1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cảm thức thời gian trong thơ nôm nguyễn bỉnh khiêm

121 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 217,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cảm thức thời giantrong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là nghiên cứu sự tương quan giữa cái “tôi” củangười nghệ sĩ với dòng chảy thời gian, giữa con người cá nhân trước các chặngđư

Trang 1

TRƯƠNG THỊ BÍCH LỆ

CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Bình Định - Năm 2020

Trang 2

Tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện qua cuộc đời và thơ văn củaông không đơn giản Nhiều người cho rằng, tư tưởng của Trạng Trình Nguyễn BỉnhKhiêm chủ yếu là “nhàn”, vô sự với chủ trương “minh triết bảo thân”; Có người lạinhận ra ẩn tình nặng lòng ưu ái đậm chất triết lý của thi nhân trên những trang thơ…Muốn hiểu tư tưởng, tình cảm của Tuyết Giang phu tử trước mọi thời biến, hẳn phảinhìn vào hoàn cảnh lịch sử thời đại ông đang sống với tất cả mối liên hệ chung riêngđược gửi gắm trong sự nghiệp văn chương đặc sắc của tiền nhân.

Hơn năm thế kỷ qua, nhiều hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu văn chương NguyễnBỉnh Khiêm trên nhiều phương diện chưa hề vơi cạn Người nghệ sĩ mẫn cảm, triếtnhân giữa cuộc đời, nhà Nho chính thống ấy đã gửi lại hậu thế bao điều vinh quang

cũng như những góc khuất chứa đầy cảm xúc qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập Thi tập

viết bằng chữ Nôm được Trạng Trình ghi lại các trạng huống cảm xúc, những ưu tư,suy nghiệm về thế sự nhân tâm trên mỗi chặng đường đời với những mốc thời gian,không gian sinh hoạt của mình Như những viên ngọc sáng ngời theo

Trang 3

năm tháng, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn thấm đượm tâm hồn, tình cảm và cảnhững suy tư triết lý có giá trị vĩnh cửu với mọi thời đại.

1.2 Trong sáng tác nghệ thuật, yếu tố không gian, thời gian là phương tiệnthiết yếu để thi nhân xây dựng thế giới nghệ thuật của mình Tìm hiểu tư tưởng, tìnhcảm của người nghệ sĩ khó có thể bỏ qua bình diện thời gian với các cung bậc cảmxúc, nhận thức về thời cuộc được thể hiện khá rõ hoặc được “ẩn tàng” trong từngtác phẩm Là thành tố quan trọng trong hệ thống thi pháp của sáng tác nghệ thuậtnói chung, văn học trung đại Việt Nam nói riêng, thành tố không - thời gian hiệnhữu trong tác phẩm như một lẽ đương nhiên Yếu tố thời gian mang tính quan niệm,nhận thức và là sự chiếu ứng toàn bộ tiềm lực tinh thần của con người trong tácphẩm Đó là mô hình thế giới độc lập mang tính chủ quan và ý nghĩa tượng trưngcủa tác giả thể hiện Đó còn là mô hình hóa các mối liên hệ về thời gian cuộc đời,không gian xã hội, đạo đức, về trật tự thế giới đặt trong sự lựa chọn chủ ý của ngườinghệ sĩ Trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không ngoại lệ Là một tác gia vănhọc trung đại, cuộc đời lại gắn với nhiều “mốc” thời điểm lịch sử đầy biến động, thinhân, triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm không quên ghi dấu từng chặng đường đời điqua bằng những trang thơ nhuốm đầy suy ngẫm

Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI) đã ghi một mốc lớn trên conđường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, là một trong những chiếc cầu nốigiữa hai thời đại văn học – thời đại Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) trước đó và thời đạiNguyễn Du (thế kỷ XVII) sau này Nghiên cứu về người nghệ sĩ, về triết nhânNguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều phương diện đã được đặt ra từ trước đến nay không

hề ít Song, tìm hiểu cảm xúc, nhận thức của người nghệ sĩ mẫn cảm, lắng sâu thế

sự, thấm đẫm triết lý nhân sinh thể hiện trong thơ quốc ngữ để hiểu sâu sắc hơntừng trạng huống cảm xúc của nhà thơ qua từng thời điểm khác nhau trong cuộc đời

là vấn đề còn nhiều thú vị để khám phá, tìm hiểu Nghiên cứu cảm thức thời giantrong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là nghiên cứu sự tương quan giữa cái “tôi” củangười nghệ sĩ với dòng chảy thời gian, giữa con người cá nhân trước các chặngđường lịch sử thời đại đặt ra trong suốt cuộc đời của nhà thơ Tìm hiểu cảm thức

Trang 4

thời gian trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, một mặt nhận diện vai trò ý nghĩa các

kiểu thời gian biểu hiện trong thơ ca trung đại nói chung, thi phẩm Nguyễn BỉnhKhiêm nói riêng; Mặt khác qua đó, góp phần khẳng định quan niệm, tư tưởng vàtâm hồn tình cảm của nhà thơ trong từng thời đoạn lịch sử cụ thể Tiếp cận và lý giảicác bình diện thời gian gắn với những cảm thức của nhà thơ được biểu hiện trongthi tập cũng là cách góp thêm cái nhìn đa chiều về tư tưởng, tình cảm người nghệ sĩ,nhà Nho và triết nhân Trạng Trình Điều này cũng có nghĩa góp phần gợi ra cáchhiểu và thẩm bình thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời mở rộngliên hệ mối quan hệ với thơ ca trung đại nói chung, nghiên cứu và giảng dạy thơ vănNguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng Tìm hiểu các dạng cảm thức thời gian được biểuhiện trong thi tập sẽ là những căn cứ góp phần hoàn chỉnh chân dung triết nhânNguyễn Bỉnh Khiêm

Đề tài: Cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm của chúng tôi

được thực hiện, xuất phát từ những lý do trên

2 Lịch sử vấn đề

Trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nóiriêng, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có giá trị lớn trên nhiều phương diện Trongnhiều thế kỷ - nhất là từ đầu thế kỷ XX trở đi, thơ văn của ông đã trở thành mốiquan tâm của nhiều người, các công trình nghiên cứu thơ văn Nguyễn Bình Khiêmcũng ngày càng nhiều hơn Các công trình đó đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đếnthân thế, sự nghiệp, giá trị văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm Riêng vấn đề nghiêncứu, tìm hiểu cảm thức thời gian biểu hiện trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thườngđược các tác giả nhắc đến hoặc gợi ra như một sự bổ sung liên quan đến các vấn đềnghiên cứu khác Trong phạm vi tư liệu hiện có, chúng tôi lược thuật như sau

