Hệ thống ngôn ngữ giản dị, thuần phác trong thơ Nôm

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 91 - 98)

Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến

3.2.1. Hệ thống ngôn ngữ giản dị, thuần phác trong thơ Nôm

Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, là hình thức biểu hiện của văn học. Bàn về thi pháp của văn học trung đại nói chung, thơ Nguyễn Khuyến nói riêng, khó có thể bỏ qua phương diện ngôn ngữ. Trong quan niệm của người xưa, tài năng thi ca đi liền

với nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học bao giờ cũng là kết quả lao động nghệ thuật của nhà văn dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ nhất định. Theo đó, qua việc khảo sát về hệ thống ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến, chúng ta có thêm căn cứ để nhận diện cách biểu hiện cảm thức thời gian của nhà thơ. Trong tập thơ Nôm của Nguyễn Khuyến xuất hiện dày đặc các từ ngữ chỉ thời gian đêm, ngày, năm, mùa xuân, mùa hạ, mùa thu,…với tần suất cao. Trong số 105 bài thơ chữ Nôm đƣợc xem xét khảo sát, chúng tôi thu nhận đƣợc những kết quả nhƣ sau:

Stt Đại lƣợng thời vũ trụ gian

Các từ ngữ chỉ thời gian Số lƣợng

Tỉ lệ%

1 Xuân Xuân 5

11.4

Chiều xuân 01

Một năm/Bốn mươi năm 2

Nay/năm mươi có lẻ ba 2

Năm mới/Đầu năm 2

2 Hạ Quyên đã gọi hè/Năm canh/đêm hè/sáu khắc/

tiếc xuân/ thâu đêm

6 5.7

3 Thu Trời thu, năm ngoái/thu/ngõ tối đêm sâu 4 3.8

4 Đông Năm canh/Canh gà/đêm thanh thả 3 2.8

5 Năm Buổi sớm/trƣa nắng/ban chiều/

tối trăng/quanh năm

5 4.7

6 Sáng Sớm mai 01 0.9

7 Đêm Đêm khuya /Đêm qua/ xuân sang/

Một năm/Đương nửa đêm/Đêm hôm….

6 5.7

8 Ngày Cả ngày 01 0.9

9

Hiện tại

Xưa nay/xưa/thưở xưa 5

52.4

Đời trước/ lớp trước 2

Ngày trước/ Thưở trước 6

Cả ngày/ba ngày/Dăm ba ngày/suốt hôm 4

Năm nay/Năm Tị 14

Năm trước/Năm cũ/ Mấy năm 3

Phen này/ Đời này 3

Năm nảo năm nào/Ấy năm/ Năm hết 3

Mùa 01

Sớm trƣa 2

Tháng chạp/Tháng ngày 3

Xuân thu 2

Tết đến 01

Nay/Lâu nay/Bấy lâu nay/khi nay/Bây giờ 6 10 Quá khứ Đời trước/Phút chốc/Mười lăm năm ấy

Mười lăm năm trước/Thửơ nhỏ/từ trước

7 6.0

Kết quả khảo sát từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, cho thấy, hầu hết trong các bài thơ Nôm, Nguyễn Khuyến sử dụng từ ngữ chỉ thời gian cụ thể, nôm na gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân lao động.

Cái độc đáo và tinh tế của Nguyễn Khuyến là cách cảm nhận thời gian. Thời gian được ông cảm nhận gắn với thân phận con người, với tình bạn, với tình cha con, với cuộc sống, với quê hương đất nước... Vì thế, nỗi buồn thương, cô đơn, trăn trở, day dứt, tiếc nuối... là âm hưởng chủ đạo trong thơ Nguyễn Khuyến. Nhịp độ thời gian trong thơ Yên Đổ vì thế mà cũng trở nên khắc khoải, sâu lắng hơn.

