Giọng thơ thâm trầm sâu lắng trước dòng chảy thế cuộc

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 104 - 109)

Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến

3.3.1. Giọng thơ thâm trầm sâu lắng trước dòng chảy thế cuộc

Giọng điệu là một phạm trù thi pháp học, có nhiệm vụ tìm hiểu một trong những hình thức bộc lộ cái chủ quan trong văn học, nó cũng là một phương diện quan trọng cấu thành hình thức nghệ thuật của một tác phẩm văn học. Trong công trình nghiên cứu Giọng điệu thơ trữ tình Việt Nam, tác giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Giọng điệu được hiểu như là lập trường thái độ, tình cảm đạo đức của nhà văn đối với hiện tƣợng đƣợc mô tả, thể hiện trong lời văn và khả năng huy động các biện pháp nghệ thuật làm nổi bật giọng điệu. Trong tác phẩm, giọng điệu thường bộc lộ ở cách xƣng hô, gọi tên sự vật, cách dùng từ, cách cảm thụ thế giới và cách

đánh giá chúng” [13; tr.77]. Nói đến giọng điệu chính là nói đến cảm hứng chủ đạo của chính tác giả, thể hiện qua một chất giọng riêng trước những đối tượng thẩm mỹ. Có thể nói giọng điệu chính là âm hưởng chung toát lên từ toàn bộ tác phẩm nghệ thuật, nó là hình thức bộc lộ rõ rệt nhất thế giới chủ quan của người nghệ sĩ.

Bởi toàn bộ cách cảm, cách nhìn, phương pháp tư duy, kiểu nhận thức thế giới, tình cảm, thái độ, lập trường, quan điểm, đạo đức của nhà văn, nhà thơ đều được thể hiện đậm nét qua giọng điệu, tạo nên tiếng nói riêng, phong cách riêng, mang dấu ấn của cá tính sáng tạo, không thể bắt chước hoặc thay thế. Vì vậy, giọng điệu trong văn chương còn có ý nghĩa như một tiêu chí để xác định tài năng của người nghệ sĩ.

Đặt trong dòng chảy văn chương trung đại mười thế kỷ, thơ Nguyễn Khuyến bên cạnh những quy chuẩn thời đại vẫn có dấu ấn riêng, có giọng thơ riêng của chính cá nhân nhà thơ. Xuyên suốt những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, giọng thơ thâm trầm sâu lắng của nhà Nho yêu nước Nguyễn Khuyến được cất lên. Từ điểm nhìn những suy cảm về dòng chảy thời gian biểu hiện trong thơ, chúng ta có thể nhận thấy nổi bật lên là một giọng thơ sâu lắng ưu tư trước những sự kiện trong dòng chảy thế cuộc, nhân sinh mà tác giả là người chứng kiến, trải nghiệm. Giọng thơ Nguyễn Khuyến luôn có sự uyển chuyển và phụ thuộc vào cảm hứng cũng nhƣ bút pháp hiện thực của cá nhân. Trong thơ, nhà thơ luôn gắn các hiện thực đƣợc khắc họa với những thời điểm cụ thể, khi thì theo mùa, khi thì theo năm can chi, khi thì xác định rõ ngày tháng. Những sự kiện ấy diễn ra trong cái nhìn cảm thông chia sẻ mang cảm xúc đầy xót xa của người chứng kiến. Trong nhiều bài thơ Nôm tự thuật, Nguyễn Khuyến kể, tả về các sự việc hay nhận định về những vấn đề cụ thể bằng một giọng thơ buồn thương sâu lắng. Với Chợ Đồng, một phiên chợ quê ngày giáp Tết “nghe xao xác”, “còn hơi rét”, “pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” đƣợc dựng lại buồn hiu hắt. Quang cảnh phiên chợ giáp Tết đƣợc kể lại bằng giọng thơ đầy thương cảm:

Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không?(..)