Bàn chuyên sâu về vấn đề cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm,chưa có một công trình chuyên biệt nào dành riêng để khảo sát, nghiên cứu Song,điểm qua các thành tố thời gian và không gian nghệ thuật, nơi lưu giữ tồn chứanhững giá trị tinh thần của tác phẩm vốn được coi là một biểu hiện quan trọng trongthi pháp thường được các nhà nghiên cứu quan tâm, lưu ý

Trang 5

Nhắc đến ý nghĩa của các giá trị thời gian được biểu hiện trong thơ ca trung đại,

trong công trình Văn học trung đại Việt Nam, tác giả Lê Trí Viễn (Chủ biên) cũng đã đề

cập đến cách hiểu thời gian thời trung đại Tác giả lí giải những điểm khác biệt trongnhận thức và cảm xúc của con người trung đại so với con người hiện đại Tác giả phát

hiện những biểu hiện của thời gian trong văn học trung đại với những kiến giải: “Thời

gian tuyến tính trôi chảy không ngừng, một qua không trở lại (…) và là “thời gian chu

kỳ đi rồi quay trở lại chứ không đi mất” [77; 19] Thời gian trong văn chương trung đại

còn là “thời gian không trống rỗng trừu tượng mà chất chứa một nội dung cụ thể (…).

Thời gian nhuốm màu thiêng liêng và đạo đức” [77; 19] Tác giả nhấn mạnh thời gian

chu kì có tác động mạnh mẽ và sâu sắc hơn đến cảm quan của con người, đó là: “Ý

thức về thời gian chu kì sâu hơn và có sức xóa mờ thời gian tuyến tính” [77; 20] Tuy

không được tách ra thành một chương riêng biệt, song, cơ bản tác giả Lê Trí Viễn đã

giúp người đọc nhận thức và lí giải được những biểu hiện cơ bản về các “kiểu” thờigian trong văn học trung đại Từ vấn đề được tác giả đặt ra và lý giải, chúng tôi xem lànhững gợi dẫn cần thiết để đi vào nghiên cứu cảm thức thời gian của một tác gia cụ thể

- tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nghiên cứu sâu về các yếu tố thi pháp văn học trung đại, trong công trình

Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử đã dành sự quan tâm về các kiểu thời gian trong thơ trung đại nói chung với các nội dung: “Mô hình chung của

thời gian; Thời gian vũ trụ bất biến; Thời gian con người” [49; 193] Cụ thể, về thời

gian trong thơ trung đại, tác giả đã xác định các khái niệm: Thời gian vũ trụ bất biến trong thơ từ thế kỉ X- XVII: Vô thời gian trong thơ Thiền - loại thời gian “Bất biến, thường trụ, bởi vì không sinh không diệt”[49; 197]; Cũng theo tác giả, thời

gian lịch sử trong thơ tương quan với thời gian vũ trụ - kiểu thời gian được khônggian hóa với “tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấu tích” [49; 204]; Và cuốicùng là thời gian con người với nỗi buồn thương u uất cá nhân… Dẫn chứng chodòng chảy thời gian bất biến, tĩnh tại trong thơ nhà Nho, tác giả dẫn giải: “Trong thơNguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian vũ trụ là một niềm mơ ước (…).Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiện một quan niệm vũ trụ tự nhiên, nhưng ông thiên

về tính biến

Trang 6

dịch vĩnh hằng” [49; 201] Việc xác lập các mô hình thời gian, các kiểu thời giantrong thơ thời trung đại phần nào giúp người đọc có thêm nhận thức về lý thuyếtchung thời gian nghệ thuật trong thơ trung đại Việt Nam.

Nghiên cứu về diễn tiến thơ trữ tình của một thời đại cụ thể, Phạm Hùng với

bài viết Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần (TCVH, Số 4/1983) (in lại trong Công trình Trên hành trình văn học trung đại), đã chỉ ra diễn biến các dòng chảy thời gian

theo các xúc cảm của thi nhân đời Trần Tác giả nhận định: “Thời gian là nhữngcảm xúc thơ về một quá khứ vô cùng vinh quang và đầy chiến thắng, cảm xúc trữtình của các thi sĩ cũng gặp nhau trong sự hồi tưởng chiến công của cha ông trêndòng sông Bạch Đằng” [16] (…) Đến thời vãn Trần, “Thời gian được phản ánh cogiãn theo tâm trạng con người, niềm vui lại qua nhanh mà nỗi buồn sao đằng đẵng”.Thi nhân thời Trần có những cách cảm nhận dòng chảy thời gian khác nhau, thơTrần Nguyên Đán thời gian “buồn bã, nặng nề vô vị như cuộc đời trôi”, người nghệ

sĩ có lúc “giật mình cảm thấy thời gian trôi đi nhanh quá, cả thời gian tuổi tác cuộcđời rồi cũng trôi đi không trở lại”… Trong thơ Nguyễn Tử Thành, thời gian trôitrong dòng cảm xúc tiếc nuối bâng khuâng: “nghe tiếng thời gian đang tan theonhững giọt mưa đêm xuân trong một sự nuối tiếc đến tuyệt vọng” [16; 166 - 171]…Như vậy, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, cảm thức thời gian ở mỗi nhà thơ thời Trần đã

có những cảm quan, cảm xúc khác nhau phụ thuộc vào quan niệm, tư tưởng và đặcbiệt là cảm hứng từ chính cuộc đời của mỗi cá nhân người nghệ sĩ

Đi vào nghiên cứu một tác gia, tác phẩm cụ thể, công trình nghiên cứu, Luận

án Thi pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi (2002) của tác giả Hoàng Thị Thu Thủy đề cập

đến vấn đề thời gian trong thơ Nguyễn Trãi chiếm vị trí là một luận điểm Góp phầnphát họa chân dung Nguyễn Trãi, tác giả Hoàng Thị Thu Thủy đã khảo sát các yếu

tố nghệ thuật trong đó có thời gian Tác giả định danh thành những kiểu thời gian:

Thời gian quá khứ với đặc điểm: “Đời người có những quãng thời gian có ý nghĩa

đặc biệt gắn với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc , cho nên hoài niệm quá

khứ cũng là nét chung của con người” [69; 66]; Thời gian mang tâm sự đời thường

với khuynh hướng cá nhân: “Đó là kiểu thời gian đầy dư vị buồn tiếc, xót xa, thiếu

