1. MỤC TIÊU:
1.1. Kiến thức:
- Hiểu được ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn - Biết được những cách tân nghệ thuật trong bài thơ.
1.2. Kĩ năng:
- Đọc hiểu bài thoe theo đặc trưng thể loại - Bình giảng những câu thơ hay.
- Kĩ năng tư duy.
1.3. Thái độ: Biết bình giảng những câu thơ hay mang dấu ấn riêng của tác giả 2. TRỌNG TÂM:
- Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà
- Những sáng tạo trong hình thức nghệ thuật trong bài thơ: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do: giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ sinh động
3. CHUẨN BỊ:
3.1* GV: Thơ của Tản Đà
3.2* HS: Đọc kĩ văn bản sách giáo khoa và chuẩn bị các câu hỏi sau văn bản.
4. TIẾN TRÌNH:
4.1.Ổn định lớp:
4.2- Kiểm tra. Em hãy nêu nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Xuất dương lưu biệt?
4.3- Bài mới:
Hoạt động của T-T Nội dung
* Hoạt động 1: Tạo tâm thế cho hs: Là một nhà văn mang một lối sống phóng túng, từng đeo túi thơ đi khắp ba miền, nếm đủ cay đắng, ngọt bùi -> Là nhà văn sống bằng nghề viết báo.
* Hoạt động 2: Tái hiện tác phẩm CH: Nêu những nét chính về cuộc đời Tản Đà?
- Xuất thân?
- Đặc điểm con người?
I – Giới thiệu chung
1- Tản Đà Tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu (1889- 1939) . Quê: Bất Bạt – Sơn Tây (Nay: Ba Vì – Hà Tây) nằm bên bờ sông Đà, chân núi Tản Viên.=> Tản Đà.
Sự nghiệp?
CH: Nêu những tác phẩm chính của nhà thơ?
HS đọc văn bản.
CH: Nêu xuất xứ bài thơ?
CH: Hãy nêu bố cục bài thơ?Nêu nnoij dung của từng phần?
CH: Nêu chủ đề bài thơ?
*Hoạt động 3: Phân tích cắt nghĩa
Kĩ năng tư duy: Suy nghĩ và cho biết:
CH: Cho biết nguyên nhân dẫn đến việc hầu trời?
Nêu thời điểm, lí do Tản Đà lên đọc thơ hầu trời?
+ Sinh ra trong gia đình truyền thống khoa bảng.
+ Hai lần thi hương không đỗ, chuyển làm nghề làm báo, viết văn (+ Ông có sống phóng túng, từng đeo khắp túi thơ đi khắp ba miền, nếm đủ cay đắng, ngọt bùi. Tuy nhiên ông vẫn giữ cốt cách nhà nho và phẩm chất trong sạch.
+ Sự nghiệp:
- Thơ: Khối tình con I, II, III (xuất bản 1916, 1918, 1932) Còn chơi ( 1921) Thơ Tản Đà ( 1925).
- Văn xuôi: Giấc mộng lớn ( 1928) Giấc mộng con I, II (1916 – 1932). Tản Đà văn tập (1932).
- Ngoài ra: chú giải Truyện Kiều, dịch Kinh thi, Liêu Tari chí dị.
2- Văn bản a- Xuất xứ:
Hầu trời in trong tập “Còn chơi” (1921).
b- Giải nghĩa Phần chú thích.
c- Bố cục
+ 20 câu đầu: Kể lí do cùng thời điểm được lên đọc thơ “Hầu Trời”.
+ Câu 21 đến câu 68: kể về cuộc đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe giữa chốn “Thiên môn đế khuyết”.
+ Câu 69 đến 98: Lời tâm tình với Trời về tình cảnh khốn khó của nghề viết văn và thực hành
“Thiên lương” ở hạ giới.
+ Còn lại: Phút chia li đầy xúc động giữa nhà thơ với Trời, chư tiên.
d- Chủ đề:
Miêu tả lí do và thời điểm lên đọc thơ hầu trời để thể hiện cái tôi thật tài hoa, phóng túng và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời. Đồng thời tình cảnh khốn khó của nghề viết văn, thực hành thiên lương ở hạ giới, phút lưu luyến khi tiễn biệt.
II- Đọc – hiểu văn bản
1- Lí do và thời điểm lên đọc thơ “Hầu Trời”.
* Thời điểm : Đó là đêm trăng sáng, vào lúc canh ba (rất khuya).
- Nhà thơ không ngủ được, thức bên ngọn đèn xanh, vắt chân chữ ngũ.
- Tâm trạng buồn.
- Ngồi dậy đun nước uống và ngâm văn.
- Ngắm trăng trên sân nhà.
- Chợt hai cô tiên xuất hiện cùng cười nói: “Trời đang mắng vì nhà ngươi đọc thơ mất giấc ngủ của
CH: Hãy nhận xét cách kể chuyện của Tản Đà?