…Dăm ba bữa nữa tin xuân tới, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

Nếu trong thơ chữ Hán, Nguyễn Khuyến day dứt với thời cuộc bằng tƣ cách của một bậc túc Nho, một kẻ sĩ đƣợc học đạo thánh hiền thì trong thơ Nôm, ông thường thể hiện tâm sự của ông dật nhân, người chứng kiến những cảnh tang thương dâu bể của cuộc sống đang hiện diện xung quanh mình. Với tuổi đời 75, mười năm tham chính, còn lại trên nửa thế kỉ, ông gắn bó với làng xóm quê hương đi “Vườn Bùi chốn cũ”, với núi An Lão, chợ Đồng…, giọng thơ ông trước sau vẫn ấm áp một tình đời sâu lắng hướng về người nông dân lao động hiền lành nơi đồng chiêm nước trũng. Những năm được mùa, chợ Đồng ba phiên chợ Tết đông vui lắm.

Trái lại, những năm mất mùa, chợ Đồng thưa thớt người mua bán. Tết đã đến, ngày hai mươi bốn tháng chạp, chợ Đồng vào phiên. Hai tiếng “năm nay" là khoảng thời gian phiếm định, không cụ thể. Có phải đó là năm Quý Tỵ (1983), năm Ất Tỵ (1905) đê sông Hồng bị vỡ, vùng Hà Nam bị lụt lớn: “Tỵ trước Tỵ này chục lẻ ba – Thuận dòng nước cũ lại bao la…" (Vịnh lụt). Câu hỏi “Chợ họp có đông không?

nhƣ một tiếng thở dài đằng sau câu hỏi nhỏ. Câu thơ chứa đầy tâm trạng của một nhà Nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than. Nguyễn Khuyến có tài ghi lại không khí cuộc sống dân dã vào trong những câu thơ của mình. Hai câu kết trong bài chứa chất bao tâm trạng. Người đi chợ về đã vãn. Một mình nhà thơ đứng bơ vơ nhẩm tính. “Dăm ba ngày nữa tin xuân tới”, năm cũ dần qua, năm mới dần sang. Cái nghèo, cái rét vẫn là nỗi lo, nỗi buồn man mác. Chợt nhà thơ giật mình trước cái âm thanh “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng”.

Giọng thơ trầm lặng, đƣợm một nỗi buồn man mác, cô đơn. Cảnh dân và tình dân đƣợc thể hiện qua một bút pháp điêu luyện. Cái hồn quê, cái tình quê nhƣ kết đọng qua âm thanh “xao xác”, qua hình ảnh “nếm rượu tường đền" của các bô lão tóc bạc phơ dưới làn mưa bụi “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng’’. Vì lẽ ấy, giọng thơ trầm lắng mà sâu sắc đến vô cùng tạc nên một hình ảnh đẹp của ông già Nguyễn Khuyến vẫn đang hiển hiện cùng làng nước quê hương.

Văn học Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử đã có những thay đổi nhất định trong từng thời kỳ khác nhau. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX, sự thay đổi xã hội gần nhƣ là toàn diện trên các lĩnh vực. Nguyễn Khuyến là một trong những đại diện cuối cùng chứng kiến những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, tận mắt thấy mọi

sự sụp đổ chính trị, kinh tế, đổ vỡ trên các nền tảng đạo đức… Đau xót nhất là một nhà Nho quân tử, một ông quan đầu triều phải chứng kiến sự sụp đổ không thể nào cứu vãn nỗi của một tư tưởng đã lỗi thời cũng như sự bất lực đến hài hước của một loại hình trí thức đại diện cho hệ tư tưởng trước lịch sử. Bất lực, xót xa, buồn đau khắc khoải, nhà thơ gửi cả tâm tình vào những vần thơ. Trong thơ, Nguyễn Khuyến giãi bày, diễn tả thế giới tình cảm riêng tư, tư tưởng, ý thức và sự lựa chọn thái độ sống trước thời cuộc. Nói cách khác, phản ánh phần nào hiện thực cuộc sống trong thời buổi nhiễu nhương tao loạn, ngòi bút Nguyễn Khuyến vẫn giữ nguyên cái phong cách thâm trầm lịch lãm sâu sắc uyên bác của nhà Nho tri túc.

