Tìm hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm, một mặt nhận diện vai trò ý nghĩa của các kiểu thời gian biểu hiện trong thơ ca trung đại nói chung, thi phẩm Nguyễn Kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHẠM THỊ LỆ ANH
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ NGỌC HOA
Trang 2Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Ngọc Hoa Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Cấu trúc luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN 14
1.1 Cảm thức thời gian trong thơ ca trung đại 14
1.1.1 Giới thuyết chung về thuật ngữ “cảm thức thời gian” 14
1.1.2 Diễn tiến cảm thức thời gian trong thơ trung đại Việt Nam 18
1.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến 26
1.2.1 Điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội 26
1.2.2 Quê hương và truyền thống gia đình Nguyễn Khuyến 30
1.3 Nguyễn Khuyến - đường đời và đường thơ 34
1.3.1 Nguyễn Khuyến – quãng thời gian tham chính, nhập thế 34
1.3.2 Nguyễn Khuyến – Những tháng ngày xuất thế từ quan 38
Tiểu kết Chương 1 43
Chương 2 CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN 44
2.1 Biểu hiện các kiểu thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến 44
2.1.1 Thời gian chu kỳ 44
2.1.2 Thời gian sự kiện 49
2.1.3 Thời gian tâm lí 56
2.2 Ứng xử của nhà thơ trước các kiểu thời gian 61
2.2.1 Suy cảm, buồn đau trước thời thế 61
2.2.2 Hoài niệm về thời gian đã qua 67
2.2.3 Hướng về lối sống ẩn cư 72
Trang 4Chương 3 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM THỨC THỜI
GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN 77
3.1 Hệ thống hình ảnh thể hiện các kiểu thời gian trong thơ 77
3.1.1 Hình ảnh mang nghĩa biểu trưng 77
3.1.2 Hình ảnh mang nghĩa thực về dòng chảy thời gian 83
3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến 87
3.2.1 Hệ thống ngôn ngữ giản dị, thuần phác trong thơ Nôm 87
3.2.2 Hệ thống điển cố, thi liệu thể hiện kiểu thời gian tâm lí 94
3 3 Giọng điệu thơ Nguyễn Khuyến 100
3.3.1 Giọng thơ thâm trầm sâu lắng trước dòng chảy thế cuộc 100
3.3.2 Giọng điệu trào lộng, u mua trước diễn biến nhân tâm cuộc thế 105
3.3.3 Phức điệu trữ tình và trào lộng trong thơ Nguyễn Khuyến 109
Tiểu kết Chương 3 114
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 119 QUYẾT ĐỊNH GIAO TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nhìn từ góc độ thi pháp học, không gian, thời gian là phương thức thể hiện thiết yếu để các tác gia văn học xây dựng thế giới nghệ thuật và định hình phong cách sáng tác cá nhân Tìm hiểu tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ khó có thể bỏ qua bình diện thời gian với các cung bậc cảm xúc, nhận thức về thời cuộc được thể hiện khá rõ hoặc được “ẩn tàng” trong từng tác phẩm Là thành tố quan trọng trong các tác phẩm văn học trung đại nói chung và thơ trung đại Việt Nam nói riêng, cảm thức thời gian hiện hữu trong tác phẩm như một lẽ tự nhiên Yếu tố thời gian mang tính quan niệm, nhận thức và là sự chiếu ứng toàn bộ thế giới tinh thần của con người trong tác phẩm Đó là mô hình thế giới độc lập mang tính chủ quan và ý nghĩa tượng trưng của tác giả thể hiện Đó còn là con đường mô hình hóa các mối liên hệ về thời gian cuộc đời, không gian xã hội, đạo đức, về trật tự thế giới đặt trong sự lựa chọn chủ ý của người nghệ sĩ Trường hợp Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ Là một tác gia văn học trung đại, cuộc đời trải nghiệm qua nhiều mốc lịch sử đầy biến động, Nguyễn Khuyến không quên ghi dấu từng chặng đường đời đi qua bằng những trang thơ đầy khắc khoải, tâm trạng
1.2 Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là vị đại diện khá tiêu biểu cho lớp người được xã hội phong kiến đào tạo Ông quyết chí đi thi và đỗ đầu cả ba kỳ thi, được vua Tự Đức ban cờ biển và hai chữ Tam nguyên; tài năng lừng lẫy một thời Nhìn
từ phương diện văn tự, sáng tác của Nguyễn Khuyến bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm Trong những sáng tác Hán Nôm ấy, nhà thơ đã gửi vào đó những cảm xúc, nhận thức, suy tư về không gian và thời gian Hai yếu tố này được hiện hữu trong thơ với nhiều sắc thái, tầng bậc khác nhau Nghiên cứu về tác phẩm, tác giả Nguyễn Khuyến trên nhiều phương diện đã được đặt ra từ trước đến nay không hề ít Song, tìm hiểu những cảm xúc, nhận thức, cảm thức thời gian của người nghệ sĩ mẫn cảm, lắng sâu thế sự được thể hiện trong thơ để hiểu sâu sắc hơn từng trạng huống cảm xúc của nhà thơ qua từng thời điểm khác nhau trong cuộc đời nhà thơ là vấn đề nhiều thú vị còn bỏ ngỏ để chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện
Nghiên cứu cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến là nghiên cứu sự
Trang 6tương quan giữa cái “tôi” của người nghệ sĩ với dòng chảy thời gian, giữa con người cá nhân trước các chặng đường lịch sử thời đại đặt ra trong suốt cuộc đời nhà thơ Tìm hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm, một mặt nhận diện vai trò ý nghĩa của các kiểu thời gian biểu hiện trong thơ ca trung đại nói chung, thi phẩm Nguyễn Khuyến nói riêng; Mặt khác qua đó, khẳng định, nhận diện quan niệm, tư tưởng và tâm hồn tình cảm của nhà thơ trong từng thời đoạn lịch sử
cụ thể Tiếp cận và lí giải các bình diện thời gian gắn với những cảm thức của nhà thơ được biểu hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm cũng là cách góp thêm cái nhìn
đa chiều về tư tưởng, tình cảm người nghệ sĩ Điều này có ý nghĩa góp phần gợi ra cách hiểu và thẩm bình thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến, đồng thời mở rộng liên hệ mối quan hệ với thơ ca trung đại nói chung, nghiên cứu và giảng dạy thơ Nguyễn Khuyến nói riêng Tìm hiểu các dạng thức thời gian được biểu hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm sẽ là căn cứ góp phần hoàn chỉnh chân dung nhà thơ Nguyễn Khuyến, nhà Nho phong kiến cuối mùa với những nét riêng khó lẫn trong dòng chảy Văn học trung đại Việt Nam
Từ những lý do đã nêu, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây,
chúng tôi chọn đề tài Cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến để thực hiện
Hy vọng, kết quả từ những khảo sát nghiên cứu góc nhìn cảm thức thời gian biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyến sẽ là những căn cứ góp phần giải mã thế giới tinh thần của nhà thơ, nhà Nho phong kiến cuối mùa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn, nhân cách lớn của thời đại, của dân tộc Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khuyến được đánh giá cao Việc nghiên cứu cuộc đời và thơ văn của nhà thơ, nhà Nho phong kiến cuối mùa cũng đạt được nhiều thành tựu trên nhiều phương diện: sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu, nghiên cứu… Trong phạm
vi liên quan đến đề tài, chúng tôi lược thuật một số công trình nghiên cứu sau
2.1 Lịch sử nghiên cứu về cảm thức thời gian trong thơ trung đại Việt Nam
Trong các công trình chuyên luận được xuất bản trước năm 1975 ở hai miền Nam – Bắc, ngoài các luận đề nghiên cứu chuyên sâu về các tác gia, thể loại và các vấn đề liên quan đến nội dung cũng như phương thức biểu đạt, chúng tôi chưa ghi
Trang 7nhận được một quan điểm nghiên cứu nào đánh giá về cảm thức thời gian Song,
với tư cách là một phương diện của thi pháp thì thời gian nghệ thuật trong thơ trung đại cũng thu hút được sự quan tâm của giới phê bình Thời gian nghệ thuật và cảm thức thời gian trong thơ trung đại là hai phương diện cụ thể nhưng lại thống nhất trong một đối tượng đó là tác giả - tác phẩm Vì thế, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu về cảm thức thời gian, chúng ta không thể không tiếp cận thời gian nghệ thuật của từng tác giả, tác phẩm và giai đoạn văn học cụ thể
Bàn về ý nghĩa của các giá trị thời gian được biểu hiện trong thơ ca trung đại,
năm 1996, trong công trình nghiên cứu Văn học trung đại Việt Nam (Trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh), Lê Trí Viễn đã trình bày quan điểm của
mình về cách hiểu thời gian trung đại Ông cho rằng,“thời gian là tuyến tính trôi chảy không ngừng, một qua không trở lại (…) và là “thời gian chu kỳ đi rồi quay trở lại chứ không đi mất” [73; tr 19] Thời gian trong trong văn chương trung đại còn là “thời gian trống rỗng trừu tượng mà chất chứa một nội dung cụ thể (…) Thời gian nhuốm màu thiêng liêng và đạo đức” [73; tr 19] Tác giả nhấn mạnh thời
gian chu kỳ có tác động mạnh mẽ và sâu sắc hơn đến cảm quan của con người, đó là
“ý thức về thời gian chu kỳ sâu hơn và có sức xóa mờ thời gian tuyến tính” [73; tr
20] Tác giả lí giải những điểm khác biệt trong nhận thức và cảm xúc của con người trung đại so với con người hiện đại Tác giả phát hiện những biểu hiện của thời gian trong văn học trung đại với những kiến giải khá hợp lý và có tính phát hiện Trong công trình của mình, tuy không chú tâm nghiên cứu vấn đề thành một chương riêng biệt, nhưng Lê Trí Viễn đã giúp người đọc nhận thức và lí giải được những biểu hiện cơ bản về các kiểu thời gian trong văn học trung đại
Năm 1999, trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam - một
chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố thi pháp văn học trung đại, Trần
Đình Sử đã dành sự quan tâm về các kiểu thời gian trong thơ trung đại nói chung
với các nội dung: “Mô hình chung của thời gian; Thời gian vũ trụ bất biến; Thời gian con người” [59; tr 193] Cụ thể, về thời gian trong thơ, tác giả đã xác định các khái niệm: Thời gian vũ trụ bất biến trong thơ từ thế kỉ X - XVII: Vô thời gian trong thơ Thiền – loại thời gian “Bất biến”, thường trụ, bởi vì không sinh không diệt”
Trang 8[59; tr 197] Cũng theo tác giả, thời gian lịch sử trong thơ tương quan với thời gian
với thời gian vũ trụ - kiểu thời gian được không gian hóa với “tính bất biến của lịch
sử hóa thân vào dấu tích” [59; tr 204]; Và cuối cùng là thời gian con người với nỗi
buồn thương u uất cá nhân…Dẫn chứng cho dòng thời gian bất biến, tĩnh tại trong
thơ nhà Nho, tác giả dẫn giải: “Trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian vũ trụ là một niềm mơ ước(…) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiện một quan niệm vũ trụ tự nhiên, nhưng ông thiên về tính biến dịch vĩnh hằng” [59; tr 201]
Việc xác lập các mô hình thời gian, các kiểu thời gian trong thơ trung đại phần nào giúp người đọc có thêm nhận thức về lý thuyết chung thời gian nghệ thuật trong thơ
ca trung đại Việt Nam
Nghiên cứu về diễn tiến thơ trữ tình của một thời đại cụ thể, năm 1983,
Nguyễn Phạm Hùng trong bài“Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần” (in trong Tạp chí Văn học số 4), đã chỉ ra diễn biến các dòng chảy thời gian theo các xúc cảm của thi nhân đời Trần Tác giả nhận định: “Thời gian là những cảm xúc thơ về một quá khứ vô cùng vinh quang và đầy chiến thắng, cảm xúc trữ tình của các thi sĩ cũng gặp nhau trong sự hồi tưởng chiến công của cha ông trên dòng sông Bạch Đằng”
và đến thời vãn Trần, “Thời gian được phản ánh co giãn theo tâm trạng con người, niềm vui lại qua nhanh mà nỗi buồn sao đằng đẵng” [25; tr 17] Như vậy, trước
Nguyễn Khuyến, cảm thức thời gian ở mỗi nhà thơ thời Trần đã có những cảm quan, cảm xúc khác nhau phụ thuộc vào quan niệm, tư tưởng và đặc biệt là cảm hứng từ chính cuộc đời của mỗi cá nhân nghệ sĩ