Trang 7

ấm áp và vắng vẻ”;… Nghiên cứu từ góc độ thi pháp thơ Nôm, tác giả chứng minh

cho sự tồn tại của yếu tố thời gian xuất hiện trong thơ tiếng Việt buổi đầu với nhận

xét: “Thời gian nghệ thuật trong Quốc âm thi tập vừa mang đặc trưng chung của

thời gian nghệ thuật thời trung đại, vừa mang dấu ấn riêng của phong cách thơNguyễn Trãi, phong cách của một thi nhân "lo đời" "đau đời", "ẩn ức" trước thế sự [69] Nhận xét của tác giả được xem là những gợi dẫn cần thiết để chúng tôi nghiêncứu về khía cạnh cảm thức thời gian trong sáng tác của một tác gia trung đại ViệtNam sau Nguyễn Trãi một thế kỷ, cụ thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nghiên cứu ở khía cạnh khác của Bạch Vân quốc ngữ thi tập với các hình

thức diễn đạt về những ngày tháng ẩn dật của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Văn

Tấn với bài viết Bạch Vân quốc ngữ thi tập các hình thức diễn đạt về sự ẩn dật

(TCKH Đại Học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Số 7 (73) năm 2015), đã nhấnmạnh: “Trong thời gian hưu trí ở quê nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn gián tiếp dự bàntham gia trực tiếp vào chính sự” (…) “Trong thời gian ở ẩn tại Trung Am, thi nhânluôn thể hiện mình là một ẩn sĩ thanh cao, hòa mình vào thiên nhiên lấy thiên nhiênlàm môi trường sống đích thực của mình” [57; 63] Như vậy, trong quãng thời giannào, lúc tham chính hay ẩn cư, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn “luôn thể hiện mình là một

ẩn sĩ thanh cao” Rõ ràng, ở nhiều thời điểm khác nhau trong cuộc đời, NguyễnBỉnh Khiêm có những cảm nhận về dòng chảy thời gian khác nhau với những suynghiệm đậm tính triết lý trước biến cải nhân sinh

Nghiên cứu Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm trên phương diện tiếp nối thành

tựu thơ Tiếng Việt dân tộc, trong bài viết Luận về Nguyễn Bỉnh Khiêm (qua thơ Nôm), tác giả Hà Như Chi cho rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm khôn ngoan và từng trải.

Một người sinh ra trong buổi hỗn loạn, đã có ý ở ẩn trước khi ra làm quan, đến hơn

40 tuổi mới chen chân vào hoạn lộ, tất cũng đã suy nghĩ nhiều về việc thế ngườiđời, đắn đo về lẽ tới lui và chú trọng về đường cư xử với người” (…) Đối với cụ,sau khi đã suy nghiệm nhàn là chủ đích của cuộc đời, sống nhàn mới đáng sống, cụtìm đến nhàn như một nhà hiền triết tìm đến chân lý Cái nhàn của cụ không phải làcái nhàn bất đắc chí mà là cái nhàn làm cho người ta toại chí đến cực điểm” [60;

Trang 8

470] Như vậy, khác với Nguyễn Trãi trước đó một thế kỷ, từng có những quãngthời gian nhập thế và xuất thế mang đầy bi kịch “xuất dùng dằng xử day dứt”,Nguyễn Bỉnh Khiêm nhập thế hay xuất thế đều rất “minh bạch”, rất “sòng phẳng”.

Cùng cái nhìn về thái độ xuất xử “minh bạch” và “sòng phẳng” của Nguyễn

Bỉnh Khiêm trước thế cuộc thể hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi, Phạm Thế Ngũ nhấn mạnh: “Trong đạo thống Nho gia, cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm như vậy thật

minh bạch, sòng phẳng Gặp thời gặp chúa, thì ra trị nước, yên dân Khi hoàn cảnhkhông cho phép thì lui về ẩn thân hành thiện Ngồi ở triều đường dám nói thẳngkhông sợ lụy thân Về hương đảng khuyến khích điều lành, nêu gương đạo đức.Làm quan thì ngựa xe hầu đón, về làm dân thì áo vải cơm rau Mà ra hay về, lên hayxuống đều thảng thích vô tâm” [60; 499] Như vậy, trong cả thi tập, nhà NhoNguyễn Bình Khiêm đã gửi vào những dòng thơ các cung bậc cảm xúc theo dòngđời đầy “biến cải” của thế cuộc

Nghiên cứu Bạch Vân quốc ngữ thi từ góc độ cảm hứng của nhà thơ, với bài viết Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Thanh Lê nhận

định thi tập: “Tập thơ là “bức tranh tự thuật” về cuộc sống nhà nho thanh bần; Đồngthời kết hợp giữa cảm nhận về cuộc sống bản thân và cuộc sống của tầng lớp

“đương thời”, với cách nhìn sâu sắc của con mắt triết gia, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng

đã vẽ lại “bức tranh tự sự về thế thái nhân tình” rất chân thực [60;572]

Nghiên cứu ở khía cạnh bóng dáng con người nhàn dật trong thơ Nôm

Đường luật, trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Ngọc Hòa với bài viết Con người nhàn dật, tự tại trong thơ Nôm Đường luật (Tạp Chí Khoa Học, Đại học Huế, tập

72A, số 3, năm 2012), đã dẫn ra các chặng đường đời nhiều biến động mà chính bảnthân đã thơ đã trải qua với nhiều trạng huống cảm xúc Tác giả nhận định: “NguyễnBỉnh Khiêm nhập thế khi chế độ phong kiến bước dần vào con đường suy tàn (…)

Ra làm quan với triều đình nhà Mạc, không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm không thấynhững khó khăn trước mắt, nhưng ông vẫn tin vào sự phục hưng của chế độ, vào tài

“phù nghiêng đỡ lệch” của mình, để rồi cuối cùng phải ngậm ngùi “Giúp nướcthương dân chưa thỏa lòng ta hồi trước Băn khoăn rất thẹn già không có tài”

Trang 9

[12; 131-136] Tài “phù nghiêng đỡ lệch” của Trạng Trình thì đã rõ, thẹn vì mình

“không có tài” như đã thán chỉ là cách nói “ưu tư” trước thế cuộc Đó là cách nói,cách ngẫm về nhân tình thế thái với đủ mùi vị “mặn, nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi”

(Thói đời) của thời đại mà ông đang hiện diện.

Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn

(chủ biên) Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (Tập 1) nhận định: “Trong 95

năm của cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ thực sự làm quan có 8 năm (…) Khidùi mài kinh sử, lúc ở ẩn, khi ra làm quan, lúc mở trường dạy học, ông tiếp xúcnhiều với những con người, những cảnh đời khác nhau Thật ít người có được mộtcuộc đời từng trải như Nguyễn Bỉnh Khiêm” [63; 169] Chính cuộc đời từng trải ấy

đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết vô cùng rộng lớn và sâu sắc.Vốn kiến thức uyên bác có được từ sách vở kết hợp với vốn sống phong phú từngtrải việc đời, việc người được đúc kết tạo nên những vần thơ mang sắc màu thờigian đậm chất thế sự mang triết lý uyên thâm

Cũng như các nhà nho trung đại khác, việc ẩn cư để “minh triết bảo thân”,Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những tháng ngày “nhàn”, “tiên”, “Thân nhàn, phúclại được về nhàn”, “Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng”, “Vô sự thì hơn nữa ngọcvàng”… Ngay trong lời tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc bạch: “Tôi mỗi lúc rỗi,cơn hứng đến thường ngâm vịnh hoặc ca ngợi thắng cảnh của núi sông; hoặc vui vềdáng xinh của hoa trúc; hoặc tức cảnh mà ngụ ý; hoặc mượn việc mà tự thuật đềughi lấy chí của mình” [61; 400] Dù có nói thẳng quan niệm “về nhàn”, nhà thơ vẫn

khó vô ưu trước thế cuộc Bạch Vân am thi tập là tập thơ mang nặng ưu tư về những

nỗi niềm của tác giả qua các chặng đường đời Dù Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận ra thếcuộc đảo điên biến thiên khó đỡ, ông tìm về “non xanh, nguyệt bạc” làm một dậtdân “bảo toàn minh triết”, nhưng thẳm sâu trong lòng nhà Nho trí thức vẫn khôngnguôi nỗi niềm canh cánh với đời Nhận xét về điều này, Vũ Khâm Lân cho rằng:

“Tuy ở nhà bốn mươi tư năm mà lòng không ngày nào quên đời, ưu thời mến tụcđều lộ trong thơ” Con người nhàn dật, tự tại trong Tuyết Giang phu tử vì thế vẫnchưa thoát khỏi học thuyết Nho giáo, vẫn chưa ra ngoài quan niệm “hành-tàng”,

Trang 10

“xuất-xử”, “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư” để hòa mình vào thế giới củaLão Trang” [61; 131-136].

Lê Trọng Khánh – Lê Anh Trà trong một nghiên cứu về tính triết lý trong thơNôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra tính “sâu sắc mà vẫn cụ thể và xác thực” Trong

bài viết Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ triết lý, tác giả trân trọng khi phát hiện quan

niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Tính chất nhàn tản của Nguyễn BỉnhKhiêm thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích kỷ và hoàn toàn hưởng lạc,… tưtưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía cạnh tích cực, phù hợp với

tư tưởng hành đạo của Nho giáo Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một lối phảnứng của tầng lớp nho sĩ bất lực trước thời cuộc lúc bấy giờ, phản ứng bằng hìnhthức tiêu cực, nhưng vẫn bao hàm một nội dung đấu tranh bằng phương pháp theo lẽ

tự nhiên” [22; 247] Rõ ràng, với Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian nhàn rỗi không chỉđắm mình hưởng lạc trước thiên nhiên, mà trong những thời khắc ấy nhà Nho vẫn

có những khía cạnh tích cực, trăn trở và suy tư trước biến thiên thế cuộc

Nghiên cứu trên nhiều phương diện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể kể đến công trình: Nguyễn Bỉnh Khiêm - Về tác gia và tác phẩm (Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu) Công trình

bao quát một nguồn tài liệu nghiên cứu về Trạng Trình họ Nguyễn khá đầy đặn Baogồm rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều lĩnhvực khác nhau, các nhà nghiên cứu hướng về tư tưởng, nhân cách, về sáng tạo nghệthuật, về triết nhân đặc sắc của thế kỷ XVI, về thơ ca quan phương lẫn bình dânbình dị của nhà Nho chính thống chuẩn mực Trạng Trình… Trong lời giới thiệu về

Sức sống của thơ ca và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả đã nhận định:

“Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với sự nhàn dậtchính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với “cái vụng”, “cái thuyết” mà theo quanniệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo Lão, mới là bản chất

tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó đã tạo nênmột Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạcquan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại”[61; 48] Cái

Trang 11

chất “tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn” ấy đã làm nên một NguyễnBỉnh Khiêm rất riêng, rất phong thái triết nhân điềm tĩnh ung dung đi qua thời gianđầy thăng trầm của non một thế kỷ lịch sử biến động.

Phân tích thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm để đi tìm tâm sự của nhà thơ là khía cạnhđược nhiều nhà nghiên cứu khai thác Qua phân tích một số bài thơ “Nhàn” củaNguyễn Bỉnh Khiêm gắn với “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”, Bùi Duy Tânnhận ra thời điểm khắc khoải của chủ thể trữ tình xuyên suốt chủ thể ấy là mộtNguyễn Bỉnh Khiêm chán ghét thói đời gian xảo, đường hoạn lộ đầy hệ lụy và nhàthơ tìm về cuộc sống nông thôn thuần phát, thích thảng an nhàn và cuộc sống đạmbạc nơi thôn quê đầy lạc thú Tác giả chỉ ra thời gian nhàn rỗi của người nghệ sĩmẫn cảm Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ông đọc sách, ngâm thơ, uống rượu, tưới cúc, vunthông, hâm chè, trở lửa… trong cảnh nước biếc non xanh, trăng trong gió mát, dướibóng râm cổ thụ hay trời thu khí mát, bên bờ tre quê hay bên luống hoa đẹp, nhà thơđều thấy tâm tình thoải mái” [61; 342] Hiện hữu trong thơ, rõ ràng không hẳn chỉ lànhững sinh hoạt tiêu dao thưởng ngoạn của một ẩn cư, mà đó còn là tâm sự, là nỗiniềm, là các trạng huống xen lẫn những ưu tư thế sự trước những khoảnh khắc thờigian thư thái mà nhà thơ đặt mình thảnh thơi tận hưởng