Xuất thân từ nông thôn, lớn lên học hành thi cử tham chính nhiều nơi, rồi trở về ở ẩn với thời gian 25 năm cuối đời lại gắn bó với làng quê bình dị, Nguyễn Khuyến am hiểu tường tận cuộc sống sinh hoạt, tình cảm của nhiều tầng lớp người lao động trong xã hội. Những vần thơ của ông rất mộc mạc, gần gũi mang sức hút lạ kì. Từ những khung cảnh vui chơi lố bịch ở phố thị “Bà quan tênh ngếch xem bơi trải” đến cảnh lam lũ mất mùa đói kém chốn làng quê “Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa”…, Nguyễn Khuyến rất thành công trong việc chọn hệ thống từ ngữ giản dị, thuần phát mang lời ăn tiếng nói của người Việt để diễn tả các sự kiện lố bịch diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội đương thời (cậy sức, chị nhún, tham tiền, anh leo, vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu,...). Thơ Nguyễn Khuyến không đơn thuần chỉ miêu tả hoặc kể lại sự việc. Ở mỗi tình huống đƣợc kể lại, ông khá tinh tế khi bộc lộ tâm trạng. Bằng cách khéo kết hợp những tính từ với cảm từ (thế, ƣ, nhỉ, ừ, a, bao nhiêu bấy nhiêu…), Nguyễn Khuyến dựng lên những bức tranh hiện thực hóm hỉnh mà rất chua cay: “Bổng lộc nhƣ ông không mấy nhỉ!/ Ăn tiêu nhờ đƣợc chiếc lương Tây!” (Gửi Đốc học Hà Nam); Rồi chính ông tự trào về mình ở tuổi già: “Năm nay tớ đã bảy mươi tư,/ Rằng lão rằng quan tớ cũng ừ” (Đại lão). Cái kệch cỡm, lố bịch của bức tranh xã hội diễn ra trong “ngày hội Thăng Bình”, diễn ra bao nhiêu “cờ kéo đèn treo” long trọng để các chị cậy sức “nhún”, các anh tham tiền “leo” đƣợc nhà thơ gửi đến lời “khen” trong câu hỏi đầy chua chát ở Hội Tây:

“Khen ai khéo vẽ trò vui thế,

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!”

Trong các trang thơ của mình ông thường sử dụng vốn ngôn ngữ bình dân

nhƣng lại chạm khắc đƣợc những hình ảnh rất đặc sắc và chứa đựng những cung bậc cảm xúc nhà thơ. Tính chất thuần phác, dung dị trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến có biểu hiện hết sức phong phú. Thơ Nôm của ông phục dựng lại nhiều bức tranh sinh động, cụ thể, chân thực về đời sống văn hóa của người Việt từ ngàn đời. Trong 105 bài thơ Nôm được khảo sát, nhà thơ thường xuyên sử dụng những từ ngữ Hán Việt xen kẽ trong những từ ngữ Nôm thuần phác. Cách sử dụng này xuất hiện khá phổ biến trong thơ Nôm. Một mặt, Nguyễn Khuyến miêu tả cụ thể thời gian trôi qua với những sự kiện, những biến thiên của cuộc đời. Mặt khác, Nguyễn Khuyến thể hiện tài năng uyên bác của nhà Nho Tam nguyên qua việc thể hiện cảm quan thời gian trong những vần thơ tiếng Việt. Tâm sự tiếng lòng khắc khoải nhà thơ trước thời cuộc đƣợc bộc bạch khá tinh tế qua tiếng Cuốc kêu:

Khắc khoải đƣa sầu giọng lửng lơ, Ấy hồn Thục đế thác bao giờ Năm canh máu chảy đêm hè vằng, Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ, Có phải tiếc xuân mà đứng gọi, Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ.

Thâu đêm ròng rã kêu ai đó, Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

(Cuốc kêu cảm hứng)

Năm canh, sáu khắc là những cách định lƣợng thời gian cho một ngày đêm theo quan điểm của thiên văn học cổ trung đại. Điều quan trọng trong bài thơ này là hình ảnh đêm (thâu đêm), ròng rã… gợi lên sự bế tắc trong một thảm trạng buồn mà

“người trong cuộc” đã và đang tìm lối ra.

Cũng lối diễn đạt “khắc khoải” ấy, Nguyễn Khuyến sử dụng những từ ngữ vừa nôm na vừa rất hình ảnh tạo đƣợc ấn tƣợng sâu sắc:

Một khúc đêm khuya tiếng đã chầy, Nửa chen mặt nước, nửa từng mây.

Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước, Ngán kẻ phương trời chẳng dứt dây.

(Nghe hát đêm khuya)

Bài thơ khiến cho ta thêm suy ngẫm về cuộc đời tiến thoái của Nguyễn Khuyến trong những thời khắc “ở về” rất căng thẳng và xót xa. Nghiên cứu thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn cảm thức thời gian sẽ giúp chúng ta ngày nay có thể hình dung được nhiều phương diện trong đời sống lịch sử của dân tộc ở nửa cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.

