Đọc – hiểu tác phẩm

Một phần của tài liệu GIÁO ÁN NV-11 (Trang 243 - 246)

TƯƠNG TƯ – NGUYỄN BÍNH, CHIỀU XUÂN – ANH THƠ

A- LAI TÂN – HCM I- Giới thiệu

II- Đọc – hiểu tác phẩm

1- Nỗi nhớ của người tù với cảnh sống bên ngoài + Tiếng hò được lặp đi lặp lại nhiều lần:

- Gì sâu bằng những trưa thương nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò…

Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!

- Gì sâu bằng những trưa thương nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò,

+ Nhận xét tiếng hò và nêu tác dụng của tiếng hò đó.

+ Nỗi nhớ da diết của nhà thơ thể hiện qua hình ảnh nào?

+ Nỗi nhớ ấy có đặc điểm gì?

+ Nỗi nhớ con người được thể hiện qua những chi tiết nào?

+ Em có suy nghĩ gì về nỗi nhớ này?

Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh Ôi ruộng đồng thương nhớ ơi!

+ Tiếng hò lẻ loi đơn độc giữa trời trưa khiến cho nhân vật trữ tình cảm nhận tất cả nỗi hiu quạnh.

- Hiu quạnh của không gian đồng vắng.

- Hiu quạnh của thời gian trưa vắng.

- hiu quạnh của đời buồn tủi, nhọc nhằn.

- Hiu quạnh của lòng người đang bị giam cầm trong tù ngục, cách biệt với cuộc sống bên ngoài.

- Tiếng hò đã đồng cảm, hòa điệu của nhiều nỗi hiu quạnh. Người chiến sĩ cách mạng ấy thấy nhớ nhung đồng quê da diết, cũng như nhớ cuộc sống bên ngoài.

+ Những câu hò như những tiếng than khắc khoải, da diết.

Nó diễn tả cõi lòng hoang vắng vì bị cách biệt với cuộc sống bên ngoài.

+ Sự lặp lại của nhà thơ cò tác dụng liên kết, nhấn mạnh, tô đậm nỗi khắc khoải, tâm trạng nhớ da diết của nhà thơ.

@ Nỗi nhớ da diết của nhà thơ:

- Cồn thơm.

- Ruồng tre mát.

- Ô mạ xanh mơn mởn.

- Nương khoai ngọt sắn bùi.

- Những chiều suơng phủ bãi đồng.

- Xóm làng thân thuộc: Xóm nhà tranh thấp, - Con đường quen thuộc.

Tất cả đều đơn sơ, quen thuộc mà rất đỗi thân thương.

Nhưng tất cả đều bị ngăn cách

- Con người gần gũi quen thuộc:

+ Những lưng cong xuống luống cày.

+ Những bàn tay vãi giống tung trời, một giọng hò đưa bố mẹ già xa đưa đơn chiếc đến những linh hồn đã khuất.

=> Từ nhớ đồng , nhớ quê hương đến nhớ con người, không chỉ con người trong hiện tại mà cả con người trong những kiếp xưa, nỗi nhớ dừng lai ở hình ảnh mẹ già nua đơn chiếc. Tất cả rất chân thật và đậm tình thương mến.

Nhớ đồng là nỗi nhớ cuộc sống bên ngoài nhà tù. Cuộc sống hôm qua còn gần gũi mà hôm nay phải cách biệt, xa rồi.

@ Thơ mới lãng mạn cũng gợi lên nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ dằng dặc của Huy Cận về quê nhà. Nỗi nhớ bâng khuâng của Hàn Mặc Tử về thôn Vĩ và cả nỗi nhớ thương trong Tống biệt của Thâm Tâm…Tất cả cũng là nỗi nhớ của con người. Nỗi nhớ của Tố Hữu cũng mang sắc thái tình cảm riêng của con nguời, nhưng tình cảm của nhà thơ dành cho tất cả. Hình ảnh người lao động nổi bật lên trong nỗi nhớ và không phải ngẫu nhiên Xuân Diệu gọi Tố Hữu

+ Nhà thơ nhớ mình qua những chi tiết nào?

+ Nỗi nhớ thể hiện điều gì trong tâm hồn nhà thơ?

+Nhận xét diễn biến tâm trạng của Tố Hữu?

+ Đặt bài thơ vào trong thơ tập thơ Xiềng xích, trong tập thơ Từ ấy có gì giống và khác nhau?

là nhà thơ của tình thương mến.

+ Từ nỗi nhớ đồng, nhớ quê, Tố Hữu nhớ mình:

- Nỗi nhớ quê không thể tách khỏi nỗi nhớ mình. Mặt khác nhà thơ tự nguyện đi theo Đảng thì sự gắn bó giữa cá nhân với quần chúng lao khổ là vấn đề tất yếu. Cho nên nhớ tới mọi người không thể không nhớ tới mình. Nhớ tới mình, Tố Hữu không quên những ngày tháng tự do hoạt động trong phong trào mặt trận dân chủ:

“Rồi một hôm nào tôi thấy tôi, Nhẹ nhàng như con chim cà lơi Say đồng hương nắng vui ca hát Trên chín tầng cao bát ngát trời”.