Nghiên cứu trên một số bình diện về ngôn ngữ, hình ảnh, đề tài… của Bạch Vân quốc ngữ thi tập, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét đặc sắc, nét riêng về nghệ thuật của tập thơ Nôm Trong bài viết Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả

Trần Thị Băng Thanh nhận xét: “Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đãbộc bạch, tỏ bày chí hướng, khát vọng ấy của mình trong thơ Nôm Song, nếu nhưNguyễn Trãi đi từ nhiều đề tài vịnh cây cỏ, tự thán, thuật hứng, trần tình, mạnthuật…để rốt lại nói lên hoài bão chí hướng của mình thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lạitheo một quá trình ngược lại Ông chỉ làm thơ ngôn chí, nhưng từ đó mà bao gồmtất cả, thể hiện tất cả, có tấm lòng yêu đời, yêu người, giận thương, răn dạy, khuyênnhủ…(…) Dường như Nguyễn Trãi cô đơn hơn, còn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều bè

bạn hơn Từ Quốc âm thi tập đến Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thơ Nôm đã hình

thành một số nét đặc sắc về nghệ thuật bút pháp tả thực” [61; 565]

Trang 12

Giới thiệu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới hình thức chữ viết, Đinh GiaKhánh đã có nhận xét về cách biểu hiện thời gian trong thi tập của nhà thơ: “Nhưngmỗi khi muốn vui chơi giải trí, hoặc buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặcnhận thức riêng tư, tức là không có dụng ý lấy văn để “chở đạo” là chủ yếu, thì tácgiả lại hay viết bằng thơ chữ Nôm” [21; 87] Như vậy, chọn hình thức diễn đạt bằngchữ Nôm diễn tả các cảm xúc tâm trạng theo thời gian mang tính thế sự, NguyễnBỉnh Khiêm không hẳn dụng ý dùng văn chương để “chở đạo”, tự thân sự kết hợptài hoa nhuần nhị giữa hai phạm trù uyên bác và bình dân, triết lý và trữ tình, thơnói chí, thơ đạo lý của ông trở thành một lối thơ triết học mang đậm màu sắc thế sựnhân sinh.

Nghiên cứu về nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi, Lã Nhâm Thìn đã chỉ ra sự

kết hợp nhuần nhị giữa các cặp phạm trù đối lập “triết lý và trữ tình, uyên bác vàbình dị” Tác giả nhấn mạnh: “Thơ Trạng Trình tác động mạnh tới lý trí, tới nhậnthức người đọc bằng phương pháp đối lập Thơ triết lý nhưng không khô khan; Nhàthơ diễn đạt những vấn đề của tư tưởng, của luận lý lô gic bằng những hình tượngnghệ thuật cụ thể, sinh động” [63; 179] Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông lýhọc, mẫn cảm với đời, sống gần gũi với đời sống dân thường, chan hòa với thiênnhiên vạn vật, suy tư thế cuộc đã gửi cảm xúc của của mình vào thi tập chữ Nômmột cách hài hòa phù hợp với từng trạng huống cảm xúc Đọc thơ ông, chúng ta bắtgặp những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về thời cuộc mang tính suy luận triếthọc, những nguyên lý tư tưởng, có hiện tượng, có bản chất, có nguyên nhân và kếtquả “Vị nọ, thức kia…; nhân vì, ấy bởi…”

Trong lời Giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bỉnh Khiêm – Tác gia và tác phẩm,

tác giả Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh đã nhận xét khá xác đáng về chất thơ vàcuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Cùng với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du…, NguyễnBỉnh Khiêm là đỉnh cao về thi ca thời trung đại (…) Thơ ông như một khu rừngthâm nghiêm linh thiêng và thách thức sự kiếm tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm là ngườitrí thức trong thơ và là nhà thơ giàu tri thức, uyên bác trong nhiều trường hợp không

dễ tạo được sự hài hòa giữa chất thơ và triết luận”[61; 7] Rõ ràng, trong thơ ông có

Trang 13

chất thơ và triết luận Bởi, nó được đúc rút từ chính con người uyên bác, thâm thúytrước mọi lẽ biến cải thế nhân của Trạng Trình họ Nguyễn.

Sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được đánh giá là một thành tựulớn trong nền nghệ thuật thơ văn trung đại Việt Nam Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêmmang tính mở đầu cho một dòng thơ văn giàu tính triết lý, tư duy lý trí - thế sự,bước đầu chạm chân vào hiện thực và hơn hết, thơ Trạng Trình đã mô tả xã hội dướigóc nhìn đời tư và đời thường qua cảm nhận của một triết nhân sâu sắc trước nhântình thế cuộc Nghiên cứu ở góc độ đóng góp trong sáng tác nghệ thuật thơ bằngchữ Quốc ngữ (chữ Nôm) của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn nhận định:

“Nguyễn Bỉnh Khiêm là người mở ra hướng mới cho sự nghiệp thơ ca của mình: tưduy thế sự (…) Ở đây trí tuệ và tâm hồn dân tộc đã tiến đến một trình độ khái quát

tư duy nghệ thuật cao hơn: văn học tiếp cận những bình diện cuộc sống, những mâuthuẫn nội bộ dân tộc qua những vần thơ trữ tình có giá trị tự thuật cá tính và tự sự xãhội rất sinh động cụ thể” [61; 112]

Như vậy, sau Nguyễn Trãi một thế kỷ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp nối và vậndụng tiếng nói đậm đà bản sắc dân tộc để sáng tác thơ nhằm gửi vào đó những xúccảm, đời sống xã hội của người Việt bằng ngôn ngữ Việt Thơ ông được xem làngười

kế thừa và phát triển được ca tụng là “Cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế kỷ”

Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều bình diện từ trước đến nayvẫn chưa hề vơi cạn Những nhận định về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều góc độ khácnhau, nhất là những nghiên cứu về các phương diện thi pháp học sẽ là nguồn tài liệu

hỗ trợ, gợi dẫn cần thiết để chúng tôi tham khảo, tìm hiểu nghiên cứu về cảm hứng

thời gian của thi nhân biểu hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập Chúng tôi cố

gắng đưa ra những nhận xét có tính khái quát đối với vấn đề cần khảo sát để giúpngười đọc thấy được một số phương diện của tập thơ Nôm đã được tìm hiểu, khaithác Những nhận định, đánh giá từ các công trình trên sẽ là những gợi dẫn cần thiếtcho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề liên quan đến cảm thức thời gian trong thơNôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 14

3. Đối tượng và mục đích nghiên

cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho đời nhiều thành tựu đáng quý, trong đó có