Năm 2001, trong chuyên luận Đặc điểm thơ Thiền Việt Nam thời Lý - Trần,
Đoàn Thị Thu Vân cũng quan tâm đề cập và lí giải khá rõ những biểu hiện của thời gian trong thơ Thiền thời Lý Trần như là một biểu hiện của thi pháp của Thiền thi Với một dung lượng ngắn, tác giả đã nêu bật một cách khác cô đọng, súc tích những đặc điểm về thời gian nghệ thuật trong thơ Thiền Lý –Trần Nhà nghiên cứu cho
rằng thơ Thiền đề cập đến “Thời gian hiện thực của trần thế vô cùng ngắn ngủi và chóng vánh” [70; tr.21] Tác giả thơ Thiền đặc biệt đề cao thời gian hiện tại, chủ
trương sống cho trọn vẹn cái “giây phút này” [70; tr.21] Về giá trị thẩm mỹ của các
biểu hiện thời gian trong thơ, Đoàn Thị Thu Vân khẳng định: “Thời gian đóng vai
Trang 9trò cột mốc cho một bước ngoặt của tâm thức, đánh dấu sự đổi khác giữa sau và trước” [70; tr.17] Theo tác giả, thời gian trong thơ Thiền thường là mùa thu, ban đêm (với trăng sáng, gió trong và hơi đêm mát lạnh) Đó là thời điểm của sự hòa
điệu giữa con người và vạn vật, vũ trụ Như vậy, cách tiếp cận và đánh giá của Đoàn Thị Thu Vân có những nét khác biệt do đối tượng nghiên cứu, song những khái quát mà nhà nghiên cứu đã nêu bật phần nào giúp cho chúng ta nhận ra dòng chảy thời gian với các nhận thức, cảm suy của người nghệ sĩ biểu hiện trong sáng tác thơ ca đã có từ rất sớm
Trong công trình Thi pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi (năm 2002, Luận án Hoàng
Thị Thu Thủy), tác giả công trình đã đề cập đến vấn đề thời gian trong thơ chữ Hán
và chữ Nôm của một tác gia tiêu biểu thế kỉ XV, Nguyễn Trãi Hoàng Thị Thu Thủy đã khảo sát các yếu tố nghệ thuật trong đó có thời gian Tác giả định danh
thành những kiểu thời gian: Thời gian quá khứ gắn liền với chu trình đời người Tác giả nhấn mạnh: “Đời người có những quãng thời gian có ý nghĩa đặc biệt gắn với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc,…cho nên hoài niệm quá khứ cũng là nét chung của con người” [67; tr 66] Ngoài ra, tác giả cũng giới thuyết về thời gian mang tâm sự đời thường với khuynh hướng cá nhân Theo Hoàng Thị Thu Thủy:
“Đó là kiểu thời gian đầy dư vị buồn tiếc, xót xa, thiếu ấm áp và vắng vẻ” Nghiên
cứu từ góc độ thi pháp thơ Nôm, tác giả chứng minh cho sự tồn tại của yếu tố thời
gian xuất hiện trong thơ tiếng Việt buổi đầu với nhận xét: “Thời gian nghệ thuật trong Quốc âm thi tập vừa mang những đặc trưng chung của thời gian nghệ thuật thời trung đại, vừa mang dấu ấn riêng của phong cách thơ Nguyễn Trãi, phong cách của một thi nhân “lo đời”, “đau đời”, “ẩn ức” trước thế sự…” [67; tr.67]
Như vậy, trên dòng chảy thời gian tuyến tính của vũ trụ, trong sáng tác nghệ thuật của người nghệ sĩ vẫn mang những suy cảm về thời gian với dấu ấn riêng của phong cách thi nhân Nhận định trên là căn cứ thêm gợi dẫn để chúng tôi tìm hiểu cảm thức thời gian tác gia Nguyễn Khuyến
Nghiên cứu nhà thơ, nhà Nho, triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Lê Văn Tấn trong bài viết “Bạch Vân quốc ngữ thi tập các hình
thức diễn đạt về sự ẩn dật” (Tạp chí Khoa học số 7 (58) – 2015, Trường Đại học Sư
Trang 10phạm thành phố Hồ Chí Minh), đã nhấn mạnh: “Trong thời gian hưu trí ở quê nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn gián tiếp dự bàn tham gia trực tiếp vào chính sự”(…) Trong thời gian ở ẩn tại Trung Am, thi nhân luôn thể hiện mình là một ẩn sĩ thanh cao” [64; tr.21] Như vậy, trong quãng thời gian nào, lúc tham chính hay ẩn cư,
Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có những suy cảm đậm tính triết lý trước mọi thế cuộc
Nghiên cứu ở khía cạnh con người nhàn dật trong thơ Nôm Đường luật,
trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Ngọc Hòa với bài viết Con người nhàn dật, tự tại trong thơ Nôm Đường luật (Tạp Chí Khoa Học, Đại học Huế, tập 72A, số 3,
năm 2012), đã dẫn ra các chặng đường đời nhiều biến động mà chính bản thân nhà thơ đã trải qua với nhiều trạng huống cảm xúc Tác giả nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhập thế khi chế độ phong kiến bước dần vào con đường suy tàn (…) Ra làm quan với triều đình nhà Mạc, không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm không thấy những khó khăn trước mắt, nhưng ông vẫn tin vào sự phục hưng của chế độ, vào tài
“phù nghiêng đỡ lệch” của mình, để rồi cuối cùng phải ngậm ngùi “Giúp nước thương dân chưa thỏa lòng ta hồi trước Băn khoăn rất thẹn già không có tài” [20;
131-136] Tài “phù nghiêng đỡ lệch” của Trạng Trình thì đã rõ, thẹn vì mình
“không có tài” như đã thán chỉ là cách nói “ưu tư” trước thế cuộc Đó là cách nói, cách ngẫm về nhân tình thế thái trước dòng chảy thế cuộc với đủ mùi vị “mặn, nhạt,
chua cay lẫn ngọt bùi” (Thói đời) của thời đại mà ông đang hiện diện
Những nhận xét trên đây của các tác giả được xem là những gợi dẫn cần thiết để chúng tôi nghiên cứu về khía cạnh cảm thức thời gian trong sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khuyến, tác giả cuối thế kỉ XIX, giai đoạn cuối của văn học trung đại Việt Nam
Từ những công trình đã nêu, có thể nhận thấy nghiên cứu về cảm thức thời gian tuy không phải vấn đề mới lạ, song, từ góc độ nghiên cứu thi pháp về tác giả tác phẩm, lĩnh vực này cũng cần được luận giải với tư cách là một đối tượng khoa học và có ảnh hưởng nhất định đến quá trình nghiên cứu phong cách tác giả Với những gì được lược thuật trên là cơ sở khoa học quan trọng để chúng tôi tiếp nối đi sâu tìm hiểu cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
2.2 Lịch sử nghiên cứu về cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
Nghiên cứu Nguyễn Khuyến về thơ và cuộc đời, từ trước đến nay hẳn đã thu
Trang 11hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học lý luận phê bình Cho đến nay, nghiên cứu
từ nhiều góc độ khác nhau về tác gia Nguyễn Khuyến vẫn còn là mảnh đất màu mỡ chờ đợi nhiều hướng khai thác mới Theo đó, tìm hiểu về những suy cảm nhận thức của “nhà thơ làng cảnh Việt Nam” biểu hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm được xem là một hướng tiếp cận mới, với hy vọng mang lại những kết quả khả quan góp phần hoàn thiện chân dung nhà thơ
Sự nghiệp thơ Nguyễn Khuyến dành lại đời sau với một khối lượng tác phẩm tương đối lớn, thơ Nôm: 105 bài, thơ chữ Hán: 166 bài Nhận xét nghệ thuật thơ văn Nguyễn Khuyến, nhiều nhà nghiên cứu có chung nhận định thơ ông đã đạt tới một trình độ cổ điển Qua nhiều diễn giải cái hay nét đẹp trong không gian, thời gian biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Lộc đã khái quát thành tựa đề:
“Nguyễn Khuyến - Một phong cách trong văn học” (Giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (1976, in lại 2000 - Nguyễn Lộc) Không phải ngẫu nhiên mà
Nguyễn Khuyến được gọi trìu mến: Nhà thơ làng cảnh Việt Nam với tiếng cười trong phức điệu u mua (humour)
Nghiên cứu Nguyễn Khuyến từ góc độ cuộc đời và thơ, trong công trình Thi hào Nguyễn Khuyến - đời và thơ, (1981), Nguyễn Huệ Chi đã xác định mối quan
hệ giữa dòng chảy thời gian với sự biểu đạt cảm xúc, những suy cảm ngẫm ngợi của nhà thơ trước thế cuộc, thể hiện nỗi niềm khắc khoải, tự trào hay phê phán, ở những thời điểm khác nhau… Và, trong hoàn cảnh, trạng huống nào vẫn hiện lên chính hình bóng con người nhà thơ Tiếp tục nghiên cứu về Nguyễn Khuyến trên phương diện khác về thế giới nghệ thuật thơ, Nguyễn Huệ Chi cho rằng Nguyễn Khuyến là một hiện tượng đa dạng, có quá trình vận động từ ông Nghè Tam nguyên đến “ông Tiến sĩ giấy”, từ vị quan Hàn lâm đến “Ông Phỗng đá”, từ cụ Thượng Và đến một
“lão nông”, trong đó thời điểm trở về (1884) có ý nghĩa bước ngoặt Những bước ngoặt ấy luôn gắn liền với sự trải lòng qua từng bài thơ Nôm, Hán Trong bài báo
“Một vài phương hướng tiếp cận thơ văn Nguyễn Khuyến” (Tạp chí Văn học, số 4,
1985), Nguyễn Huệ Chi nhấn mạnh: “Ở từng thời đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc được Nguyễn Khuyến thể hiện khá chi tiết qua thời gian nhuốm đẫm những tâm
sự cá nhân Do vậy, thời gian nghệ thuật và những suy tư về nó chính là một
Trang 12phương diện biểu đạt cần quan tâm khi tìm hiểu về thơ Nguyễn Khuyến” [2; tr.21 –
22] Như vậy, hiểu thêm về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến, hẳn khó bỏ qua
“thời gian nghệ thuật và những suy tư về nó” được biểu hiện trong thơ ông Nhận
định này là gợi dẫn, thêm căn cứ để chúng tôi tìm hiểu về cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
Trong bài viết “Nguyễn Khuyến với thời gian” trên Tạp chí Văn học (số 4,
1985), Nguyễn Đình Chú nhấn mạnh: “Quả thật, Nguyễn Khuyến xứng đáng được mệnh danh là nhà thơ với những mối khắc khoải về thời gian trong văn chương trung đại Việt Nam Với ông, thơ văn cũng như con người đều là những biểu hiện của ứng xử và thể hiện thời gian Cả hai phương diện ấy ngày nay đã quyện lại thành một giá trị không thể tách bạch, tạo nên những “đặc trị” thẩm mỹ không dễ
gì trong một lúc đã khám phá được hết” [4; tr.44] Nhận định của nhà nghiên cứu
Nguyễn Đình Chú đã nhấn mạnh những giá trị, “đặc trị” về cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến Đó không chỉ là phương thức biểu đạt mà còn là dấu ấn quan trọng trong thế giới nghệ thuật thơ Hán Nôm của Tam nguyên Yên Đổ Và vì thế, Nguyễn Khuyến không phải là một hiện tượng văn học quá phức tạp nhưng để hiểu thấu đáo cần có cách nhìn nhận mới: nhìn từ góc độ thi pháp Không – Thời gian, đó là giá trị nhân bản được khơi gợi từ hồn thơ này
Trong tiểu luận “Từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà Nho đến bức tranh sinh hoạt nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến”
(1992) được sưu tuyển lại trong Nguyễn Khuyến, Tác gia – Tác phẩm, Trần Nho
Thìn đã khẳng định: “Nếu tiêu chuẩn cốt yếu của cảm hứng về thời gian là cảm hứng nghiên cứu, phân tích những giá trị thẩm mĩ thì thơ văn Nguyễn Khuyến đã có những dấu hiệu đáng kể vươn đến tầm khái quát” và “Những biểu đạt về thời gian trong thơ ông bước đầu thoát ly khỏi tính chất công thức của lối cảm thụ thế giới khách quan của nhà nho để phản ánh được cái cụ thể, cái bề bộn, đa dạng trong thực tại ấy.” [41; tr 142] Nhận định của Trần Nho Thìn cho thấy sự cần thiết để
nghiên cứu tìm hiểu những nét riêng của nhà Nho Yên Đổ đã thoát ly khỏi tính chất công thức của lối cảm thụ thế giới khách quan của nhà nho qua những cách biểu đạt
về thời gian trong thơ ông
Trang 13Trong công trình Những thế giới nghệ thuật thơ (1997), với bài viết: “Con
người trong sáng tác của Nguyễn Khuyến”, nghiên cứu từ điểm nhìn con người cá nhân của nhà thơ, khảo sát từng mốc thời gian cụ thể trong cuộc đời của Nguyễn Khuyến để theo dõi bước đường nghệ thuật của ông và định hướng cho quá trình đánh giá về hệ thống đặc điểm thi pháp trong thơ Yên Đổ, Trần Đình Sử nhấn mạnh những giá trị biểu đạt của thời gian nghệ thuật đối với sự thể hiện con người và
quan niệm về con người trong thơ Nguyễn Khuyến Ông xác nhận: “Sự đối lập giữa thời gian quá khứ và thời gian hiện tại của cuộc chiến chống thực dân Pháp qua từng bài thơ chữ Hán, chữ Nôm của ông đã góp phần thể hiện sự suy tư, quá trình tiến triển của một con người luôn mang khát vọng kinh bang tế thế” [60; tr.127]
Trong chuyên luận Thơ Nôm Đường luật (1998), Lã Nhâm Thìn đã đề cập
đến đặc điểm về sự thể hiện thời gian nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu có giá trị về mặt phương pháp luận vì