CH: Nhận xét nghệ thuật của đoạn thơ?
CH: Tác giả kể lại chuyện đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe như thế nào?
CH: Em có suy nghĩ gi về cái ngông của thi sĩ trong đoạn thơ?
Cách kể và miêu tả của văn sĩ hạ giới ?
CH: Thái độ của người nghe thơ qua ngòi bút của thi sĩ?
Tại sao trời khen thơ của Tản
Trời và mời lên đọc thơ cho Trời nghe.
* Lí do: Trời đã sai gọi, buộc phải lên.
=> Trước hết là cách kể chuyện làm cho người đọc, người nghe chú ý:
“ Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng, Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.”
=> Đó là cách vào đề rất tự nhiên. Nhân vật trữ tình vừa như giãi bày, vừa như khẳng định, đây là chuyện có thật. Một sự thỏa thuận cần thiết đối với người nghe. Đoc đến đây, người đọc không thể bỏ qua những chi tiết:
“ Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà”.
Âm vang của giọng đọc vừa có âm vực (cao), vừa có trường độ (dài) đến nỗi vọng lên cả sông Ngân Hà trên trời.
+ “ Ước mãi bây giờ mới gặp tiên, Người tiên nghe tiếng lại như quen”.
=> Câu 1 không có gì mới. Câu 2 là cách nói, cách kể rất tế nhị. Quen với cả tiên. Nhân vật trữ tình cũng là vị “trích tiên” (Tiên bị đầy xuống hạ giới).
Việc lên đọc thơ hầu Trời là việc bất đắc dĩ.
“ Trời đã sai gọi thời phải lên”.
=> Có cái gì ngông nghênh, kiêu bạt, tự nâng mình lên trên thiên hạ. Trời cũng nể phải sai người gọi lên.
2- Cuộc đọc thơ đầy đắc ý cho Trời và chư tiên nghe => cái ngông Tản Đà.
* Không gian, cảnh vật:
- “Đường mây” rộng mở.
- “Cửa son đỏ chói” => tạo nên vẻ rực rỡ.
- “Thiên môn đế khuyết” => chỉ nơi vua ở - sang trọng.
- “Ghế bành như tuyết vân như mây” => tạo vẻ quí phái.
=> Cách miêu tả không gian, cảnh vật gợi cho người đọc sự liên tưởng. Cảnh vật, không gian ở trên Trời rất rực rỡ, sang trọng, quí phái. Vì Trời là chúa tể của muôn loài. Được lên Trời đọc thơ không phải ai cũng có vinh hạnh ấy. => Làm nổi bật cái ngông của Tản Đà.
* Thái độ của văn sĩ hạ giới và người nghe thơ: Khẳng định tài năng văn chương thiên phú Người nghe không bỏ qua những chi tiết kể về thái độ của ngươi đọc thơ:
Đà? Và khen thế nào?
Các chư tiên nghe và khen thơ Tản Đà như thế nào?
Em hiểu các từ: Nở dạ, lè lưỡi, chau đôi mày , lắng tai đứng… như thế nào?
CH: Nhận xét về nghệ thuật dựng cảnh của Tản Đà?
CH: Tâm lí của các nhân vật. . . .như thế nào?
CH: Tài năng của Tản Đà thể hiện qua những chi tiết nào?
- “Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy”. Đúng là vào nơi “Thiên môn đế khuyết”.
- Được mời ngồi: “Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy”.
=> Khi đọc thơ vừa say sưa, vừa có cái gì hài hước.
- “Đắc ý đọc đã thích” => cảm hứng tạo được, đọc càng hay.
- “Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi” =>Hài hước.
- “Văn dài hơi tốt ran cung mây” => Câu diễn đạt nhiều ý. Văn đã dài, hơi lại tốt thành thử làm vang cả cung mây.
Người nghe là Trời, chư tiên, kẻ tri âm
- “Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay” => Trời khen.
- “Trời nghe, Trời cũng bật buồn cười”- tán thưởng.
- “Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!”
“Văn trần được thế chắc có ít” => Khẳng định cái tài.
+ Các chư tiên:
- “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng, Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay”.
=> “Nở dạ”: mở mang nhận thức được nhiều cái hay. “Lè lưỡi”: văn hay làm cho người nghe đến bất ngờ. “Chau đôi mày”: văn hay làm cho người nghe phải suy nghĩ, tưởng tượng. “Lắng tai đứng”:
đứng ngây ra để nghe.
“ Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
Anh gánh lên đây bán chợ trời”.
=> Tản Đà rất khác trong việc dựng cảnh. Bối cảnh rực rỡ, oai nghiêm ở chốn thiên đình, phù hợp với hoạt động của nhân vật.