Bạch Vân quốc ngữ thi tập (BVQNTT) được viết bằng chữ Nôm (gồm khoảng 170

bài thơ), đã xác nhận ông là một thi hào thực thụ trong làng thơ ca trung đại ViệtNam Tư tưởng, tình cảm và tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm được phản ánh mộtcách sinh động qua tập thơ Nôm Cả cuộc đời 95 tuổi (1491 – 1585) gắn liền suốtthế kỷ XVI với những quãng thời gian đầy biến cố trong lịch sử xã hội Việt Namluôn có ý nghĩa đặc biệt với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Sống trọn gần mộtthế kỷ gắn từng chặng đường đời với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc vànhững bi kịch cuộc đời… đã hun đúc trong ông những tầm cao trí nhãn để lại chohậu thế “cây đại thụ rợp bóng” trong làng văn chương trung đại Việt Nam

Trong thế giới nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời gian đượccảm nhận, ý thức một cách hệ thống dưới nhiều dạng thức khác nhau biểu hiệnnhững trạng huống cảm xúc khác nhau trong từng chặng đường đời…của chính nhàthơ Đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu về các biểu hiện cảm thức thời gian trong

BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những phương thức nghệ thuật thể hiện các

kiểu thời gian trong nhận thức và cảm xúc của nhà thơ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những công trình nghiên cứu thơ Nôm NguyễnBỉnh Khiêm, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, tổng kết các bình diện thời gian nghệ thuật

được thể hiện trong BVQNTT Đồng thời, thông qua phân tích các giá trị nội dung,

nghệ thuật biểu hiện cảm thức thời gian của nhà thơ, luận văn góp phần hiểu thêm

về tâm hồn, tư tưởng tình cảm và những đóng góp đặc sắc đậm tính triết lý trongsáng tạo nghệ thuật của tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lĩnh vực văn chương

Văn bản khảo sát: Chúng tôi khảo sát văn bản thơ Nôm từ sách “Thơ vănNguyễn Bỉnh Khiêm”, Đinh Gia Khánh giới thiệu, Hồ Như Sơn biên soạn phần thơNôm (chọn 161 bài), Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, 340 trang Đinh Gia Khánh vàBùi Duy Tân biên soạn phần thơ văn chữ Hán (chọn 93 bài thơ, 3 bài văn)

Trang 15

Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu của phạm vi đề tài đặt ra, chúng tôi chọnkhảo sát 161 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giới thiệu củatác giả với những lời nhận xét chung khá thuyết phục về nội dung tư tưởng và nghệthuật thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Có thể xem đây là cuốn sách có những kiến giải

hợp lý, khoa học và tập hợp đầy đủ các bài thơ trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập

của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Những trích dẫn về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong luận văn này đều đượctrích dẫn từ công trình trên Người viết thừa hưởng thành quả của những người đitrước và không sáng tạo gì thêm về phiên âm dịch nghĩa của văn bản

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này được sử dụng để tập

hợp và thống kê được số lượng những câu thơ, bài thơ có biểu hiện trực tiếp hoặcgián tiếp yếu tố thời gian và cảm nhận thời gian của tác giả

- Phương pháp thống kê miêu tả: Sau khi xác định được những câu thơ, bài

thơ có biểu hiện yếu tố thời gian, chúng tôi tiến hành mô tả sự biểu hiện ấy nhằmlàm rõ đặc trưng thời gian, biểu hiện các ý nghĩa thời gian của nhà thơ

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng trong việc so sánh

thơ chữ Nôm của các tác gia trung đại khác trước và sau Nguyễn Bỉnh Khiêm(Nguyễn Trãi; Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…) Mục đích của việc so sánh là nhằmphát hiện sự sáng tạo độc đáo, phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn BỉnhKhiêm trong sáng tác văn chương trên hai chiều hướng thơ bác học chữ Hán và thơbình dân chữ Nôm

Bên cạnh các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các thao tácphân tích, tổng hợp để giải quyết vấn đề Thao tác phân tích được sử dụng khi mô tảloại hình thơ nhằm làm rõ những biểu hiện đặc trưng nhất của các biểu hiện thờigian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trên đây là một số phương pháp, thao tác chủ yếu được sử dụng linh hoạttrong luận văn Việc nêu ra có tính tách bạch của các phương pháp được sử dụng

Trang 16

trên chỉ phục vụ cho đối tượng nghiên cứu Bởi, phần lớn các phương pháp được sửdụng đan xen nhau khi trình bày, lý giải từng đối tượng cụ thể nhằm mục đích giảiquyết những yêu cầu luận văn đặt ra.

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luậnvăn kết cấu theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở hình thành cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 2: Các kiểu cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 3: Phương thức thể hiện cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN

TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1.1 Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại

1.1.1 Giới thuyết chung về cảm thức thời gian

Thời gian là một đại lượng tồn tại khách quan, được vận hành theo một quytrình bất biến: sáng đến trưa, ngày qua đêm, tháng đến năm, mùa, vụ… Con ngườiquen tri giác thời gian như trật tự vốn có của nó; tri giác thời gian theo kiểu tuyếntính và in vào nhận thức, lời nói hàng ngày như: trước - sau, tiền - hậu, đầu – đuôi,thủy – chung… Thời gian không phải là yếu tố duy nhất hé mở đời sống thế giớitâm hồn con người Bên cạnh thời gian bao giờ cũng tồn tại một không gian nhấtđịnh Sự tồn tại của con người hiển nhiên không thể được đặt ngoài vòng thời gian

và khoảng không gian nhất định Thời gian hiện hữu đó luôn dung chứa thế giới conngười với các hiện tượng tự nhiên, xã hội… Không một ai có thể đứng ngoài bước

đi của thời gian; không một ai không có đôi lần nhìn thời gian trôi theo cảm nhận cánhân chậm hay nhanh, dài hay ngắn, từ đó bản thân cảm nhận dòng đời trôi quangắn ngủi hay đằng đẵng… Đó chính là ý thức trước dòng chảy thời gian theo cảmxúc chủ quan và nó trở thành một hiện tượng mang tính phổ quát trong hiện thựccũng như trong sáng tác nghệ thuật Việc xem xét đánh giá những biểu hiện nhậnthức trước các dòng chảy thời gian được chuyển hóa trong cảm xúc ý thức của chủthể trữ tình qua sáng tác nghệ thuật thực sự có ý nghĩa không kém phần quan trọngkhi muốn phát họa hoàn chỉnh chân dung của người nghệ sĩ

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt: “Thời gian là một phạm trù triết học,

cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có sự vậthiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới cótính xác định”[84; 52] Theo đó, danh từ “thời gian” được hiểu là một đại lượng tồntại khách quan quan trọng của mọi vật chất, mọi sự vật hiện tượng trong cuộc

Trang 18

sống Có thể khẳng định, mọi sự vật hiện tượng không thể tồn tại ngoài thời gian.