nó đã đề cập đến rất nhiều phương diện trong thơ văn Nguyễn Khuyến, nhất là những đánh giá xác đáng về một số đóng góp, cách tân về biểu đạt thời gian của Tam nguyên Yên Đổ so với những nhà thơ đương thời
Tìm hiểu nhà Nho Nguyễn Khuyến không thể không gắn với tìm hiểu bối cảnh
xã hội đương thời Trong bài viết “Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hóa xã hội
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
số 9, (1998), Trần Quốc Vượng cho rằng, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến là
bậc đại Nho, đại quan triều Tự Đức ở cuối mùa quân chủ – Nho giáo Việt Nam Ông là một bậc thi bá của Tao đàn Việt Nam (cả chữ Hán cả chữ Nôm), một nhà thơ lớn giàu lòng yêu nước, phẩm chất cao quý, bảo trọng khí tiết mà cam chịu sống
nghèo, rất cận nhân tình và là nhà thơ của dân tình Tác giả khẳng định: “Thưởng thức thơ của ông, người đọc dường như đi dọc theo con lộ lịch sử, bởi trong những bài thơ của ông đều gắn liền với những mốc thời gian quan trọng” Như vậy, trên
những dòng thơ dù gián tiếp hay trực tiếp, Nguyễn Khuyến đã giãi bày những suy cảm của mình để người thưởng thức thơ ông “dường như đi dọc theo từng con lộ
lịch sử” Trên từng “con lộ” ấy đã in đậm những suy cảm cá nhân của Tam Nguyên
Yên Đổ
Trang 14Sau Lã Nhâm Thìn, Trần Ngọc Vương, Biện Minh Điền, Nguyễn Kim Châu
đã tiếp tục có những nghiên cứu cụ thể về Nguyễn Khuyến Trong Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (2008), Biện Minh Điền đã có những gợi mở ban đầu
về vai trò của những dấu hiệu cách tân trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến đối với quá trình hiện đại hoá văn học, trong đó có vấn đề về thời gian nghệ thuật Ông nhấn
mạnh: “Nguyễn Khuyến đã thực sự đảm nhận một vai trò không thể thay thế được trong thế khép lại một chặng đường dài của văn học cổ điển trung đại dân tộc, đồng thời cũng chuẩn bị một số điều kiện quan trọng cho văn học sau đó bước vào phạm trù hiện đại.”[11; tr.383] Nguyễn Khuyến đảm nhiệm vai trò quan trọng cho bước chuyển giao “khép lại” một chặng đường dài “văn học cổ điển trung đại dân tộc” và chuẩn bị một số điều kiện quan trọng “bước vào” phạm trù hiện đại Đặt
trong bối cảnh xã hội đương thời, đảm nhiệm sứ mệnh này của Nguyễn Khuyến hẳn không hề dễ
Có thể nói, cho đến nay, nghiên cứu về tác gia Nguyễn Khuyến vẫn là dòng chảy liên tục với nhiều sự tiếp nối Theo đó, tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề cảm thức thời gian biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyến là điều được xem còn bỏ ngỏ Qua những tài liệu lược thuật nghiên cứu Nguyễn Khuyến ở nhiều góc độ khác nhau, nhất là ở phương diện thi pháp học sẽ là hướng gợi mở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu về cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong thế giới nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Khuyến, thời gian được cảm nhận, ý thức một cách hệ thống dưới nhiều dạng thức khác nhau biểu hiện những trạng huống cảm xúc khác nhau trong từng chặng đường đời…của chính nhà thơ
Đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu về các biểu hiện cảm thức thời gian trong thơ của Nguyễn Khuyến và những phương thức nghệ thuật thể hiện các kiểu thời gian trong nhận thức và cảm xúc của nhà thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu thơ Nguyễn Khuyến, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, tổng kết các bình diện thời gian nghệ thuật được thể hiện trong
Trang 15thơ chữ Hán, chữ Nôm Đồng thời, thông qua phân tích các giá trị nội dung, nghệ thuật biểu hiện cảm thức thời gian của nhà thơ, luận văn góp phần hiểu thêm về tâm hồn, tư tưởng tình cảm và những đóng góp đặc sắc trong sáng tạo nghệ thuật của tác gia Nguyễn Khuyến
3.3 Văn bản khảo sát
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát những tác phẩm thơ
Hán Nôm được sưu tuyển trong sách Thơ văn Nguyễn Khuyến do Xuân Diệu giới
thiệu [8] Sách do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1979 Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu của phạm vi đề tài đặt ra, chúng tôi chọn khảo sát 271 bài thơ, trong đó
có 166 bài thơ chữ Hán và 105 bài thơ chữ Nôm của Nguyễn Khuyến Những trích
dẫn về thơ Nguyễn Khuyến, cả phần phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ trong luận văn này đều được chuyển dẫn từ công trình nêu trên Người viết thừa hưởng thành quả của những người đi trước và không sáng tạo gì thêm về phiên âm dịch nghĩa của văn bản
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề liên quan đến cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến, qua đó góp phần phác họa rõ thêm chân dung một tác gia quan trọng trong tiến trình phát triển văn học trung đại Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
- Luận văn góp phần nâng cao chất lượng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập thơ Nguyễn Khuyến trong nhà trường hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tổng hợp linh hoạt một số phương pháp:
- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này được sử dụng để tập
hợp và thống kê được số lượng những câu thơ, bài thơ có biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp yếu tố thời gian và cảm nhận thời gian của tác giả
- Phương pháp thống kê miêu tả: Sau khi xác định được những câu thơ, bài
thơ có biểu hiện yếu tố thời gian, chúng tôi tiến hành mô tả sự biểu hiện ấy nhằm làm rõ đặc trưng thời gian, biểu hiện các ý nghĩa thời gian của nhà thơ
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng trong việc so sánh
thơ Nguyễn Khuyến với thơ của các tác giả trung đại khác như Nguyễn Trãi,
Trang 16Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,… Mục đích của việc so sánh là nhằm phát hiện sự sáng tạo độc đáo, phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn Khuyến trong sáng tác văn chương trên hai chiều hướng thơ bác học chữ Hán và thơ bình dân chữ Nôm
Bên cạnh các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp để giải quyết vấn đề Thao tác phân tích được sử dụng khi mô tả loại hình thơ nhằm làm rõ những biểu hiện đặc trưng nhất của các biểu hiện thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn kết cấu theo 03 chương:
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Nội dung Chương 1 tập trung nghiên cứu những vấn đề về cách hiểu và sự biểu đạt của cảm thức thời gian trong thơ trung đại Việt Nam Ngoài ra, để xác định những cơ sở hình thành và vận động của cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyễn, tìm hiểu về các điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và quá trình cá nhân của nhà thơ là những căn cứ cần thiết Những yếu tố này đã góp phần xác định rõ các phương hướng biểu đạt và định hình cho sự thể hiện của cảm thức thời gian trong thơ ông
Chương 2 CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Trên cơ sở những căn cứ đã được xác định ở Chương một, Chương hai chúng tôi nhận diện các dạng thức biểu hiện thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến (Thời gian chu kỳ theo tuần hoàn vũ trụ, thời gian diễn ra những sự kiện trong đời sống xã hội, thời gian tâm lý in đậm nỗi niềm cảm suy của người nghệ sĩ) và những ứng xử suy nghiệm của nhà thơ trước dòng chảy thế cuộc
Chương 3 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Chương 3, Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu những hình ảnh tiêu biểu cùng với nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu trữ tình thể hiện những suy tư ngẫm ngợi, nhận thức các dòng chảy thời gian của nhà thơ biểu hiện qua thơ chữ Hán và
Trang 17thơ chữ Nôm Nguyễn Khuyến Đây là những biểu hiện khá rõ ràng, giúp cho người đọc có thể nhận thức đầy đủ về hệ giá trị thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật thơ Yên
Đổ trong mối liên hệ với các nhà thơ cùng thời
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
1.1 Cảm thức thời gian trong thơ ca trung đại
1.1.1 Giới thuyết chung về thuật ngữ “cảm thức thời gian”
Lịch sử tồn tại của thế giới vật chất được xác định qua ba chiều thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai Thời gian là một đại lượng vận hành thường nhật trước - sau, tiền - hậu, đầu – đuôi, thủy – chung… Tuy không phải là yếu tố duy nhất giúp cho việc cảm nhận và khám phá tâm hồn con người, nhưng thời gian đã giúp cho việc xác định rõ những thuộc tính của con người qua quá trình sinh tồn lâu dài và
tương tác với thế giới xung quanh Theo Từ điển Tiếng Việt (Tác giả Hoàng Phê)
định nghĩa: “Thời gian là một phạm trù triết học, cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới có tính xác định” [54; tr.52] Theo
đó, danh từ “thời gian” được hiểu là một đại lượng tồn tại khách quan của mọi vật chất, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới hiện hữu này Sự tồn tại của con người không thể không quan hệ đến bối cảnh không gian và lịch trình của thời gian Sự hiện hữu của thời gian luôn dung chứa vạn vật và con người cùng với các hiện tượng tự nhiên, xã hội… Chính vì thế, trong cuộc đời của mình con người có thể cảm nhận được sự tuần hoàn của thời gian, bước đi của nó luôn và sẽ gắn liền với ý thức của con người Đó chính là ý thức trước dòng chảy thời gian theo cảm xúc chủ quan và nó trở thành một hiện tượng mang tính phổ quát trong hiện thực cũng như trong sáng tác nghệ thuật
Trong đời sống văn chương, khi phác họa hoàn chỉnh chân dung người nghệ
sĩ, việc xem xét đánh giá những biểu hiện nhận thức trước các dòng chảy thời gian được chuyển hóa trong cảm xúc ý thức của chủ thể trữ tình qua sáng tác nghệ thuật thực sự có ý nghĩa không kém phần quan trọng Không chỉ nhận thức vòng quay của tự nhiên, con người cũng ý thức rất rõ về vòng đời Việc đo đếm, xác định sự vận động của tự nhiên theo một chu kì để phục vụ cho lao động sản xuất, con người
Trang 19cũng đồng thời nhận thấy tác động của nó đối với đời sống Họ tính toán các ngày tháng lành, ngày hung tháng hạn để dự tính làm những việc quan trọng: đi xa, cưới
vợ, làm nhà… Người ta cũng đã chứng minh các ngày đặc biệt: thảm họa từ thiên nhiên, sự thay đổi triều đại, tai nạn lớn… đều có liên quan đến các dấu hiệu khác thường trên bầu trời
Từ xa xưa, con người đã nhận thức thời gian (cùng với không gian) chính là hình thức tồn tại của thế giới vật chất, không một vật thể nào có thể tồn tại ngoài
thời gian Trong Các phạm trù văn hóa trung cổ (1996), A.JA Gurevich nhấn
mạnh: “Khó mà tìm được tiêu chí, khắc họa đầy đủ bản chất của văn hóa như là khái niệm thời gian Trong khái niệm thể hiện đầy đủ cảm quan và thế giới của thời đại, hành vi của con người, ý thức của nó, nhịp của cuộc sống, thái độ đối với sự vật”[17; tr.98] Nhận thức này là cơ sở khách quan để đi đến khái niệm phần nào
mang tính chủ quan: cảm thức thời gian
“Cảm thức thời gian” là một khái niệm thuộc lĩnh vực tâm lý học chuyên sâu Trong nghiên cứu văn học, các nhà phê bình đã vay mượn cách nói này để định hình cho một lối cảm nhận thời gian tâm lí thường tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật Từ góc nhìn tâm lý học, cảm thức là phương cách mà con người nhận thức, đánh giá, xem xét một vấn đề thông qua con mắt chủ quan, bằng chính cảm nhận của mình chứ không phụ thuộc vào bất kì một ai khác Trong văn học, thời gian khách quan được phản chiếu khi đi vào tác phẩm thông qua lăng kính cảm nhận của nhà văn, do đó nó đã có sự biến chuyển và không còn là chính mình Người ta có thể thấy thời gian nhanh như thoi đưa, hoặc chậm đến nỗi một ngày như nghìn thu
(Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại); Hoặc thời gian không còn là một khái niệm
trừu tượng mà có khi tồn tại ở dạng cụ thể như hương vị, như màu sắc, như vật thể hiện hữu Thời gian được cảm nhận không phải bằng các đại lượng vật lý thông thường như giây, phút, giờ, tháng, năm… mà bằng chính cảm xúc mang rất rõ yếu
tố chủ quan của con người Chẳng hạn khi Nguyễn Du cảm nhận bước đi của thời gian bằng những hình ảnh đầy sắc màu suy cảm: “Sen tàn cúc lại nở hoa,/ Sầu dài
ngày ngắn, đông đà sang xuân” (Truyện Kiều) Không chỉ diễn giải bốn mùa trôi
chảy trong một năm Mùa hạ -> mùa thu -> mùa đông -> mùa xuân, Nguyễn Du còn
Trang 20diễn tả dòng thời gian gắn với màu sắc tâm lý “dài ngắn, nhanh chậm” trong dòng chảy tuyến tính Tâm trạng trong trong cảnh li biệt và những xúc cảm buồn bã có
thể làm cho con người ta cảm thấy thời gian trôi đi thật lâu: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” hoặc “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” (Nguyễn Du) Khi chủ thể trữ
tình mang nặng tâm tư trước thời gian khách quan thì thời gian có thể ngưng đọng hoặc hoặc trôi nhanh theo cảm nhận của tâm thức Thời gian đời người, đối với mỗi
cá nhân mà nói, cũng khác nhau hoàn toàn Do đó, tâm lý là một trong những yếu quan trọng ảnh hưởng đến sự cảm thức thời gian của con người
Trong sáng tạo nghệ thuật, thời gian được cảm nhận và biểu đạt qua quy trình tâm lý con người Thời gian trong cảm thức của con người như một cơ thể sống với các trạng thái cảm xúc phong phú đa dạng, phức tạp được mở rộng đường biên với các chiều kích để đánh dấu những phút giây, sự kiện đặc biệt trong cuộc sống của
cá nhân hoặc thời đại Thời gian luôn tồn tại khách quan, nhưng đối với mỗi cá nhân, thời gian lại mang màu sắc, dấu ấn riêng biệt chủ quan của từng cá thể Cùng tồn tại trong dòng chảy thời gian, nhưng mỗi người nghệ sĩ lại cảm nhận sự trôi chảy đó bằng nhận thức và quan niệm riêng, in đậm dấu ấn cá nhân Các thi nhân đời Đường khi đứng trước vũ trụ bao la, họ luôn mẫn cảm, suy nghiệm cảm nhận được sự vô hạn của không gian và sự hữu hạn của kiếp người Trần Tử Ngang lắng nghe thời gian trôi chảy qua tâm thức của một con người vũ trụ:
Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du, Độc đương nhiên nhi lệ hạ
Dịch thơ (Trước chẳng thấy người xưa,
Sau chẳng thấy người nay
Ngẫm trời đất thật vô cùng, Riêng lòng đau mà lệ xót)
(Đăng U Châu đài ca)
Cái quá vãng của thời trước, cái hối hả đến gần của tương lai và cái hiện tồn
cô độc được Trần Tử Ngang “dồn nén” trong khoảnh khắc cảm nhận qua tấm lòng
Trang 21riêng đầy cảm xúc cô đơn đau xót
Bằng sự trải nghiệm của bản thân trong dòng chảy thời gian vật lý, người nghệ sĩ cảm nhận thời gian trong ưu tư khắc khoải trước những biến cải thế nhân Người nghệ sĩ nhận ra sự trôi chảy vĩnh viễn của thời gian để kịp hoài niệm về những chặng đường mình đã đi qua Thời gian đã đi qua bộ lọc cảm quan của người nghệ sĩ Hàng nghìn đời nay, trong dòng chảy thời gian, tất cả vạn vật, sinh linh trong vũ trụ đều trở nên hữu hạn, mong manh… Thời gian tạo nên mọi biến thiên, đồng thời cũng làm đổi thay hết thảy Không một quyền uy nào có thể níu giữ được thời gian Thi sĩ vốn là người mang trái tim nhạy cảm, thời gian trong tâm thức của
họ không chỉ là một ý niệm vật lý thường tình để giãi bày tâm thế mà đó còn là cảm thức hiện sinh thể hiện một cái nhìn riêng của thi nhân về cuộc đời và thế sự trong
sự nghiệm sinh của mình với tư cách là một con người hiện hữu trong cõi nhân sinh Trong sáng tạo thi ca, cảm thức thời gian là một trong những phẩm tính thể hiện tài năng cảm xúc của người nghệ sĩ được biểu hiện trong thi phẩm của mình Xuất phát từ cái nhìn, sự trải nghiệm cá nhân, mang tính tâm lí, thời gian trong cảm thức của người nghệ sĩ hoàn toàn tự do và khác về bản chất với thời gian theo nghĩa thông thường Vẫn là thời gian với các đặc trưng: tính liên tục, độ dài, hướng, nhịp nhưng các đặc trưng này có thể co giãn theo dòng tâm trạng, cách nhìn và dụng
ý của người nghệ sĩ Do đó, cảm thức thời gian có thể hiểu là những cảm nhận về dòng chảy thời gian của con người trong sự sinh tồn, suy nghiệm của bản thân Nó chịu sự tác động và ảnh hưởng của tâm lý, cũng như hoàn cảnh sống của con người trong từng thời đoạn nhất định Cảm thức thời gian trong cuộc sống cũng như trong văn học cũng đều có những nét tương đồng và dị biệt, tất cả đều bị chi phối bởi lăng kính, quan niệm và hoàn cảnh cá nhân Cảm thức thời gian là một phương thức cảm nhận về thế giới khách quan một cách nhân văn và đẹp nhất trong mỗi con người Khi được thể hiện trong tác phẩm văn học, những biểu hiện của cảm thức thời gian
sẽ giúp cho nhà văn thể hiện được những vi tế trong sự cảm nhận, phản ánh và bộc
lộ cảm xúc trước những sự kiện trong dòng chảy thời gian Trên bình diện phổ quát, cảm thức thời gian là vấn đề thường gặp trong thơ của nhiều nhà thơ của dân tộc và thế giới như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… Lý Bạch, Thôi
Trang 22Hiệu… Và hẳn nhiên, cảm thức thời gian Nguyễn Khuyến cũng không nằm ngoài quỹ đạo tư duy thơ nhân loại
1.1.2 Diễn tiến cảm thức thời gian trong thơ trung đại Việt Nam
Trong thi pháp nghệ thuật của các sáng tác thời trung đại, đặc biệt là thơ, sự biểu đạt những cảm nhận về thời gian nghệ thuật tuy bị chi phối bởi những quan niệm được kế thừa của văn học Trung Hoa nhưng không vì thế mà không lưu lại dấu ấn cho mỗi thời đại Trong nhận thức của các nghệ sĩ trung đại Việt Nam, thời gian có những ý nghĩa, chức năng nhất định trong việc thực hiện chức năng nghệ thuật Thời gian trong thơ ca thống nhất nhưng không đồng nhất với thời gian vật lí Bản thân thời gian vật lí tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người Thời gian vật lí chỉ trở thành thời gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận và phản ánh qua lăng kính cá nhân của mình Thông qua
sự phản ánh đó, nhà nghệ sĩ có thể bộc lộ những cách cảm, cách nghĩ về thế giới, trình bày cảm nghiệm nhân sinh, thể hiện thái độ sống trước những sự kiện xã hội trong dòng chảy thời gian Khác với tính khách quan của thời gian vật lí, thời gian nghệ thuật mang đậm tính chủ quan và cá tính của người nghệ sĩ ở cách cảm nhận, miêu tả Trong thế giới nghệ thuật của mình, người nghệ sĩ hoàn toàn có quyền sử dụng, tái hiện thời gian theo nhu cầu và mục đích nghệ thuật của mình Thời gian nghệ thuật là một hiện tượng ước lệ trong thế giới nghệ thuật; một phạm trù trừu tượng trong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết qua sự vận động, biến đổi của chuỗi các hiện tượng, sự kiện diễn ra qua tấm màng lọc trí tuệ của lăng kính chủ
quan của người nghệ sĩ
Trong diễn trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam, mỗi một thời kì, thể loại đều có những cách cảm và biểu đạt thời gian khác nhau Trong văn học thời
Lý Trần, thơ Thiền không chiếm vị trí độc tôn nhưng góp phần quan trọng định hình nên diện mạo của văn học thời kì này Bên cạnh những vần thơ giàu cảm hứng yêu nước sôi nổi, hào hùng, hay thống thiết bi ai của những trí thức của thời đại, thơ Thiền đã hé lộ những biểu hiện rất quan trọng trong tâm hồn và tính cách con người thời đại nhà Trần Trong những phương diện làm nên nét đặc sắc của thơ Thiền thời
Lý Trần, những biểu hiện của cảm thức thời gian là những đóng góp rất đáng ghi
Trang 23nhận Thời gian trong tâm thức của các thiền gia đời Lý Trần chính là thời gian của thực tại nhưng đắm say trong những giây phút đạt đạo, sự vĩnh hằng hoá khoảnh khắc giác ngộ trong mối quan hệ với đời sống thường nhật theo tinh thần “hòa quang đồng trần” của thời đại Trong thời đại này, sau những năm tháng lập quốc vất vả, nhân dân thời Lý Trần luôn vui với niềm vui chiến thắng chống giặc Tống, rồi Nguyên Mông để bảo vệ biên cương lãnh thổ Nhưng, có lẽ đó không phải là cảm xúc chủ đạo trong cảm hứng thơ thời kì này Điều làm nên vóc dáng của một thời đại phát triển rực rỡ của lịch sử dân tộc đó là sự đồng tâm của các giới, các giai tầng Trong đó có các thiền sư, các trí thức ngộ đạo, đặc biệt là những bậc quân vương sùng tín Phật pháp như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông Họ biết sống vì đã biết góp nhặt từng niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống thường nhật – cuộc sống thực tại Chính điều đó đã tạo nên cho văn học thời
Lý Trần một kiểu thời gian khá đặc biệt – Đó là thời gian thực tại đắm say của giây phút đạt đạo – và giây phút ấy đã được vĩnh hằng hóa Chẳng hạn như Trần Thái Tông (Trần Cảnh) – vị vua khai quốc của nhà Trần Ông đến với thơ Thiền để đi tìm niềm thanh thản cho tâm hồn sau những bi kịch mà thời đại và sứ mệnh lịch sử
đã khoác lên số phận của mình Trần Thái Tông lên ngôi vua, cầm quân đánh giặc chống ngoại xâm, cùng với quần thần xây dựng một triều đại vừa suy vi của nhà Lý Nhưng trong thời của mình, Trần Thái Tông vẫn luôn thể hiện phong thái của một thi nhân có những rung cảm tinh tế trước thiên nhiên, với những trăn trở thao thức trước thế sự, cuộc đời Thơ Trần Thái Tông nổi bật với cảm hứng sám hối với những mặc cảm do thời cuộc đưa đến Song, không phải vì thế mà thơ của ông
khuyết vắng niềm vui trần thế Bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn là một
Dịch nghĩa (Gió đập cửa thông, trăng sáng trước sân,
Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ,
Trang 24Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay, Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng) Trần Thái Tông đã khắc họa được một khoảnh khắc vô cùng đặc biệt, đó là lúc con người và cảnh vật hòa điệu trong một niềm an lạc bất tận Niềm vui an lạc đã nhẹ nhàng lan tỏa vào cảnh và lòng người, không chút ồn ào, náo nhiệt Đó là lúc
mà gió, trăng và lòng người đã hòa điệu cùng nhau trong một thời khắc sát na của thực tại Niềm vui an lạc ấy đã hình thành nên trực giác đặc biệt đã quán xuyến sự cảm nhận của nhà thơ trước dòng chảy thời gian và cảm nhận của chính tác giả ấy với tư cách là một chứng nhân thực tế
Thơ ca trung đại thời hậu thượng kì phong kiến, các nhà thơ có xu hướng bất
tử hóa thời gian lịch sử và gắn kết thời gian với những chiến công hiển hách trong công cuộc chống ngoại xâm vĩ đại Trong thơ, các dấu tích lịch sử được cảm nhận
cũng như tồn tại trong hiện tại của không gian Trong Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão
từng nhắc đến chí nam nhi được đặt trong suy cảm trước tiền nhân Gia Cát Vũ hầu:
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
Dịch thơ (Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.) Cái hào sảng ấy chính là cách bày tỏ chí khí bằng việc đặt mình vào thời điểm như là người cùng thời để bày tỏ Cùng với cách diễn đạt theo thời gian lịch sử, Đặng Dung từng thốt lên lời cay đắng để nhận ra hiện tình con người trong sự thành bại trước thời vận:
Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
(Cảm hoài)
Dịch nghĩa (Khi gặp thời thì anh hàng thịt, người câu cá cũng dễ lập công,
Nếu thời vận đã qua thì anh hùng cũng chỉ uống hận.)