- Đây là biểu hiện say mê lí tưởng, khao khát tự do và sôi nổi trong hành động của Tố Hữu. Càng nhớ những ngày say mê hoạt động, Tố Hữu càng cảm thấy cô đơn với thực tại của cuộc sống bị cầm giam “Như cánh chim buồn nhớ gió mây”. Thơ bao giờ cũng là nỗi nhớ, niềm xúc động đến mãnh liệt của con người.

2- Diễn biến tâm trạng của Tố Hữu:

+ Nhớ đồng biểu hiện tâm trạng chân thực qua diễn biến tự nhiên, liền mạch.

- Nỗi nhớ bắt đầu bằng tiếng hò.

- Tiếng hò gợi lên tất cả những gì của đồng quê bên ngoài nhà tù.

+ Cảnh sắc:

- Bóng dáng của con người (những con người lao khổ trên đồng ruộng đến hình ảnh người mẹ già nua đơn chiếc và cuối cùng là nỗi nhớ mình.

- Nỗi nhớ từ hiện tại về quá khứ, sau lại quay về hiện tại.

Nó không chỉ có nhớ mà còn tràn ngập nỗi xót thương.

Nó không chỉ buồn sấu mà còn cháy bỏng niềm khao khát tự do. Đằng sau tâm trạng ấy là nỗi bất bình, phẫn uất với thực tại.

@ Đặt bài thơ vào phần thơ trong Xiềng xích, ta thấy những điều đáng chú ý là:

- Tâm tư trong tù, Tiếng hát đi đầy, Khi con tu hú (lớp 8) Các bài thơ này cùng với Nhớ đồng đều có chủ đề chung là tâm tư trong tù.

- Đọc những bài thơ này, người ta thấy tâm tư chân thực của nguời chiến sĩ cách mạng bị giam hãm trong tù ngục.

Đó là người chiến sĩ đang say mê hoạt động trong phong trào cách mạng thì bị bắt. Bốn bức tường giam hãm làm sao tránh khỏi cảm giác cô đơn.

Song vượt lên tất cả nỗi niềm da diết yêu cuộc sống, khao khát tự do, hướng ra cuộc sống bên ngoài nhà tù. Người chiến sĩ cách mạng vượt qua giây phút yếu mềm khẳng

+ Cảm xúc của bài thơ Nhớ đồng là gì?

định ý chí chiến đấu.

- Mỗi bài thơ đều có sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và hiện thực cách mạng.

- Tuy nhiên co những điểm khác. Đó là độ mờ nhạt ở từng khía cạnh của tâm trạng nhân vật trữ tình.

+ Nhớ đồng quê, con người, nhớ chính mình là biểu hiện tình yêu da diết với cuộc sống bên ngoài nhà tù. Bao trùm lên cảm xúc ấy là lhát vọng tự do, là tình yêu Tổ quốc.

TƯƠNG TƯ – NGUYỄN BÍNH.

*Hoạt động 6 + HS đọc tiểu dẫn.

+ Nêu vài nét về tác giả,

+ Nêu những tác phẩm chính của Nguyễn Bính?

+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ?

Chủ đè?

* Hoạt động 7.

I- Giới thiệu

1- Vài nét về tác giả

+ Nguyễn Bính (1918 - 1966) Tên là Nguyễn Trọng Bính.

Quê Thiện Vịnh – Đồng Đội (Nay Cộng Hòa – Vụ Bản – Nam Định.) Mồ côi mẹ, cha lấy vợ, ông phải sống với cậu, lớn lên theo anh trai là nhà thơ Trúc Đường ra Hà Nội kiếm sống.

+ Ông lưu lạc, sống ở nhiều nơi.

+ CM tháng Tám và kháng chiến chống Pháp,ông hoạt động ở Nam bộ với tên Nguyễn Bính Thuyết.

+ 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục làm văn nghệ ở Hà Nội – Nam Định.

+ Ông được tặng thưởng giải thưởng hồ Chí Min về văn học nghệ thuật năm 2000.

+ Sự nghiệp:

- Ông làm thơ lúc 13 tuổi.

- Năm 1937, ôngđạt giải thưởng của Tự Lực văn đoàn với tập thơ: Tâm hồn tôi.

- Lỡ bước sang ngang (1940), - Mười hai bến nước ( (1942),

- Truyện thơ: “Cây đàn tì bà” (1944).

- Gửi người vợ Miền Nam (1955).

- Truyện thơ: “Tiếng trống đêm xuân (1958), - Đên sao sáng (1962).

- Chèo: Cô Son ( 1961).

+ Thơ ông rất nhạy cảm với thời đại đầy biến động đặc biệt là sự xáo trộn của văn chương. Ông day dứt trước những giá trị cổ truyền bị mai một (Chân quê). Thơ ông thấm đượm tình quê, duyên quê và phảng phất hồn xưa đất nước.

+ Ông thành công nhất ở thể thơ lục bát.

2- Xuất xứ Bài thơ rút ra từ “Lỡ bước sang ngang” 1940.

3- Chủ đề: Miêu tả tâm trạng tương tư của chàng trai nông thôn không tên tuổi. Với những diễn biến của yêu thương, hờn giận, trách móc và khao khát mong mỏi.

Một phần của tài liệu GIÁO ÁN NV-11 (Trang 243 - 246)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(324 trang)
w