Giọng thơ Nguyễn Khuyến trước sau vẫn thống nhất in đậm cái tôi trữ tình sâu lắng, khắc khoải một niềm đau trước thế cuộc. Nguyễn Khuyến cũng từng nuôi chí lập công danh, đền ơn xã tắc nhƣ bao nhà Nho khác. Nhƣng rồi, lịch sử thời đại chọn ông, ông không được quyền lựa chọn lịch sử. Biến động trước cơn phong ba lịch sử, đất nước loạn lạc, đạo đức ngả nghiêng, những lý thuyết suông trong sách vở từ cửa Khổng sân Trình chẳng có ý nghĩa gì. Ông bắt đầu nhận ra sự trống rỗng vô ý nghĩa của cuộc sống. Mọi thứ đều trở nên vô hồn, chỉ còn là những trò chơi hay đồ vật để trƣng bày: Tƣợng gỗ cân đai tạm góp phần (Đấu xảo ký văn). Sống trong một thời đại khủng hoảng toàn diện, Nguyễn Khuyến mang nặng những suy tƣ trăn trở, những day dứt nội tâm. Nhà Nho hành đạo nào cũng mong đƣợc nhập thế, xuất thế là điều bất đắc dĩ trong sự lựa chọn “minh triết bảo thân”. Trước hiện thực đất nước, cuộc đấu tranh “ở hay về” trong Nguyễn Khuyến diễn ra cũng không dễ dàng. Cũng có lúc nhà thơ tâm trạng phân đôi, lƣỡng cực: Tiêu dao độc tiễn lăng phong địch/ bán thượng trùng tiêu bán lạc trần (Ngẫu thành -I). Chọn con đường cáo quan về quê như nhiều nhà Nho đương thời, Nguyễn Khuyến xem như đó là một lựa chọn đúng đắn, song tâm trạng ông không hẳn đã thanh thản. Cái tâm lý “tủi phận”, “thẹn mình”, “gớm cho mình” với tâm lý hoang mang… thỉnh thoảng vẫn trở về trong tâm tưởng nhà thơ khiến nhà thơ nhận ra mình như “hạc độc, mây côi”.

Cũng tìm về với thiên nhiên, mây ngàn hạc nội nhƣ bao nhà Nho trung đại để di dƣỡng tâm hồn, Nguyễn Khuyến tìm đến thiên nhiên để lắng nghe âm thanh, để hòa vào từng cảm xúc. Thiên nhiên trong thơ ông nhuốm màu tâm sự. Vịnh hoa

cúc, nhà thơ gửi cả lòng mình: Chọi rét một thân ai là bạn/ Chẳng lạc lòng son thật đáng thương. Thương hoa cúc hay thương thân mình trong cảnh ngộ bi ai! Trong thơ Nguyễn Khuyến, thiên nhiên là cái vỏ chứa đựng nỗi buồn, nỗi lo đời của chính nhà thơ. Tiếng cuốc kêu khắc khoải năm canh của hồn Thục Đế thác vào hay tiếng khắc khoải triền miên ròng rã của cái tôi buồn đau khắc khoải nhà Nho Nguyễn Khuyến. Tâm sự “nhớ nước” ấy suốt cuộc đời Nguyễn Khuyến luôn mang theo và mãi mãi nhƣ tiếng cuốc kêu rền rĩ giữa canh khuya: Thâu đêm ròng rã kêu ai đó ? (Cuốc kêu cảm hứng). Sức lay động lòng người của tiếng lòng nhà thơ cất lên từ giọng thơ thâm trầm sâu lắng cứ thế trường tồn mãi với thời gian.