Mượn điển cố Hàn Tín câu cá và Phàn Khoái làm thịt chó, Đặng Dung muốn
bộc bạch một cảm nhận của mình về cuộc đời Thành công của con người còn phải được đặt trong thời vận
Trang 25Từ điểm nhìn của một vị tướng hào hùng thời Trần, lịch sử hiện ra trong cảm thức của ông như một niềm tự hào cùng với niềm kiêu hãnh về non sông đất nước,
về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Trên đường phò vua hồi kinh, với niềm tự hào và sảng khoái, Trần Quang Khải nhìn thời gian hiện tại qua dòng thời gian lịch
sử gắn với bao chiến công hiển hách của ông cha:
Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san
(Tụng giá hoàn kinh sư)
Dịch thơ (Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu)
“Non nước nghìn thu” là sự cảm khái về sự trường tồn của quốc gia Đại Việt
Nghìn thu là thời gian vĩnh hằng Cảm thức viên thành ấy được gắn liền với không gian hóa gắn với những chiến công hiển hách, với tên tuổi những trận đánh oanh liệt nơi trận tuyến Chương Dương, Hàm Tử thời chống Mông Nguyên Cảm thức ấy được tôn vinh thành biểu trưng cho tinh thần dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ, một giá trị vững bền luôn được huy động bởi hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc
Đến thế kỉ XV, cảm thức hiện hữu về thời gian vẫn được tiếp tục thể hiện trong thơ ca giai đoạn này Ngoài ý nghĩa thể hiện sự diễn tiến của dòng chảy, nó còn biểu đạt sự hữu hạn của đời người trong cuộc sống Các tác gia văn học giai đoạn này mượn hình ảnh thời gian trong nhiều chiều kích khác nhau để diễn tả tính chất tồn tại của cá nhân, cá thể của kiếp người Khi Ức Trai suy ngẫm về sự vô cùng của thời gian miên viễn kim cổ và sự hữu hạn của anh hùng thì đó cũng là lúc ông đã nhận chân sự tồn tại hữu hạn của đời người trước vô hạn của vũ trụ để khẳng định tính chất tồn tại của cá nhân, cá thể con người trước vũ trụ:
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc, Anh hùng hữu hạn diệp tiêu tiêu
Trang 26Ở một phương diện khác, thời trung đại, các nhà Nho đã tận dụng thời gian
nhàn nhã để tận hưởng các thú vui thanh cao: cầm, kỳ, thi, tửu, hoạ, hoặc dạo chơi
để thưởng ngoạn non thanh thuỷ tú, hoà vui với thiên nhiên Với Nguyễn Trãi, một
nhân cách lớn, là một danh Nho có phong cách sống vừa thực tế vừa uyên nhã, cách cảm nhận thời gian của thi nhân càng đậm màu sắc thế sự nhân sinh Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu có chung nhận định, thơ Nguyễn Trãi chính là
“Nhật ký” của nhà thơ Bởi lẽ, trên những dòng thơ, từng chặng đường đời của nhà
thơ với những cung bậc cảm xúc thăng trầm đã được tái hiện dưới nhiều hình thức gián tiếp hoặc trực tiếp, lúc đắc thời lẫn khi yếm thế
Kéo dài mười thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong tính quy phạm chặt chẽ Song, sáng tác nghệ thuật trước hết vẫn là cảm quan của người nghệ sĩ vốn mang yếu tính cá nhân, nên, dù sáng tác trong những chuẩn phạm của nghệ thuật trung đại, trên từng tác phẩm vẫn bật lên những sáng tạo cá nhân Thời trung đại, phần lớn các nhà Nho cũng là những người nghệ sĩ luôn biết cân bằng tĩnh tại đời sống tinh thần Lúc ở triều quan thì dấn thân nhập cuộc “cuồn cuộn nước triều đông” với cả tấc lòng, khi “sóng gió” thất thường lại tìm về “hạc rừng vượn núi” an nhiên với thái độ chấp nhận và bình thản Tức là người nghệ sĩ nhà Nho đã biết tìm
về thời gian đời thường với những thú vui nhàn tản Người nghệ sĩ khi đã đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối của tâm hồn, quên hết nỗi ám ảnh chóng vánh kiếp người,
sống an nhiên tự tại với những thú vui thanh nhã Nguyễn Trãi đến với: “đêm hớp nguyệt”, “ngày xem hoa”, “ngày xuân chấm câu”…; Triết nhân Nguyễn Bỉnh
Khiêm lại tìm về: “Khúc văn thơ đọc đời Nghiêu Thuấn/ Khúc thái bình nhờ chúa
Vũ Thang” (BVQNTT), “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (BVQNTT)…; Nguyễn Khuyến sau những đau đáu với thời cuộc “Năm canh máu chảy đêm hè vắng/ Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ” cũng tự tìm về “vườn Bùi chốn cũ” với tam khúc thu ca: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm… Đó chính là thời gian gắn với
bao thế sự diễn ra, đi vào trong tâm trạng xúc cảm của mỗi nhà Nho nghệ sĩ
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng dù ở thời kỳ nào, trung đại hay hiện đại cũng đều tồn tại bản ngã, tồn tại con người cá nhân, cá thể Chỉ có điều, tùy vào quan điểm, tư tưởng của từng thời đại lịch sử có những quy phạm nhất định Tuân
Trang 27chuẩn theo hệ thống thi pháp trung đại, người nghệ sĩ thời trung đại vẫn không ngừng sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã để khắc họa “cái tôi” trong dòng chảy thời gian qua những tìm tòi, thể nghiệm sáng tạo cá nhân Vì thế, sự phá cách, vượt chuẩn trong sáng tạo nghệ thuật cũng là lẽ đương nhiên trong sáng tác thơ ca thời trung đại
Văn học trung đại ở các thế kỷ về sau, ý thức về cái tôi đã hình thành và
“lớn” dần Bên cạnh, cảm thức trước thời gian đã được người nghệ sĩ chiêm nghiệm, suy tư và thể hiện trong từng thi phẩm khá rõ, người nghệ sĩ đã chạm vào ý thức về “phận người” trước thực tế Họ cảm suy tuổi tác, sự sống và cái chết trước thời gian, nhận ra sự bất lực của con người trước dòng chảy thế cuộc… Từ đó, người nghệ sĩ hướng cảm xúc về ý thức cá nhân trước dòng chảy thời gian với cuộc đời khá mạnh mẽ Dòng thời gian vô tình trôi chảy đã được đề cập nhiều bằng những khái niệm: “tiếc xuân”, “thương thân”, “tiếc thân”, lo sợ tuổi trẻ chóng tàn trong nguồn thi hứng của các nhà thơ trung đại Thời gian mang xúc cảm cá nhân làm nảy
sinh các dạng đề thơ: Thương xuân, Tiếc xuân, Thương thệ, Tự tình, Thuật hứng…
Mười thế kỷ thơ ca trung đại đã đánh dấu bước chuyển mình rực rỡ về ý thức
cá nhân trong sáng tác ở những thời kỳ sau Khi xã hội đã có nhiều biến đổi, giá trị vật chất đã được thừa nhận và hơi “đồng tiền” đã bén mùi trong cuộc sống, thời gian tâm lý ngẫm ngợi về thế cuộc đã xuất hiện trong thơ mà vốn dĩ thơ là nơi cao nhã dành cho “thiên nhiên ái” Nguyễn Bỉnh Khiêm từng nhận ra sự biến cải thế nhân trước thời gian “biến cải” và sức mạnh đồng tiền đã làm biến đổi nhiều giá trị Theo đó, các giá trị đạo đức, ứng xử của con người cũng theo sự đổi thay của thời gian mà biến đổi để nâng lên thành một khái quát triết lý “thói đời” về lẽ “khôn/
dại”, “được thua”, về giá trị con người và giá trị đồng tiền thật chua chát: “Người của lấy cân ta thử nhắc, Mới hay rằng của nặng hơn người” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Bao trùm trong kiếp nhân sinh “trăm năm trong cõi người” còn là một cảm
thức không gian buồn quạnh, thời gian tàn tạ, phôi pha Đối với Nguyễn Du các đơn
vị đo thời gian như năm, tháng, ngày, trăm năm, nghìn thu… không chỉ là biểu hiện
dòng chảy thời gian tuyến tính mà còn mang ý nghĩa sâu sắc là sự đổi thay nhanh chóng, thê lương bao trùm cả không gian tàn tạ trong tâm cảm nhà thơ Cảm quan
Trang 28thời gian của thi nhân thể hiện trong sáng tác thi ca ở các thế kỷ sau đã có nhiều thay đổi, diễn tiến hướng sâu vào những suy cảm cá nhân nghiêng về thân phận kiếp người giữa thế cuộc Khác với Nguyễn Du, nhà Nho Nguyễn Công Trứ không mang nặng cảm thức “hối đầu”, “quay lại”, “ngoái trông”… với nỗi buồn đơn quạnh như những thi nhân trước ông Nhà Nho thay đổi thái độ cảm nhận trước thời gian, ông coi trọng thời hiện tại và đề cao quan niệm tận hưởng những gì đang hiện hữu “Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày” Ông tìm cách làm chủ thời gian, hiểu sự
huyễn hoặc của đời người: “Nắng đắc kỉ thời khai khẩu tiếu/ Cư chư toàn phụ thử quang âm” (dịch nghĩa: Dễ được mấy lần mở miệng cười/ Lần nữa là phụ với thời giờ) (Nợ phong lưu) Đề cao giá trị của sự hưởng thụ tức thời, Nguyễn Công Trứ
đóng khung thời gian ở thì hiện tại: “Chơi xuân kẻo hết xuân đi” Điều này gần cách cảm nhận thời gian tuyến tính “xuân bất tái lai”, thời gian trôi qua không trở lại
Từ thế kỷ XVIII trở đi ý thức về cái tôi cá nhân đã phát triển mạnh mẽ Con người lo sợ nhìn thời gian trôi không trở lại, đồng nghĩa với tuổi trẻ chóng tàn, đời
người sớm phôi pha Đặng Trần Côn khắc khoải nhìn thời gian trôi: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng” (Chinh phụ ngâm) Từ trong
nỗi niềm “tiếc”, “thương” về sự trôi chảy của dòng đời, khát vọng về ý thức sống hạnh phúc trên thế tục “kiếp này” được vươn lên mạnh mẽ, quyết liệt:
Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
(Chinh phụ ngâm) Thương thân, tiếc thân, xót thân, lo sợ tuổi xuân chóng tàn, nữ sĩ Hồ Xuân Hương, sau nhiều đêm: “Trơ cái hồng nhan với nước non” (Tự tình), nữ sĩ không
chỉ ưu tư trước thời gian mà tìm cách “kéo” dòng chảy hiện tại đang trôi qua một cách bất lực vì lo sợ tuổi xuân chóng tàn Nữ sĩ như thách thức trước thời gian:
“Thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình)
Khắc khoải trước hiện tình thế cuộc, đau đáu nỗi đau lực bất tòng tâm cùng với yếu tố cảm thụ cá nhân những nhu cầu trần thế xuất hiện trong tâm thức hiện sinh của con người đã làm cho những biểu hiện cảm thức thời gian trong thơ đa dạng hơn và biến đổi rõ nét Đến thế kỷ XIX, trong cảnh chiều tàn của chế độ
Trang 29phong kiến với bao cảnh đời hiện thực “cười ra nước mắt”, thơ Nguyễn Khuyến đã định hình với cảm thức thời gian gắn với cái tôi cá nhân rất rõ “Cái tôi” trữ tình
