ tương đương của các nước này. Các cải cách chánh sách kinh tế và thương mại xảy ra ở các nước Mỹ La-Tinh tượng trưng cho tiểm năng to lớn về thương mại và đầu tư. Các hiệp định khung đa phương đã được thương thuyết cho đến nay (12 quốc gia và hai nhóm thị trường chung) bao gồm các mục tiêu tương tợ. Chúng đều dựa trên thỏa thuận về năm nguyên tắc liên quan:

® các lợi ích của việc mở cửa thương mại và đầu tư

® tầm quan trọng của hoạt động dịch vụ gia tăng đối với các nên kinh tế;

DUONG HUU HANH | 357

® nhu cầu bảo vệ đầy đủ các quyền sở hữu trí tuệ ;

® tầm quan trọng của việc tôn trọng và thúc đẩy các quyền lao động

® mong muốn giải quyết các vấn đề thương mại và đầu

tư nhanh

Từ khi xí nghiệp thành lập do sáng kiến của Mỹ Châu EAI (Enterprise for the Americas Initiative) được thành lập do chánh phủ Mỹ để nghị, Mỹ La-Tinh đã trở thành một trong các khu vực tăng trưởng kinh tế nhanh nhứt thế giới. Nhiều quốc gia đã mở cửa các thị trường của họ và thiết lập các chánh sách để cải thiện các nền kinh tế của họ và làm giảm siêu lạm phát vốn đã gây khó khăn của khu vực này trong các thập niên 1960 và 1970.

Các điều kiện thương mại được cải tiến này đã khiến cho một số kinh tế gia khuyến cáo việc bành trướng NAFTA, xuyên qua Mỹ La-Tinh tốt hơn là thương thuyết các hiệp định song phương riêng biệt theo BAI. Các hiệp định thương mại riêng biệt với Mỹ tốn quá nhiều thời gian và kết hợp với nhiều hiệp định thương mại tự do hiện nay đang phát triển dần giữa các nước Mỹ La-Tinh có thể dẫn đến việc lẫn lộn bộ các quy tắc thương mại tự do sai lệch với tiềm năng sẽ làm giảm thương mại tự do hiện nay. Một cuộc nghiên cứu của Viện Kinh Tế Quốc Tế ghỉ nhận rằng Argentina, Brazil, Bolivia, Chi-lê, Colombia, Paraguay, Uruguay va nhiéu quéc gia vùng Caribê được xếp hạng cao trên bậc thang “tiêu chuẩn sấn sàng”

(readiness criteria): giá cả ổn định, có kỷ luật về ngân sách, các chánh sách định hướng thị trường và nền dân chủ vận, hành so với Mexico vào lúc bắt đâu đàm phán về NAFTA.

Do đó, chúng là các ứng viên đúng đắn có thể thực hiện được đối với Hiệp Định Thương Mại Tự Do Tây Bán Cầu WAFTA (Western Hemisphere Free Trade Agreement) để thay thế NAFTA. Một hiệp định như thế có thể tăng cường mối thắt chặt thương mại trong khu vực, chiếm hữu trước việc quá dư

358 CHƯƠNG 6: CÁC THỊ TRUONG BANG NGI: CO HOI CHO CAC CÔNG TY

thừa các hiệp định thương mại nhỏ hơn, gia tăng thương mai và tạo nên ý nghĩa kinh tế cho khu vực. Mỹ và Canada. Có hay không WHFTA, hầu hết các nước ở Châu Mỹ đêu đang chuyển hướng sang sức mạnh kinh tế to lớn hơn, đã bành trướng các thị trường, và đã chấp nhận dứt khoát triết lý thị trường tự do với cùng lòng hăng hái như họ chấp nhận các thực hành thương mại hạn chế nhiều thập niên trước.

Chúng ta có thể tìm hiểu dữ kiện kinh tế và xã hội của các nước chọn lựa như Mỹ, Argentina, Brazil, Colombia, Mexico và

Venezuela về các khía cạnh thông qua % trong tổng số:

®© Thực phẩm

® Quần áo

® Các giường bệnh cho 1000 người

® Số bác sĩ

® Số người biết chữ (%)

® Thu nhập của ngành du lịch

6.3.2- Đông Âu và Các Quốc Gia Vùng Baltic

Đông Âu và các nước vùng ban-tíc (Xem Minh Họa 6.5), các quốc gia vệ tỉnh của Liên Bang Xô-Viết cũ, đang chuyển dịch nhanh để thiết lập các hệ thống thị trường tự do. Các cơ hội kinh doanh mới đang nổi lên hầu như hàng ngày tại khu vực này. Theo đuổi kinh tế thị trường, từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây, được xếp vào loại các thị trường đang nổi quan

trọng.

œ. Đông Âu

Không thể khái quát hóa một số nét về Đông Âu vì mỗi nước đều có các vấn dé kinh tế riêng của họ và mỗi nước đều có điểm khác biệt trong tiến trình từ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường (xem Minh Họa 6.5). Hau hết các xi nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOBs) đều được tư nhân hóa

Một phần của tài liệu Marketing Quốc Tế: Phần 2.Pdf (Trang 24 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(446 trang)