Sử dụng yếu tố thời gian để lý giải nhiều khía cạnh khác nhau của con người, cuộcđời được xem là một phương tiện cần thiết Không chỉ là đại lượng trôi đi theochiều tuyến tính giản đơn để chỉ dòng chảy cuộc đời đi qua, thời gian với các “chiềukích” quá khứ, hiện tại, tương lai đều có thể trở thành những cảm nhận khác nhau ởtừng tâm trạng của mỗi cá nhân

Cảm thức là cách con người nhận thức, đánh giá xem xét một vấn đề trongcuộc sống bằng con mắt chủ quan, bằng cảm nhận của chính mình chứ không phảicủa ai khác Với ý nghĩa đó, có thể hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong vănchương nghệ thuật nói chung, trong thơ nói riêng là thời gian khách quan mang tínhchủ quan Thời gian ấy khi đi vào tác phẩm nghệ thuật đã được đi qua “bộ lọc” cảmxúc và nhận thức chủ quan của cá nhân người nghệ sĩ Người ta có thể thấy, thờigian đi nhanh như thoi đưa hoặc chậm trôi qua đến nỗi như nghìn thu… “Ngày vuingắn chẳng tày gang” hoặc “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”… khi chủ thể trữ tìnhmang nặng tâm tư trước thời gian khách quan Dòng thời gian trôi chảy nhanh chậmphụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm lý của người cảm nhận Con người thông quacách cảm nhận về thời gian để trình bày quan niệm, sự hiểu biết, đánh giá của mình

về cuộc đời, về cái đã qua, đang đến và cái sắp đến

Thời gian trong sáng tác nghệ thuật được cảm nhận không chỉ bằng các đạilượng vật lý thông thường như giây, phút, ngày, tháng, năm… mà còn bằng “đongđầy” chính cảm xúc mang rất rõ yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ Thời giankhông còn là một khái niệm trừu tượng mà có khi tồn tại dưới dạng cụ thể nhưhương vị, màu sắc, vật thể hiện hữu trong nhiều chiều kích khác nhau Với nhữngsáng tác của truyện cổ dân gian, tác giả dân gian thường xây dựng câu chuyện theodòng chảy thời gian tuyến tính, sắp xếp kết cấu truyện theo một trật tự nhất địnhtheo dòng chảy đời người: sinh ra, bắt đầu (quá khứ), diễn biến, hành trạng (hiệntại) rồi đến kết cục, kết quả (tương lai); Trong ca dao, thời gian phiếm chỉ được tácgiả dân gian vận dụng theo mô tuýp “ngày ngày”, “chiều chiều”, “đêm đêm”,

Trang 19

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau; Chiều chiều lại nhớ chiều chiều”… để diễn tả cảmxúc chung mang tính cộng đồng của chủ thể trữ tình.

Trong sáng tác nghệ thuật cá nhân, thời gian thể hiện diễn biến theo quy trìnhtâm lý con người Thời gian trong cảm thức của con người như một cơ thể sống vớicác trạng thái cảm xúc phong phú đa dạng, phức tạp được mở rộng các đường biênvới các chiều kích để đánh dấu thời khắc đặc biệt trong cuộc sống của cá nhân hoặcthời đại Thời gian luôn tồn tại khách quan, nhưng đối với mỗi cá nhân, thời gian lạimang màu sắc, dấu ấn riêng biệt chủ quan của từng cá thể Cũng là dòng thời giantrôi chảy, nhưng ở mỗi người nghệ sĩ cảm nhận bằng cảm quan với những nhận thức

và quan niệm riêng in dấu ấn cá nhân rất rõ Đứng trước vũ trụ bao la, người nghệ sĩmẫn cảm, suy nghiệm cảm nhận được sự vô hạn của không gian và sự hữu hạn củakiếp người; Có lúc người nghệ sĩ nhận ra sự trôi chảy vĩnh viễn của thời gian để kịphoài niệm về những chặng đường mình đã đi qua; Cũng có khi bằng sự trải nghiệmcủa bản thân trong dòng chảy thời gian vật lý, người nghệ sĩ cảm nhận thời giantrong ưu tư khắc khoải trước những biến cải thế nhân…

Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là một hình tượng thẩm mỹ sinh độngchứ không khô cứng Nó không đơn giản chỉ là sự cảm nhận bằng tư duy tỉnh táocủa các giác quan mà còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằngchính tâm trạng của tác giả Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có mộtranh giới phân biệt với thời gian vật lí tuyến tính, nhưng không dễ thấy Thời gian

ấy có thể dài hay ngắn, trôi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào tâm tư tình cảm củanhà thơ, tùy thuộc vào sự cảm nhận của chủ thể sáng tạo Thời gian nghệ thuật biểuhiện trong thơ chịu sự chi phối từ cảm thức thẩm mỹ và thế giới thẩm mỹ của conngười thời đại Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên,nhưng cũng có thể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ bằng hồi tưởng Các lớp thờigian có khi đan bện, xoắn xít với nhau, cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tươnglai có mối liên hệ thời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm Vậy nên, hẳnnhiên, trong dòng chảy thời gian, mỗi chủ thể có cách cảm thụ thế giới riêng mangdấu ấn cảm xúc cá nhân Do được cảm nhận bằng tâm trạng nên thời

Trang 20

gian trong thơ có cách thể hiện riêng không giống với thời gian vật lí bên ngoài Nó

có sự giãn cách, giãn cách từ thời gian vật lí bên ngoài để được tự nhiên đi vào thơ.Ngoài nghĩa thực vốn có, thời gian còn mang ý nghĩa biểu trưng Chính giá trị biểutrưng này làm cho thời gian trong thơ mang được rất nhiều xúc cảm và nhận thứccủa người nghệ sĩ Khi người nghệ sĩ nhắc đến lượng thời gian “kim cổ” cũng cónghĩa cảm xúc, ý thức của người nghệ sĩ đang đứng ở hai chiều cảm thức về dòngchảy cuộc đời xưa và nay trong sự hoài niệm quá khứ hoặc hiện hữu của thời gianngừng trôi, bất biến trước thời gian lịch sử, vĩnh hằng Thi nhân Nguyễn Trãi từng