mang nỗi buồn đau nhân thế, khắc khoải “năm canh máu chảy, sáu khắc hồn tan”
với cuộc đời của Nguyễn Khuyến đã thể hiện sâu sắc trong những vần thơ mang nỗi niềm cô đơn trước thời gian đến nao lòng Có bi kịch nào hơn khi chính mình cũng
không còn nhận ra mình trước thời gian: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/ Ngàn năm bay hạc, tớ là ai ?” (Muộn II) Còn cô đơn nào hơn, còn đau đớn nào hơn
khi giữa dòng đời trôi chảy, “ta” chẳng nhận ra “ta” - “tớ là ai”! Nhà Nho cuối kỳ với ý thức cá nhân mạnh mẽ trước thời cuộc đen tối đã day dứt khôn nguôi về sự bất lực của mình, trăn trở về một hiện thời mà ông Tú Thành Nam cũng từng khắc khoải:
Đêm sao đêm mãi tối mò mờ Đêm đến bao giờ mới sáng cho
Như vậy, trong diễn trình văn học mười thế kỷ trung đại, cách biểu hiện cảm nhận về thời gian của mỗi thi nhân không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vào từng chặng đường đời, từng thời đại lịch sử biến động và cảm quan thẩm mỹ khác nhau của mỗi cá nhân Trên tiến trình ấy, cảm thức thời gian trong sáng tác thơ ca của các thi nhân trung đại đã có nhiểu chuyển biến Càng về sau, ý thức về con người cá nhân trong dòng chảy nhân sinh của người nghệ sĩ càng thể hiện rõ nét Cùng với không gian hiện hữu, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” Các kiểu thời gian qua “bộ lọc” xúc cảm và tri nhận của người nghệ sĩ đã được định hình thành những cảm thức riêng trên cái nền chung của nghệ thuật thời trung đại Những kiểu cảm nhận thời gian nghệ thuật trên xuất hiện trong thơ ca trung đại Việt Nam, chủ yếu trong thơ của các nhà Nho Thông qua một loại hình nghệ thuật ước lệ in đậm nét cảm nhận chủ quan của nhà thơ trước dòng chảy thời gian, cảm thức thời gian của người nghệ sĩ tồn tại trong thơ thể hiện khá rõ Các hình ảnh nghệ thuật ấy được
đo bằng những thước đo khác nhau bằng sự suy nghiệm trước vũ trụ, nhân sinh, bằng sự lặp lại đều đặn của các hoạt động đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp
gỡ, chia tay…mùa này, mùa khác, sự biến cải bể dâu… đã tạo nên đặc trưng riêng trong từng sáng tác qua cảm nhận của người nghệ sĩ ở những thời đại khác nhau
Trang 301.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Khuyến
1.2.1 Điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội
Tiến trình lịch sử Việt Nam, giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã chứng kiến những biến động dữ dội Về mặt lịch sử, đây là thời đoạn lịch sử đầy bi thương:
“Bắt đầu bằng sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta (…) và kết thúc bằng sự kiện cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống xâm lược tạm thời bị thất bại, thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa của chúng” (Trần văn Giàu) [16; tr.577] Xét trong tiến trình văn học, giai đoạn này được bắt đầu bằng thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn tố cáo hiện thực của Tú Xương và Nguyễn Khuyến Ở thời kì này, chế độ phong kiến Việt Nam đã bị lung lay dữ dội Trước sự tấn công mạnh mẽ thế lực ngoại xâm và phong trào nông dân, canh tân, thế và lực của chiếc ngai vàng ngự trị gần một ngàn năm trở nên bị đe dọa nghiêm trọng Trước sức mạnh đến từ kẻ thù “Tây dương bạch quỷ”, triều đình nhà Nguyễn dần tỏ ra bất lực Nội bộ triều đình phân hóa thành hai phái chủ chiến và chủ hòa Trong khi Nguyễn Khuyến còn đang dùi mài kinh sử thì năm 1858 quân Pháp đã nổ phát súng xâm lược đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), tiếp theo chúng quay sang đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862) rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867) Sau đó, chúng đánh ra miền Bắc và lần lượt đánh ở
Hà Nội (1882), đánh kinh thành Huế (1885) Triều đình đầu hàng, liên tiếp kí các hiệp ước giao đất cho giặc nhưng nhân dân không khuất phục Dưới sự lãnh đạo của nhiều sĩ phu yêu nước, của những lãnh tụ nhân dân, nhân dân Đại Việt đã kiên cường đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược cùng bè lũ bán nước Phong trào chống thực dân Pháp sôi nổi rầm rộ khắp cả nước khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương Có thể nói, đặc điểm trung tâm và nổi bật của lịch sử,
xã hội nước ta giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX là sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân ta Đó là sự kiện xuyên suốt toàn giai đoạn, chi phối mọi sự kiện khác, và thu hút mối quan tâm của tất cả thành viên trong xã hội Cùng với tình hình chính trị, xã hội Việt Nam giai đoạn này có sự phân hóa rõ nét Nếu như trước đây, mâu thuẫn chủ yếu trong lòng xã hội là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ thì bây giờ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Trang 31Pháp, mâu thuẫn ấy vẫn sâu sắc, nhưng mâu thuẫn hàng đầu là mâu thuẫn giữa nhân dân ta, bao gồm mọi tầng lớp yêu nước với bọn thực dân cướp nước và bè lũ phong kiến tay sai bán nước Nhiều sĩ phu yêu nước có đủ dũng khí lãnh đạo cách mạng đã
tổ chức nhân dân kháng chiến như Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Xuân Ôn Một số trí thức khác tuy không trực tiếp cầm súng tham gia các phong trào kháng chiến nhưng họ cũng kiên quyết không hợp tác với giặc Trước cảnh nước mất nhà tan họ cảm thấy xót xa tủi nhục, băn khoăn trăn trở vì vận nước lâm nguy Họ muốn cứu dân cứu nước nhưng lại chưa đủ dũng khí nên một bộ phận đã phải tìm về lánh ẩn, giữ trọn khí tiết nơi thôn
dã thiên nhiên Nguyễn Khuyến chính là tiêu biểu cho số trí thức này Ông chưa đủ dũng khí hoà vào cuộc chiến đấu nhưng ông cũng không cam tâm chứng kiến sự thối nát của triều đình nên đã chọn cho mình một con đường là cáo quan về ở ẩn Đây có thể là một hạn chế của Nguyễn Khuyến nhưng hạn chế này cũng dễ hiểu Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Khuyến đã bước vào con đường hoạn lộ, con đường duy nhất đối với một trí thức phong kiến muốn lập thân, muốn đem sở học ra phò đời giúp nước Triều đình Huế để mất nước, cam tâm làm tay sai cho giặc nhưng nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm rất oanh liệt thì không bao giờ chịu khuất phục Họ quyết vùng lên đấu tranh
để giành lại chủ quyền cho đất nước Tam nguyên Yên Đổ là một trong những nhà Nho lớn, đại quan cuối cùng của triều Tự Đức Đó cũng là lúc Nho giáo ở Việt Nam
đã tàn lụi Nguyễn Khuyến sống trọn đời trong hoàn cảnh tăm tối khổ đau nhất của lịch sử Ông là một trong những đại diện tiêu biểu cuối cùng của văn học Việt Nam, tận mắt trông thấy bi kịch lịch sử của triều đình nhà Nguyễn và sự phát triển hết sức mạnh mẽ của các phong trào yêu nước chống lại gót giầy ngoại xâm Chính vì thế, ông cũng là người nhận thấy một cách đau xót nhất sự tàn lụi của hệ tư tưởng Nho giáo lỗi thời cũng như sự bất lực đến hài hước của một loại hình trí thức đại diện cho hệ tư tưởng lỗi thời ấy trước thực tế lịch sử Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa thời loạn lạc, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn chính vì vậy bao ước mơ khát vọng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân ông không thể thực hiện được
Chính thực trạng văn hóa xã hội như trên đã dẫn đến sự sắp xếp lại các lực
Trang 32lượng trong xã hội Đây là giai đoạn xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp sâu sắc chưa từng có trước đó Người nông dân vẫn là lực lượng chính của cơ cấu xã hội, trước đây bị giai cấp địa chủ chèn ép nay lại mang “một cổ hai tròng”, trở thành lực lượng chính trong công cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai Và cũng chính họ trở thành lực lượng chủ yếu trong các phong trào đấu tranh Trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta trước kia chưa bao giờ người nông dân có vai trò quan trọng như giai đoạn này Không chỉ trên toàn bộ xã hội, trong cục bộ mỗi giai cấp, đặc biệt là giai cấp phong kiến, cũng có sự phân hóa sâu sắc Trước tình hình đất nước rơi vào tay ngoại xâm, hàng ngũ vua quan triều Nguyễn có sự chia rẽ nghiêm trọng Sự phân hóa trong xã hội diễn ra khá rõ, một bộ phận chủ chiến, một bộ phận chủ hòa, bộ phận khác lánh đời ở ẩn, lại có bộ phận hùa theo giặc, phản bội lại giai cấp và dân tộc mình… Nhìn chung, tâm lí khá phổ biến của giai cấp phong kiến trong giai đoạn này là thỏa hiệp, đầu hàng Nét tâm trạng thời đại này có ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển của văn học giai đoạn cuối thể kỉ XIX
Những biến động to lớn trong hoàn cảnh chính trị, xã hội đã dẫn đến những thay đổi về mặt văn hóa, tư tưởng Việt Nam ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Giai đoạn này, mặc dù đã có sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo từ trước đó nhưng Nho giáo vẫn được xem là quốc giáo, là hệ tư tưởng chính thống của xã hội Việt Nam Triều đình vẫn tiếp tục tôn sùng Nho học, thậm chí ngày càng tỏ ra bảo thủ, nệ cổ Không gian văn hóa Nho học vẫn bao trùm giới trí thức Việt giai đoạn này Văn học viết Việt Nam giai đoạn này cơ bản vẫn chịu sự chi phối chủ đạo của hệ tư tưởng này Bên cạnh Nho giáo, ở giai đoạn này, Phật giáo, Đạo giáo và nhiều tín ngưỡng dân gian cũng rất phát triển Trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động, nhiều giá trị đổ vỡ, tâm trạng bi quan bao trùm, người ta tìm nhiều hơn về tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo vì thế cũng có ảnh hưởng lớn đối với đời sống và trong văn học nước ta ở giai đoạn này