Trong nhiều bài thơ, Nguyễn Khuyến nói nhiều đến thời gian quá khứ nhƣ là sự đối lập với hiện tại. Quá khứ cùng với sự hiện diện của những ký ức đẹp đẽ về tình thầy trò, tình bè bạn thiêng liêng cao quý. Để diễn đạt những khoảnh khắc và sự so sánh đối lập ấy, ông cũng thường dùng những từ ngữ rất dung dị, thuần phác, dễ hiểu và dễ cảm nhận:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

(Khóc Dương Khuê) Tiếng cầm gửi mười lăm năm trước,

Nhẫn về sau tin tức lờ mờ.

(Tiễn người quen)

Nếu ngày xưa vui vầy, sum họp chứa đầy ước mộng thiêng liêng về chí hướng dời non lấp bể thì ngày nay lại tan tác chia lìa, thời gian qua đi, đâu thể níu lại, tuổi già đến, sức kém không thực hiện đƣợc chí nguyện bình sinh, viết thơ tặng bạn tiễn bạn đi xa, khóc người đã mất rất dung dị mà cũng lắm da diết tình thương.

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn có phong cách của văn học dân tộc ở thời trung đại. Là người có vốn văn hóa sâu rộng, nhãn quan văn hóa sâu sắc, lại từng đến nhiều vùng miền trong cả nước, sống gần gũi với quần chúng nhân dân, trực tiếp tham gia, trải nghiệm trong nhiều hoạt động văn hóa và viết nhiều về nó, Nguyễn Khuyến là một nhà thơ am hiểu sâu sắc nền văn hóa truyền thống của người Việt. Đây là tiền đề của tính dân tộc, tính văn hóa đậm đà trong các sáng tác của ông, đặc biệt là ở mảng thơ chữ Nôm. Để làm rõ tính hiện thực trong các thời điểm mà nhà thơ bất đắc dĩ phải chứng kiến, ông cũng dùng một lớp từ rất mộc mạc. Trong bài Mừng ông nghè mới đỗ, nhằm giễu nhại những ông nghè bất tài vô dụng và huênh hoang, Nguyễn Khuyến sử dụng các từ ngữ rất hiện thực bắt nguồn

từ thành ngữ, ca dao liên quan đến tục lệ vinh quy bái tổ của người Việt khi có người mới thi đỗ được vua ban ân tứ trở về, như “rượu ngon ả nọ”, “hoãn đẹp nàng này”, “tổng chƣa đe” với thủ pháp đột giáng gây hiệu quả thẩm mĩ đặc biệt:

Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè, Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.

Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng, Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe.

Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh, Hoãn đẹp nàng này khó nhẽ che.

Hiển quí đến nay đà mới rõ, Rõ từ những lúc tổng chƣa đe.

Thơ Nôm tự thuật của Nguyễn Khuyến có nhiều bài thể hiện rõ sự kết hợp hệ thống từ ngữ có tính hiện thực để lột tả những khoảnh khắc quan trọng trong dòng chảy thời gian của cá nhân. Có thể kể ra các tác phẩm tiêu biểu như: Tạ lại người cho hoa trà (Xuất hiện các đại từ người, ta, bác, tớ, mình… cùng các từ ngữ thuộc phong cách khẩu ngữ như: phường xỏ lá, đếch, khà và các trợ từ nhỉ, đấy, a), Lụt hỏi thăm bạn (xuất hiện các đại từ ai, bác, em, các từ thuộc phong cách khẩu ngữ như: rày lớn bé, thung thăng, phận, suy tính)… Trước những biến thiên của cuộc sống, Nguyễn Khuyến nhiều lần nhận thấy sự bất lực của bản thân, song ông không để mình bị lu mờ trước thực tại, ông vẫn muốn khẳng định mình, điều đó thể hiện rõ qua cách mà ông đã thể hiện cái tôi của mình thông qua cách sử dụng đại từ nhân xƣng vinh danh chủ thể.

Một trong những đặc trưng thi pháp thơ Đường là phép ẩn chủ ngữ: “Sự thiếu vắng đại từ nhân xƣng, đặc biệt rõ trong thơ ca cổ Trung Quốc. Chúng rất hiếm. Thơ không viết ra ngôi thứ nhất. Nó vô nhân xƣng, vô quan hệ vì rằng cái âm thanh toát ra từ lòng nhà thơ chính là hồi âm của một cái chung nội tại, là cái không cần phải mang một dấu hiệu hạn chế nào cả” (L.X. Lixêvich). Việc ẩn chủ ngữ,