Những phản ứng về mặt tâm lí của nhân vật khi nghe thơ : Sao Tâm, Sao Cơ, Hằng Nga, Chức Nữ, Song Thành, Tiểu Ngọc) đan xen vào nhau một cách linh hoạt làm cho buổi nghe thơ thêm sôi nổi, hào hứng.
=> Bằng trí tưởng tượng, chuyện “Hầu Trời” giúp nhà thơ nói được nhiều tài năng của bản thân:
- “Văn dài hơi tốt ran cung mây, Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay”
- “Văn đã giàu thay, lại lắm lối”.
- “Trời lại phê cho: “văn hay tuyệt!”
Văn trần được thế chắc có ít!
CH: Cách suy nghĩ của Tản Đà khác các nhà nho như thế nào?
+ Nguyễn Du:
“Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.
+Nguyễn Công Trứ:
“Ông Hi văn tài bộ đã vào lồng”
(Bài ca ngất ngưởng) + Hồ Xuân Hương:
“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi, Này của Xuân Hươngmới quyệt rồi” –Mời trầu.
CH: Quan niệm của Tản Đà về văn học?
+ Nhận xét nghệ thuật bài “Hầu Trời”?
*Hoạt động 4: Tổng kết đánh giá
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng, Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương, Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết”.
=> Cách suy nghĩ của Tản Đà: Các nhà nho tài tử trứớc đây thường cây tài, khoe tài “kinh bang tế thế”, chẳng ai nói trắng như Tản Đà: “hay”, “Thật tuyệt” mà lại nói trước mặt Trời để Trời khen.
Đúng là lối khẳng định rất ngông của văn sĩ hạ giới.
* Lời trần tình với trời về tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn.
- Văn chương lúc này là một nghề để kiếm sống:
Có kẻ bán, người mua, có vốn liếng, có chuyện thuê, mượn, đắt rẻ..
- “Nhờ Trời văn con còn bán được - “ Anh gánh lên đây bán chợ trời - “Vốn liếng còn một bụng văn đó Giấy người, mực người, thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó”.
- Ngoài ra, Tản Đà còn khẳng định yêu cầu rất cao của nghề văn: nghệ sĩ phải chuyên tâm, có vốn sống phong phú, đa dạng về thể, loại là đòi hỏi của hoạt động sáng tác.
nhau dặn.
=> … Bao nhiêu là chuyện hành nghề văn chương.
Nhà thơ đã thể hiện khát vọng, ý thức cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật.
Song cách xưng hô của Tản Đà tách họ, tên, nói rõ quê, châu lục, Việt Nam, núi Tản sông Đà =. Rõ ràng ông vừa ý thức cá nhân, vừa tự tôn dân tộc.
=> Cảm hứng của đoạn thơ là cảm hứng lãng mạn với cảm hứng hiện thực (Hiện thực văn chương ở hạ giới). Lối kể rất dân dã, giọng kể khôi hài.
Mối quan hệ giữa nhà thơ với Trời, chư tiên là mối quan hệ thân thuộc, suồng sã (Gọi nhà thơ bằng anh). Các bậc siêu nhân có cử chỉ thật ngộ nghĩnh, họ biểu hiện cảm xúc rất đời thường: lè lưỡi, chau mày, vỗ tay, buồn cười, tranh
III. Tổng kết:
- Qua sụ phân tích trên, em hãy khái quát lại những đặc điểm nổi bật về NT và ý nghĩa của văn bản?
1. Nghệ thuật:
Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do: giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngông ngữ sinh động
Cách dùng từ nôm na, dân dã phù hợp với sự hư cấu của nhà thơ.
2. Ý nghĩa văn bản:
- Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà
4.4 – Câu hỏi, bài tập củng cố:
CH1: : Cách suy nghĩ của Tản Đà khác các nhà nho như thế nào?
ĐA => Cách suy nghĩ của Tản Đà: Các nhà nho tài tử trứớc đây thường cây tài, khoe tài
“kinh bang tế thế”, chẳng ai nói trắng như Tản Đà: “hay”, “Thật tuyệt” mà lại nói trước mặt Trời để Trời khen. Đúng là lối khẳng định rất ngông của văn sĩ hạ giới.
CH2:Em hãy làm rõ cái ngông của Tản Đà qua bài thơ Hầu trời?
4.5 – Hướng dẫn học bài:
* Đối với bài học này: Thuộc bài thơ, so sánh cái ngông của Tản Đà và Nguyễn Công Trứ?
* Đối với bài học tiếp theo: Chuẩn bị bài nghĩa của câu tt: Nắm được thành phần nghĩa thứ hai của câu- nghĩ tình thái.
5. RÚT KINH NGHIỆM::...
ND:...
...
PP:...
ĐDDH...
---00---00--- TUẦN 21
TIẾT: 78 Bài