Mặc dù tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng thực dân Pháp cũng bắt đầu chú ý đến những hoạt động văn hóa Những hoạt động đó tuy chưa thật hiệu quả nhưng cũng bắt đầu có những ảnh hưởng nhất định, mang đến cho đời sống văn hóa
Trang 33tư tưởng những nét mới, để lại dấu ấn ít nhiều trong thơ văn của nhiều tác giả thời
kì này mà sáng tác của Nguyễn Khuyến, Tú Xương là những minh chứng tiêu biểu Trong đời sống văn hóa tư tưởng ở nước ta cuối thế kỉ XIX, sự kiện đáng chú ý hơn
cả là những chủ trương cải cách xã hội của một sĩ phu cấp tiến, có dịp ra nước ngoài, tiếp xúc trực tiếp với văn hóa phương Tây, hoặc đọc sách vở của phương Tây
và chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa phương Tây Đó là những nhà cải cách tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… Những điều canh tân của các sĩ phu yêu nước này hầu như bị triều đình lãng quên hoặc thực hiện nhỏ giọt, không được tác động nhiều đến xã hội Tuy nhiên, về mặt tư tưởng văn hóa, những đổi mới này đã tác động đến nhận thức của nhiều quan lại, sĩ phu, trí thức đương thời và ít nhiều có ảnh hưởng đến văn học
Dưới thời nhà Nguyễn, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn Vua nhà Nguyễn luôn
có ý thức dùng Nho giáo làm vũ khí tinh thần để củng cố vương triều Suốt gần 30 năm lặn lội nơi cửa Khổng sân Trình, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng Nguyễn Khuyến rất lớn Vì vậy, với ông chắc chắn không có một quan niệm nào khác là trung quân, thờ vua giúp nước Có lý tưởng nhưng vì những điều kiện lịch sử đương thời, bên cạnh dũng khí nhà Nho chưa đủ mạnh, ông đã phải chọn cách lui về ở ẩn nơi quê nhà Và cũng chính trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Khuyến đã thể hiện tài năng của mình và thành công trên cả hai phương diện: tài học và tài văn thơ, cả hai đều xuất sắc, cả hai tài năng đều để lại cho đời những giá trị to lớn
Nhìn chung, trong hoàn cảnh chính trị xã hội có những thay đổi, đời sống văn hóa tư tưởng Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX cũng bắt đầu có những đổi thay, tuy về cơ bản vẫn chưa có gì chuyển biến rõ rệt so với giai đoạn nửa đầu thế kỉ
XIX Nhận định về điều này, Nguyễn Lộc kết luận: “Văn hóa dẫm chân tại chỗ, khoa học kĩ thuật không có điều kiện phát triển, tư tưởng con người trở lại với nếp suy nghĩ cổ hủ ngày xưa, không dám sáng tạo, không dám đổi mới, và điều đó đã hạn chế rất lớn đến sự phát triển của văn học đương thời” [34; tr.427] Trong
không gian văn hóa đó, sáng tác của các nhà nho, kể cả Nguyễn Khuyến, cũng không tránh khỏi những tác động này
Trang 341.2.2 Quê hương và truyền thống gia đình Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn, một nhân cách độc đáo của Việt Nam ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Ông sinh ngày 15-2-1835 (tức ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16), mất ngày 5-2-1909 (tức ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu) ở quê mẹ nhưng lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Ông tên thật là Nguyễn Thắng, năm 1865, thi hội không đỗ mới đổi thành Nguyễn Khuyến, hiệu là Quế Sơn, tự là Miễn Chi Nguyễn Khuyến là người con của hai vùng đất linh kiệt Hà Nam và Nam Định Hà Nam là quê cha, Nam Định là quê mẹ Cả hai vùng đất thiêng này đã hun đúc nên phong cách thơ hồn hậu, chân chất và giàu tình yêu thương
Nguyễn Khuyến là một nho sĩ được đào tạo theo khuôn mẫu đạo đức Nho giáo Với ông, nam nhi phải có nghĩa vụ học hành, đỗ đạt làm quan để thờ vua giúp nước, thực hiện trọng trách “trí quân trạch dân” (vừa giúp vua vừa làm cho dân được nhờ) Nhưng thời ông, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình bạc nhược nhiều lần dâng nước cho giặc Là một nhà nho chân chính, coi trọng nhân cách, Nguyễn Khuyến đau đớn nhận ra nếu tiếp tục làm quan là tiếp tay cho giặc Sau nhiều đắn đo, trăn trở ông quyết định từ quan về quê ở ẩn để giữ mình trong sạch Đó là quan niệm, phong cách sống mà ông đã kế thừa từ tổ tiên của mình Nguyễn Khuyến xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo Ông nội là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh, ông thân sinh tác giả là Nguyễn Tông Khải (Nguyễn Liễn) đỗ 3 khoa tú tài, chuyên nghề dạy học Tính tình hào phóng, trọng đạo lý của cụ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Khuyến sau này Mẹ Nguyễn Khuyến là Trần Thị Thoan, quê làng Văn Khê, tục gọi là làng Ngói, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Bà là một người phụ nữ đảm đang, chịu thương, chịu khó, tính tình lại
“đoan trang, trầm tĩnh, thuận hoà” (theo Nguyễn Khuyến kể là trong Gia phả) và
xứng đáng là một bậc nữ lưu mẫu mực trong khuôn khổ xã hội cũ Chính truyền thống văn hóa của dòng họ, gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc, chi phối đến đời sống tâm tư tình cảm của nhà thơ sau này
Sinh thời, từ tuổi thiếu niên và lớn lên trong thời cuộc, Nguyễn Khuyến không mấy may mắn Có những thời điểm gia đình ông rơi vào cảnh khốn cùng Năm
Trang 351853, địa phương có dịch thương hàn, cha và em ruột, bố mẹ vợ nhà thơ cùng nhiều
họ hàng thân thuộc đều qua đời vì cơn dịch bệnh khủng khiếp ấy Gia đình lâm vào cảnh khốn cùng Năm 1854, nhà thơ đã nối lại nghề cha đi dạy học để lấy lương ăn
và tiếp tục con đường thi cử Tiến sĩ Vũ Văn Lý, người làng Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang (tức huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam thấy Nguyễn Khuyến học giỏi nhưng khoa
cử lận đận nên đem về nuôi cho ăn học Năm Giáp Tý (1864), nhà thơ đỗ đầu kì thi Hương ở Hà Nội Năm Tân mùi (1871), ông đỗ hoàng giáp lúc 36 tuổi Vì từ thi Hương, thi Hội đến thi Đình đều đỗ đầu và là người làng Yên Đổ (tục gọi làng Vàng) nên “người đời gọi ông là Nghè Và hoặc Tam nguyên Yên Đổ” Tuy có chút lận đận nhưng con đường khoa bảng của Nguyễn Khuyến vô cùng hiển đạt Chính
trong bài Di Chúc, nhà thơ đã tự tự hào nói về điều này: Học chẳng có rằng hay chi
cả/ Cỡi đầu người kể đã ba phen Cũng vì chính được học hành khoa cử bài bản,
thông làu kinh sử, hoạn lộ hanh thông, Nguyễn Khuyến được hội tụ nhiều giá trị văn hóa bác học để rồi từ đó, những giá trị ấy sẽ được phản chiếu, làm giàu cho thế giới nghệ thuật của nhà thơ
Quê mẹ Nguyễn Khuyến là Nam Định, nơi phát đế vương và cũng là vùng đất văn hiến nghìn năm của dân tộc Nam Định là một trong những trung tâm của vùng
Đồng bằng Bắc Bộ, là mảnh đất người xưa đã từng truyền tụng: Bắc kỳ đa sĩ, Nam Định vi ưu (Bắc kỳ có nhiều kẻ sĩ, đất Nam Định là ưu tú nhất) Cũng như vùng đất
Hà Nam, bản sắc văn hóa Nam Định không thể tách rời nền văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, trên mảnh đất này, trải qua những năm tháng thử thách của lịch sử vẫn có những dấu ấn riêng, tạo nên cốt cách của người Nam Định, tạo nên một màu sắc văn hóa riêng, trong đó có nền văn học Chính những sắc màu riêng của nền văn hóa, văn học Nam Định đã mang tới cho nền văn học dân tộc sự độc đáo, phong phú và đa dạng, trong đó có sự góp sức không nhỏ của thơ văn Nguyễn Khuyến – một người con ưu tú của vùng đất giàu trầm tích văn hóa này
Đất Hà Nam – Yên Đổ quê cha là một vùng văn hóa giàu truyền thống lịch sử
và anh hùng Năm 1890, danh xưng Hà Nam xuất hiện trên bản đồ đất Việt tính đến nay đã có lịch sử tồn tại hơn 130 năm nhưng truyền thống lịch sử, văn hiến của dải đất núi Đọi - sông Châu thì đã có bề dầy hàng nghìn năm Chính những dấu son lịch
Trang 36sử, những trầm tích văn hóa rực rỡ của quê hương Hà Nam đã tác động đến hồn thơ của Yên Đổ và lan tỏa đến các thế hệ người tiếp nhận thơ Nguyễn Khuyến hơn năm năm qua Hà Nam theo cách mô tả rất hình ảnh của các nhà sử học là vùng đất nằm lọt giữa bốn dòng sông lớn: Sông Hồng (phía Đông), sông Đáy (phía Tây), sông Châu (phía Bắc), sông Vị Hoàng (phía Nam); vùng đất có lịch sử lâu đời, lưu giữ nhiều trầm tích văn hóa tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng mà bằng chứng giàu sức thuyết phục nhất là Bảo vật quốc gia Trống đồng Ngọc Lũ - Biểu trưng của văn hiến Việt Nam Hà Nam là nói đến mảnh đất qua nhiều triều đại phong kiến tự chủ luôn gắn bó khăng khít, là một phần của Đại La thành, Hà Nội Hà Nam còn được biết đến là vị trí tâm điểm của một vòng tròn khép kín các kinh đô, cố đô và đô thị
cổ nổi tiếng: Kinh đô Thăng Long, cố đô Hoa Lư, phủ Thiên Trường (kinh đô thứ hai của nhà Trần) và đô thị cổ Phố Hiến (Hưng Yên) Bởi sự độc đáo về hình thái địa lý ấy nên dưới chế độ quân chủ, Hà Nam luôn được chọn làm căn cứ tụ nghĩa, luyện binh, tích trữ lương thảo cho nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm Nói về truyền thống lịch sử, văn hiến, người Hà Nam nhiều thế hệ tự hào nhắc đến tên tuổi
58 vị đại khoa mà trong đó nhiều vị có đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng, chấn hưng đất nước như: Lý Trần Thản, Trương Công Giai, Dương Bang Bản, Bùi Văn Dị Hà Nam cũng là mảnh đất sinh ra những văn sĩ tài hoa, sáng danh trên văn đàn nước nhà mà Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Phạm Tất Đắc là những đại diện tiêu biểu Những trầm tích văn hóa đặc sắc, những “kỳ tích” đổi thay cùng những khát vọng vươn tới Châu - núi Đọi, kết tinh từ niềm tự hào, tự lực, tự cường, từ bàn tay, khối óc cùng một quá trình nỗ lực không mệt mỏi của nhiều thế hệ