“thiếu vắng đại từ nhân xưng” mang lại cho thơ Đường ý nghĩa của sự hoà nhập cái tôi trữ tình vào ngoại cảnh, vào sự vận động bên trong của thế giới khách quan, tạo nên sự rung động “huyền ngoại chi âm” để độc giả lắng nghe, thấu hiểu cảm xúc

của chủ thể trữ tình. Theo đó, trong sáng tác nghệ thuật, khi thể hiện cảm xúc, thi nhân trung đại thường ẩn mình, giấu giữ cái tôi trữ tình vào khách thể. Bên cạnh việc tuân theo những quy chuẩn của sáng tác nghệ thuật thời trung đại, Nguyễn Khuyến vẫn tạo cho mình một “lối đi riêng”. Không muốn “cái tôi”, cái bản ngã của mình phải “ẩn” hay “nấp” sau cái ta chung chung, vô ảnh, vô hình, nhà thơ đã để cái cái tôi chủ thể đƣợc vinh danh rõ rệt hay bộc lộ ra một cách trực tiếp, tạo dấu ấn khá đậm nét. Trong sáng tác thơ, Nguyễn Khuyến ghi dấu ấn cá nhân bằng việc nhà thơ chủ động đƣa những đại từ nhân xƣng vào thi phẩm trên tƣ cách là chủ ngữ để tự biểu hiện, tự xƣng mình. Điều này khiến cho việc biểu đạt những trạng huống cảm xúc của chủ thể sáng tạo đạt tới khả năng biểu cảm độc đáo. Nhà thơ sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất rất linh hoạt, đặc biệt trong phần thơ Nôm. Những từ ngữ danh xưng đã thể hiện một con người cá tính, góp phần thể hiện đời sống nội tâm phong phú với nhiều cung bậc cảm xúc. Cách vinh danh chủ thể bằng những từ ngữ giản phác: “ta”, “tôi”, “ông”, “tớ”, “lão”, … trước mọi trạng huống, thể hiện một nhà Nho Nguyễn Khuyến đầy tự hào về bản thân, đầy khí tiết trước cuộc đời.

Nguyễn Khuyến sử dụng vốn ngôn ngữ bình dân nhƣng không hề rơi vào sự thông tục hóa, cảnh nào cũng đƣợc vẽ, đƣợc chạm khắc thần tình đạt đến mức nghệ thuật, sự kiện nào cũng đƣợc miêu tả đƣợc kể lại nhƣ sự thật hiển hiện. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến rất phong phú không những trong cách nói mà còn rất mỹ lệ, gợi cảm trong cách miêu tả, đƣợc thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ miêu tả giữa “cảnh”

và “tình”. Có thể nói, ngôn ngữ thuần phác là một đặc trƣng của thơ Nôm Nguyễn Khuyến. Từ góc nhìn cảm thức thời gian, chúng ta có thể nhận thấy nhà thơ đã vận dụng một cách linh động, thần tình, sâu sắc và hấp dẫn những từ ngữ vừa có tính chất khẩu ngữ hay những từ ngữ bác học đã đƣợc bình dân, phổ thông hóa cao độ.

Thông qua lớp từ ngữ ấy, nhà thơ có dịp bộc lộ những cảm xúc, thái độ cũng nhƣ quan điểm của mình với nhân tình, thế thái, thời cuộc và hơn tất cả là đối diện với chính bản thân mình trong dòng chảy sự kiện của cuộc đời và đất nước.

Về phương diện ngôn ngữ thơ Tiếng Việt, Nguyễn Khuyến đã có những đóng góp đáng kể cho nguồn thi liệu thuần Việt. Việc đem vào thơ những ngôn từ giản đơn, chất phác từ cuộc sống dân dã và bình dị hoá những hình ảnh thơ vốn biểu

trƣng cho tính trang nhã trong thơ cổ điển nhƣ "trăng, trúc" đã phá vỡ những quy phạm mẫu mực của văn học nghệ thuật phong kiến, tạo nên những môtíp nghệ thuật mới hoàn toàn thuần Việt, đậm đà tính dân tộc. Điều đó thể hiện nhu cầu đƣợc biểu hiện chân thực của hình tƣợng nghệ thuật và cái nhìn tự nhiên chân thực của thi nhân khi đứng trước thiên nhiên. Có thể nói, cái đẹp giản dị trong ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến cũng là một quan điểm nghệ thuật. Đó là tinh thần hướng tới cái đẹp tự nhiên, tôn trọng tính giản phác của sự vật trong cuộc sống.

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 91 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(127 trang)