TƯƠNG TƯ – NGUYỄN BÍNH, CHIỀU XUÂN – ANH THƠ
A- LAI TÂN – HCM I- Giới thiệu
II- Đọc – tìm hiểu văn bản
+ Gọi HS đọc đoạn đầu.
+Em hiểu tương tư là gì?
+ Tìm những câu thơ nói về tương tư?
.
+ Nêu diễn biến tâm trạng của chàng trai?
+ Nỗi nhớ của chàng trai thể hiện như thế nào ?
+ Theo từ điển của Phan văn Các: Tương tư là trai gái nhớ thương nhau.
+ Trong đời sống, tương tư chỉ nỗi nhớ thương đơn phương ủ kín trong lòng chàng trai (cô gái). Trong dân gian thường có câu:
“Ba cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư, Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu”.
Hay: Ngỡ chàng thấu hết tấm lòng tương tư” (Chinh phụ ngâm).
+ Nguồn gốc của nỗi tương tư là khao khát được kề cận, được chung tình. Vì thếtâm lí con người rất phức tạp. Khi tương tư, người ta thường nhớ nhung, thương cảm, giận hờn, trách móc. Để diễn tả tâm trạng ấy con người thường dùng những lời khi thì mát mẻ, vòng vo, lấp lửng, khi thì bộc bạch xuôi chiều không cần giấu giếm.
- “ Lá này là lá xoan đào, Tương tư thì gọi thế nào em ơi”.
Hay: “Mình ơi, mình ở mình đi Đi thì ta nhớ, ở thì ta thương Phân li cách trở đoạn trường
Con sông nho nhỏ con đường cát bay”.
2- Diễn biến tâm trạng của chàng trai:
- Nhớ nhung: “Thôn Đoài ngồi ….yêu nàng”.
- Băn khoăn, hờn dỗi: “Hai thôn…này”.
- Than thở: “Ngày qua…xa xôi”.
“ Tương tư… biết cho”.
- Khát vọng ,mong mỏi: “Bao giờ …nào”.
=> Diễn biến tâm trạng của chàng trai được diễn tả qua nhiều trạng thái cảm xúc. Những trạng thái cảm xúc này đan xen, chuyển hóa rất tự nhiên. Nó nhận được sự đồng cảm của những tâm hồn đã, đang, sắp yêu nhau.
+ Chàng trai thôn Đông – không tên tuổi bộc lộ nỗi nhớ của mình:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười thương một người,
Gió mưa là bệnh của trời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.
- Cách tạo hình ảnh độc đáo “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”. Đây không phải là cách mượn địa danh mà Nguyễn Bính tạo ra nỗi nhớ song hành. Người nhớ người, thôn nhớ thôn. Biện pháp nhân hóa tạo ra bởi nỗi nhớ song hành ấy.. Bao trùm lên bốn câu thơ là qui luật tâm lí.
Khi tương tư, nỗi nhớ tràn ra cả không gian. Vì thế có cả hai miền không gian nhớ thương nhau. Ngôn ngữ đậm đà
Nỗi băn khoăn của chàng trai thể hiện như thế nào?
+ Chàng trai than thở như thế nào?
+ Chàng trai trách móc như thế nào?
phong cách chân quê; Thôn Đoài (Đoài là Tây) . Thành ngữ “Chín nhớ mười mong”, cách bố trí ngôn ngữ thơ:
“Một người…một người”. Tác giả có ý đẩy đối tượng ra hai đầu câu thơ tạo giữa hai con người ấy một khoảng cách, giữa họ là “Chín nhớ mười mong” – ngập tràn nỗi nhớ. Ý thơ, lời thơ như kể lể, bộc bạch nỗi tương tư của chàng trai nhớ nhung vời vợi.
3- Chàng trai bộc lộ sự băn khoăn, hờn dỗi + “ Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”.
- Thông thường chàng trai phải giữ vai trò chủ động. Ở đây lại khác. Chàng trai hoàn toàn thụ động ngồi chờ đợi.
Vấn đề đặt ra tưởng hết sức vô lí. Song đây là cách tác giả bộc lộ tâm trạng của chàng trai quê yêu vụng , nhớ thầm mà không được đáp lại. Cụm từ: “Hai thôn chung lại” cố tình tạo ra khoảng cách gần gũi giữa hai người. Những từ;
“Cớ sao”, “chẳng sang” là sự trách cứ nhẹ nhàng, trách yêu. Người trong cuộc tưởng mình bị hờ hững nên sinh ra trách móc .
4- Chàng trai than thở.
+ “ Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.
- Cách bắt nhịp “Ngày qua ngày / lại qua ngày” (3/3) đã biến tiếng “lại” thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó diễn tả bước đi của thời gian rất chậm chạp. Ngày mới chỉ diễn lại như ngày cũ chán ngán vô vọng. Giọng thơ than thở đến ngán ngẩm. Nó biểu hiện tâm trạng nóng lòng chờ đợi đến mòn mỏi. Song thời gian in đậm ở câu 8 (bát). Thời gian hiện lên qua việc chuyển màu của lá “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Đằng sau hình ảnh lá xanh nhuộm ấy là gì? Nếu không phải là tấm lòng héo hon, sầu muộn của tương tư. Chàng trai quay sang trách móc mát mẻ.
- “Bảo rằng cách trở đò giang, Không sang là chẳng đường sang đã đành,
Nhưng đây cách một đầu đình, Có xa xôi mấy mà mình xa xôi,
Tương tư thức mấy đêm rồi Biết cho ai, hỏi ai người biết cho”.