Yên Đổ không chỉ là một làng quan trọng của tổng Yên Đổ huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Đây là một địa danh không chỉ gắn liền vớ cuộc đời của Nguyễn Khuyến mà còn là cái tên kỉ niệm một thời của xã xưa khi tổ tiên của Nguyễn
Khuyến từ đất Hồng Lĩnh ra sinh cơ lập nghiệp Theo Nguyễn Huệ Chi: “Những dòng ghi chép trong gia phả họ Nguyễn Tông ở làng Và được lòng dân làm chức Ngôi nhà thờ họ Nguyễn Tông có mấy chữ “Hồng Sơn cao, Vị Thủy trường” là truy
từ của dân chúng cả vùng đối với tổ tiên Nguyễn Khuyến ” [1; tr.78] Ngôi nhà thờ
này cũng là từ đường của Nguyễn Khuyến, nhà ở Nguyễn Khuyến đều ở mảnh
Trang 37vườn Bùi, thôn Và Hạ Nguyễn Khuyến lớn lên và sau mười sáu năm làm quan rồi lại trở về “vườn Bùi chốn cũ” cũng chính là nơi này – Làng Yên Đổ Tại sao gọi là vườn Bùi? Đây là một từ trong phương ngữ xứ Nghệ dùng để chỉ cây vối Tổ tiên Nguyễn Khuyến thấy ở làng Yên Đổ (làng Và Hạ) có mảnh vườn trồng cây này nên gọi là vườn Bùi Với Nguyễn Khuyến đó là chốn đi về, là nơi dung dưỡng bao ước vọng của ông Do đó, nó chiếm một vị quan trọng trong thế giới thơ của ông
Có thể nói, ở Nguyễn Khuyến đã có sự tích hợp giữa văn hóa quê hương và truyền thống gia đình Ông đã hòa quyện và thâu thái những tinh hoa của quê hương, nguyện vọng gia đình và xác định rõ con đường đi của mình trong thực tiễn
xã hội bằng tinh thần, ý chí của Nho sĩ được đào tạo bài bản Ông biết tiến biết thoái, biết tự nhận thức trách nhiệm và năng lực của mình trước những dâu bể của thời cuộc Có lẽ vì thế mà trong thơ của ông luôn có những ám ảnh về thời gian, nó đồng hiện, nó dàn trải trên nhiều ý thơ, vần thơ, bài thơ và kiến tạo nên cảm thức thời gian đặc sắc trong các bài thơ chữ Hán, chữ Nôm Điều này đã được phản ánh trong những bài thơ đặc sắc của ông Hầu hết những bài thơ của Nguyễn Khuyến còn lưu truyền lại tới hôm nay là những sáng tác được viết ở thời đoạn ông đã từ bỏ vinh hoa phú quý, sống cuộc đời dân dã, mộc mạc tại làng quê gắn bó với ông từ ngày thơ ấu Trước Nguyễn Khuyến, hình ảnh về một nông thôn với cuộc sống, sinh hoạt của người nông dân vô cùng phong phú đã không được quan tâm hay trở thành một đối tượng để nhà thơ phản ánh Nó chỉ đóng vai trò duyên cớ để tác giả bày tỏ đạo lí nên thường là những hình ảnh tượng trưng, ước lệ Vậy nhưng, những thời khắc trong năm, hay hình ảnh mùa thu của làng cảnh nông thôn Bắc bộ đã “đi” vào thơ Nguyễn Khuyến một cách tự nhiên và đã “sống” lại ở đấy Vì lẽ đó, chúng ta có thể khẳng định Nguyễn Khuyến không chỉ là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu) mà còn là nhà thơ luôn có những ám ảnh thời gian, nhất là
thời gian mùa thu Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm luôn được coi là những sáng tác
đặc trưng nhất về mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và mùa thu Việt Nam nói chung
Xuất hiện trên văn đàn Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, giai đoạn lịch sử văn hóa xã hội Việt Nam có nhiều biến động, tác gia Nguyễn Khuyến đối diện với
Trang 38những biến động của thực tại xã hội Day dứt trước thời cuộc, ông bỏ tư thế nhà Nho để sống với tư thế một người bình thường, về nông thôn sống ẩn dật, gắn bó gần gũi cảm nhận và thấu được cảnh tình của người lao động chân lấm tay bùn Nhận xét về điều này, Nguyễn Huệ Chi cho rằng: “Nguyễn Khuyến bỏ tư thế nhà Nho để sống với tư thế một người bình thường, về nông thôn sống ẩn dật và do đó phản ánh được cái thường ngày của đời sống trong thơ, điều này đã báo hiệu bước chuyển quan trọng của văn chương nhà Nho cuối thế kỷ XIX đã hướng về phản ánh thực tại khách quan” [1; tr.62] Ở cương vị nhà Nho, Nguyễn Khuyến thành công trên con đường học vấn và hoạn lộ Ông từng đỗ đầu ba kì thi: thi hương (1864), thi hội và thi đình (năm 1871), từng tham chính ở nội các Huế, làm Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghệ An rồi Biện lí bộ hộ vv Với tư cách nhà thơ, Nguyễn Khuyến
đã tạo nên sự ảnh hưởng và lan tỏa không nhỏ đối với dòng thơ yêu nước, trào phúng và làng cảnh Việt Nam Tất cả những điều ấy có được là nhờ sự nỗ lực không ngừng và sự tiếp thừa truyền thống quê hương Hà Nam – Nam Định, gia tộc của nhà thơ Nhìn từ góc độ phong cách sáng tác, những biểu hiện đặc sắc trong thế giới thơ Hán Nôm của ông, cảm thức về thời gian cũng như những băn khoăn của
cá nhân trên những chặng đường trải nghiệm mà nhà thơ đã chứng kiến chính là những nét đẹp mà Nguyễn Khuyến đã để lại cho hậu thế
1.3 Nguyễn Khuyến - đường đời và đường thơ
1.3.1 Nguyễn Khuyến – quãng thời gian tham chính, nhập thế
Cuộc đời Nguyễn Khuyến được phân định hai giai đoạn khá rõ, giai đoạn tham chính, nhập thế và giai đoạn từ quan, xuất thế Năm Tân Mùi (1871), Nguyễn Khuyến đỗ đầu kì thi Hội, sau đó vào thi Đình, đỗ đầu kì thi Đình Cả ba lần thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình, nhà thơ đều đỗ đầu, cái tên “Tam nguyên Yên Đổ” có từ đây Vua Tự Đức ban cờ biển cho ông trân trọng viết hai chữ “Tam Nguyên”
Học hành đỗ đạt làm quan thi thố với đời là lý tưởng là mơ ước của mỗi nhà Nho, Nguyễn Khuyến không ngoại lệ Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến được cử làm quan ở Sử quán trong triều Năm 1873, ông được cử ra làm Đốc học tỉnh Thanh Hoá, rồi Án sát tỉnh Thanh Hoá Năm 1874, mẹ mất, ông xin về quê để tang mẹ Mãn tang, ông vào kinh làm Biện lý Bộ hộ Năm 1877, đổi làm Bố chánh tỉnh
Trang 39Quảng Ngãi Thời điểm này, ông và các quan đầu tỉnh Quảng Ngãi gặp sự cố không dẹp nổi loạn lạc bị triều đình phạt tội vì không xử lý kịp thời “đảo vũ” Năm 1879, Nguyễn Khuyến bị điều về kinh sung chức Trực học sĩ và làm Toản tu ở Quốc Sử quán Năm 1883, triều đình Huế cử ông làm phó sứ cùng với Lã Xuân Oai làm chánh sứ đi công cán nhà Thanh Nhưng sau đó, tình hình biến đổi, tháng 8 năm
1883 Thuận An (Huế) thất thủ Việc đi sứ bị đình, ông lại về chức cũ Tháng 12/1883, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm Sơn Tây Nguyễn Hữu Độ cử Nguyễn Khuyến làm Tổng đốc, nhưng ông dứt khoát từ chối Mùa thu năm 1884, ông lấy cớ đau mắt nặng xin cáo quan trở về Yên Đổ, khi mới 50 tuổi Ở tuổi già, ông vừa dạy học vừa làm thơ, ông mất ngày 15 tháng giêng năm Kỷ Dậu (tức 5/2/1909), thọ 75 tuổi Mười năm dịch chuyển thăng trầm nhiều nơi ở chốn quan trường lại bị đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội đầy biến động, Nguyễn Khuyến chẳng thể mang tri thức “Cửa Khổng Sân Trình” của “Tam nguyên” ra thi thố với đời Ông đau đớn cám cảnh cho tình đời cuộc thế, trút lòng qua những vần thơ trong tiếng Cuốc kêu khắc khoải:
Trong giai đoạn tích cực nhập thế này, sáng tác của Nguyễn Khuyến rất ít Con đường hoạn lộ của Nguyễn Khuyến đầy cơn giông tố ập đến Quốc biến, chốn quan trường đâu thể yên, bao biến chuyển cứ dồn dập đuổi theo ông Tam nguyên trẻ tuổi vừa xuất chính Trên con đường nghệ thuật, ở giai đoạn này, ngoài ý thức
thượng trí quân hạ trạch dân của người Nho sĩ, ông luôn có ý niệm tìm về với dân
tộc, với truyền thống và xem đó như một nguồn sinh lực cho sáng tạo của cá nhân Tuy nhiên, đi trên con đường này, chính bản thân Nguyễn Khuyến cũng đã nếm trải
sự cô độc, lẻ loi Nhà Nho luôn cảm thấy cô độc khi một mình đi trên họan lộ:
Vạn lý thu phong ngã độc hành,
Tự liên phù thế bán phiêu linh
(Bắc quy lưu giản tại Kinh chư đồng chí-I)
Dịch nghĩa (Tôi đi muôn dặm một mình trong gió thu,
Thương mình chịu nửa đời lênh đênh giữa cõi phù thế )
Trang 40Ở chặng đường trước năm 1884, thơ của Nguyễn Khuyến dường như tập trung vào những vấn đề liên quan đến thời cuộc và chủ yếu cũng là thơ chữ Hán Nhưng cũng chính trong quá trình vận động nội tại của tư tưởng, Nguyễn Khuyến dần đi đến sự bế tắc và cuối cùng là lựa chọn con đường ẩn dật, trở về với vườn Bùi và chấp nhận vai trò của một hàn sĩ ưu thời mẫn thế Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến ở chặng đường trước năm 1884 đã có những dấu hiệu rạn nứt của tư tưởng Nho giáo và bắt đầu có những mở đường cho văn chương nhà Nho đi tới chủ nghĩa hiện thực Đó là một hiện thực ê chề của đất nước trước cảnh đè đầu cưỡi cổ của thực dân và sự suy thoái của đạo lý luân thường Cùng với sự bất bình về hiện thực
ấy là sự phân vân ở lẽ xuất hay xử Trong bài Dữ bản huyện doãn Nguyễn, nguyên doãn Trần đồng ẩm, tức tịch thư tiễn (Cùng ông huyện họ Nguyễn và ông huyện
cũ họ Trần uống rượu, viết bài này ngay trên tiệc để tiễn biệt), nhà thơ hạ bút:
Ngô sài hành chỉ do như thị, Hưu quái thanh nga bất trị tiền
Dịch nghĩa (Bọn chúng ta đi hay ở mà còn như thế,
Thì trách gì khách mày ngài không đáng đồng tiền nữa)
Từ sự băn khoăn ấy, Nguyễn Khuyễn đã không ít lần đặt ra vấn đề của chữ trung và vai trò của người anh hùng trong thời cuộc ấy Khi còn đương chức tổng
đốc, ông đã từng viết bài Vịnh Nhạc Vũ Mục (Vịnh về ngài Nhạc Phi, hiệu là Vũ
Mục) để bày tỏ quan điểm ấy một cách chặt chẽ, cụ thể:
Sổ hàng kim tự đáo quân trung, Thập tải hùng tâm nhất nhật không
Đáo để anh hùng tâm tự bạch, Bách niên thùy nịnh cánh thùy trung?
Dịch nghĩa (Mấy dòng chữ kim bài đưa đến dinh quân,
Tấm hùng tâm trong mười năm trời, một ngày uổng hết
…Rốt cục chỉ có khách anh hùng lòng tự biết lòng, Trăm năm ai là nịnh và ai là trung?)
Học tập Nhạc Bằng Cử, trong thời chiến loạn luôn giữ tấm lòng trung Nhưng
minh trung hay ngu trung thì đó là câu chuyện đáng bàn Chỉ có người anh hùng