Rời bỏ chốn quan trường, Nguyễn Khuyến đồng cam cộng khổ với người dân nghèo nơi vùng chiêm trũng, hòa mình vào sự khổ cực với dân quê lam lũ:

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa”. Lựa chọn con đường cáo quan lui về sống ẩn dật nhưng tấc lòng của Nguyễn Khuyến vẫn luôn hướng đến vận mệnh của đất nước. Ông cảm thấy tủi thẹn vì mình là một trí thức đại thần mà đành bất lực trước thời cuộc:

Sách vở ích gì cho buổi ấy Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dặn các con)

Và cho đến khi nghĩ là mình sắp từ giã cuộc đời, trong bài “Di chúc”, ông vẫn luôn trăn trở:

Ơn vua chƣa chút báo đền

Cúi trong hổ đất, ngửa lên thẹn trời.

Tam nguyên Yên Đổ gần nhƣ cả cuộc đời mang nỗi buồn đau nhân thế, khắc khoải với đời của ông còn thể hiện khá rõ trong những vần thơ buồn cô đơn đến nao lòng. Nhìn chung, âm điệu chủ yếu trong thơ Nguyễn Khuyến là một gam buồn, nhất là những bài thơ viết vào cuối đời. Tiếng thơ càng trở nên khắc khoải, da diết mang nặng cái tôi cô đơn, buồn sầu, khắc khoải niềm đau trước vận nước, trong niềm riêng của Nguyễn Khuyến. Những trang thơ “vận hành” qua nhà Nho Nguyễn Khuyến có sức hấp dẫn riêng. Ở nhà Nho Nguyễn Khuyến luôn có cái nhìn thâm thúy, sâu sắc, cảm thông và độ lượng. Trong thơ ông, thể hiện rất rõ con người nhà Nho từ cái nhìn kín

đáo, thâm thúy đến thái độ bao dung, độ lƣợng, nhân từ, từ niềm vui trong cảnh nghèo

“bần nhi lạc” đến nỗi đau không người tri kỷ, từ nỗi thao thức với vận đời, vận nước với “đạo thánh”, “ơn vua”… đến nỗi hổ thẹn dằn vặt vì sự bất lực của kẻ sĩ.

Nguyến Khuyến là một bậc chân nho, là đại diện khá tiêu biểu cho lớp người đƣợc xã hội phong kiến đào tạo. Ông đƣợc vua Tự Đức ban cờ biển và hai chữ

“Tam nguyên” tài năng lừng lẫy một thời. Cuộc đời của ông sẽ chẳng có gì để ông có thể tự giễu mình với một giọng điệu chua chát đƣợm cảm giác ân hận nếu nhƣ tài năng ấy của ông thực sự cống hiến được cho dân, cho nước, cho đời. Ấy vậy mà bỗng nhiên Nguyễn Khuyến nhận ra thực chất cái xã hội đã đào tạo và tôn vinh mình. Đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng là lúc ông đã thừa nhận sự bất lực của tầng lớp nho sỹ trước lịch sử. Nguyễn Khuyến là một trong rất ít những trí thức thời kỳ ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình. Để rồi ông đã quyết định rời bỏ quan trường về quê để tránh xa sự nhố nhăng của xã hội, sự cám dỗ của đồng tiền. Ông đã bày tỏ tâm sự ấy rất chân thật:

Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.

(Tự trào)

Nhìn chung, tình cảm và sự lo lắng của nhà thơ luôn hiện hữu qua từng sự kiện trong dòng thời gian mà tác giả đã trải nghiệm đƣợc thể hiện rất sâu sắc trong các thi phẩm của ông. Qua giọng thơ sâu lắng chất chứa tâm tƣ ẩn tàng trong những hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu thơ buồn da diết, nhà thơ đã bộc lộ rõ những tâm sự của mình trên những trạng huống thời cuộc đầy biến thiên. Đó là tƣ cách của một nho sĩ luôn có trách nhiệm với thời cuộc. Đó còn là tƣ cách của một dật nhân, ẩn sĩ luôn chất chứa tình yêu quê hương. Sự hài hòa trong các vai trữ tình khác nhau.

Tiếp cận từ cảm thức thời gian, chúng ta dường như hiểu thêm về sự trăn trở của nhà thơ đối với từng sự kiện, công việc, con người, thời đại mà Nguyễn Khuyến đã trải nghiệm trên con đường độc hành của mình.

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 104 - 109)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(127 trang)