- Lời trách móc không nặng nề đay nghiến mà trách yêu.
Không gian cảnh vật được dẫn là cảnh quê. Đó là hình ảnh đò giang, đầu đình. Những hình ảnh ấy để cho nhân vật trữ tình bộc bạch tâm rạng, bày tỏ nỗi tương tư một cách tự nhiên, tế nhị, kín đáo. Biện pháp điệp từ diễn tả tâm trạng của chàng trai.
- Hai tiếng: “Xa xôi’ được sử dụng với ý nghĩa khác nhau.
+ Chàng trai ước mong , khát vọng như thế nào?
+ Những cặp sóng đôi có ý nghĩa như thế nào?
Nhận xét mối duyên quê được thể hiện trong cảnh quê của Nguyễn Bính?
+ Nêu nhận xét về nghệ thuật thơ Nguyễn Bính?
Nó có sự đối lập: Khoảng cách gầnnhau chỉ bên này bên ấy nhưng tình cảm lại xa xôi.
- Hai tiếng kết hợp với tiếng “ai” như giãi bày tâm sự tình cảm của chàng trai, cũng là lời trách mát mẻ.
- Biện pháp dùng điệp từ làm cho tình cảm quyện vào nhau.
5- Chàng trai khát khao, mơ tưởng.
- “ Bao giờ bến mới gặp đò,
Khoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Nhà em có một giàn giầu, Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.
+ Nhiều cặp đôi:
- Một người / một người.
- Tôi / nàng.
- Bên ấy / bên này.
- Hai thôn / một làng.
- Bến / đò.
- Hoa khuê các / bướm giang hồ.
- Nhà em / nhà anh.
- Giàn giầu / hàng cau.
- Thôn Đoài / thôn Đông.
- Cau / giầu.
Những cặp đôi này xuất hiện từ xa đến gần, dừng lại ở : cau, giầu. Sự sắp xếp có ý vị. Nỗi niềm tương tư của chàng trai gắn liền với khát vọng hạnh phúc. Tình yêu gắn liền với hôn nhân gia đình.
+ Mối duyên quê được hòa quyện trong cảnh quê:
- Thể hiện diễn biến tâm trạng của chàng trai quê không tên tuổi.
- Tâm trạng nhớ nhung được diễn tả qua địa danh, hình ảnh gần gũi quen thuộc của cuộc sống nông thôn, quê kiểng (thôn, gió mưa).
- Tâm trạng hờn dỗi được diễn tả qua các hình ảnh mang đậm chất dân gian (hai thôn, một lòng, bên ấy, bên này).
- Tiếng than thở được diễn tả qua hình ảnh quen thuộc (lá xanh, nhuộm, lá vàng).
- Tâm trạng trách móc thể hiện bằng hình ảnh gần gũi với làng quê (con đò, đầu đình, ai).
- Khát vọng thể hiện bằng hàng loạt hình ảnh sóng đôi;
bến / đò, Hoa khuê các / bướm giang hồ, cau / giầu, Nhà em / nhà anh, thôn Đoài / thôn Đông…
+ Phong cách thơ Nguyễn Bính:
- Kết hợp tiếng thơ của thời đại với những gì biểu hiện trong văn hóa dân gian.
- Thơ Nguyễn Bính đậm đà chất chân quê, duyên quê, tâm tình quê, nội dung, hình thức, giọng điệu với lối nói quê, lời quê.
- Thơ Nguyễn Bính là thể thơ lục bát truyền thống.
CHIỀU XUÂN – ANH THƠ
*Hoạt động 8.
+ HS đọc tiểu dẫn.
+ Nêu nét chính về tác giả.
+ Nêu những nét chính về sự nghiệp văn chương của bà?
+ Nêu xuất xứ tác phẩm.
+ Nêu chủ đề tác phẩm.
* Họạt động 9.
+ Bức tranh quê được thể hiện như thế nào?
I- Giới thiệu
1- Tác giả: Anh Thơ (Vương Kiều Ân – 1921- 2005) Quê: Bắc Giang. Sinh trưởng trong gia đình công chức nhỏ, nho học.
+ Bà chưa học hết tiểu học nhưng mê văn chương (ảnh hưởng bên ngoại: Phó bảng Kiều Oánh Mậu). Gia đình nặng nếp phong kiến nên bà tìm đến văn chương để tự giải thoát mình và khẳng định giá trị người phụ nữ trong xã hội cũ.
- 1937, bà có thơ đăng trên báo Đông Phương, Tiểu thuyết thứ 7, Ngày nay, Phụ nữ…giải khuyến khích của Tự Lực văn đoàn.
- Năm 1945, bà hăng hái hoạt động cách mạng.
Bà từng là Ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam khóa 1,2.
Bà được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2007.
+ Tác phẩm chính:
- Bức tranh quê (Thơ 1941).
- Kể chuyện Vũ Lăng (Truyện thơ – 1957) - Theo cánh chim câu ( 1960)
- Đảo ngọc (1963) - Hoa dừa trắng (1967) - Mùa xuân màu xanh (1974) - Quê chồng (1977)
2- Xuất xứ Chiều xuân rút ra ở tập: Bức tranh quê.
3- Chủ đề: Miêu tả bức tranh mùa xuân ở đồng bằng Bắc bộ thông qua không khí, nhịp sống và hình ảnh tiêu biểu gần gũi với con người.