ưu tư trước sông nước mênh mông khi đối ứng với phận người hữu hạn: “Kim cổ vô

cùng giang mạc mạc/ Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu” (ƯTTT) Dòng chảy thời

gian trong tác phẩm cũng biến đổi linh hoạt, từ điểm nhìn hiện tại có thể ngược vềquá khứ, thậm chí trở về thời Bàn Cổ khai thiên… Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắcđến “đời Nghiêu Thuấn” hay “thuở Tấn, Tùy”: “No lòng ấm cật đời Nghiêu Thuấn/Gối vác nằm sương thuở Tấn, Tùy”… cũng có nghĩa nhà thơ muốn nhắc đến một xãhội lý tưởng, một thời đại đầy mơ ước vua sáng tôi hiền hay những buổi binh đaoloạn lạc …

Chính nhờ sức mạnh biểu hiện đa dạng, phong phú của ngôn ngữ, các dạngthức thời gian đã giúp các thi phẩm lưu lại dấu ấn về cảm thức thời gian một cáchsâu sắc sinh động hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác Thời gian biểu hiện khôngchỉ là một mảnh vỡ về hình khối, màu sắc hay âm thanh mà với một dung lượngngôn từ ít ỏi, nó có thể tái hiện những biến cố lớn lao của một đời người hay mộtthời đại cụ thể Đọc những câu thơ: “Thập niên phiêu chuyển thán bềnh bồng; Tam

thập niên tiền hồ hải thú; Thập niên thanh ngọc chức hồ băng” (ƯTTT)… của

Nguyễn Trãi, chúng ta nhận ra sự tổng kết nỗi niềm của nhà thơ trong từng chặngđường “mười năm” nổi trôi, ẩn nhẫn chờ thời; ba mươi năm phỉ chí hải hồ; mườinăm “quan thanh ngọc” trong tiếng lòng chua chát nơi chốn quan trường… Nhưvậy, thời gian trong thơ ca có những nhịp điệu, sắc độ riêng để nhà thơ bộc bạchnhững xúc cảm vui buồn, suy tư cá nhân gắn với dòng chảy thời cuộc

Trang 21

Bằng hình tượng nghệ thuật, thời gian đi vào thơ có thể “co dãn” theo cảmnhận chủ thể sáng tác Nhà thơ có thể cho thời gian trôi nhanh đi bằng cách dồn nénlàm cho khoảng một thời gian dài chỉ “trôi qua” qua một câu thơ ngắn mà hiện hữu

cả thời cuộc bể dâu Khi Nguyễn Bình Khiêm suy ngẫm: Được thời thân thích chen chân đến/ Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi (Bài 49 - BVQNTT), nghĩa của “thời” và

“thế” đã trở thành thời cuộc trong sự biến thiên của dòng chảy thời gian, nghĩa làtriết nhân đang suy nghiệm đến thói đời đen bạc ở con người trong dòng chảy nhânsinh nặng màu nhiễu nhương của thế cuộc…

Thế giới tự nhiên không phải là sự tồn tại vật chất lạnh lùng khô cứng, không

có mối quan hệ với con người mà ngược lại nó tồn tại trong sự thấm đẫm tinh thần

và tình cảm của con người Những thời khắc của vạn vật ngày, đêm, tuần, tháng,bốn mùa, hay thời khắc cuộc đời con người đều có thể gửi gắm vào thơ để bày tỏtình cảm thân thiết, hay đôi khi xa cách thì mượn thơ để ngụ ý tình ai oán Conngười cảm nhận thời gian bằng nhịp đi của bốn mùa, của cỏ hoa, cây lá, của tuầntrăng, con nước Chính những hình ảnh như vậy đi vào văn chương, được xem làtín hiệu thẩm mỹ chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa thế giới tự nhiên và con người.Mọi hoạt động của con người không thể tách rời với thiên nhiên Thiên nhiên là bạn,

là chứng nhân cho những khoảnh khắc “hỉ, nộ, ái, ố” của cuộc đời con người Tìm

hiểu về thời gian nghệ thuật trong văn học cũng là một cách để giải mã những bí ẩngiữa con người với tự nhiên trong sự hài hòa mật thiết

Thời gian nghệ thuật trong văn học nói chung, trong sáng tác thơ trung đạinói riêng không đơn giản là việc xác định những khoảnh khắc, những thời điểmdiễn tiến sự việc mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể hiện quan

niệm, nhận thức và cảm xúc của tác giả trước dòng chảy thời gian Theo Từ điển thuật ngữ văn học, định nghĩa: “Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của

con người trong thế giới (…) Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời giancủa con người trong từng thời kỳ lịch sử, trong từng giai đoạn phát triển, nó cũngthể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trongthế giới” [36; 273] Trong thế giới nghệ thuật, thời gian, không gian nghệ thuật xuất

Trang 22

hiện như một hệ quy chiếu có tính tiêu đề được dấu kín để miêu tả đời sống trongtác phẩm Từ đó, cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả thể hiện trong tác phẩm khá

rõ Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bêntrong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệthuật trong lịch sử Thế giới nghệ thuật cùng các chiều kích của dòng chảy thời gianbiểu hiện trong sáng tác của người nghệ sĩ được khám phá cũng có nghĩa là gópphần nhận diện tâm hồn, tư tưởng tình cảm và phong cách người nghệ sĩ “ẩn tàng”trong tác phẩm ở từng thời đại khác nhau

1.1.2 Diễn tiến biểu hiện cảm thức thời gian trong sáng tác thơ trung đại

Thời gian có những ý nghĩa, chức năng nhất định trong việc thực hiện vai trònghệ thuật của mình Thời gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất vớithời gian vật lí Bản thân thời gian vật lí tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của

nó không phụ thuộc vào ý thức của con người Thời gian vật lí chỉ trở thành thờigian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và qua đó thể hiện cách cảm, cáchnghĩ của nhà văn về thế giới, trình bày quan niệm nhân sinh, thể hiện thái độ sốngtrước cuộc đời Thời gian thể hiện trong thế giới nghệ thuật mang tính chủ quan ởcách cảm nhận, miêu tả của tác giả Ở đây, tác giả toàn quyền sử dụng, tái hiện thờigian theo nhu cầu và mục đích của riêng mình mà không gặp cản trở nào Thời giannghệ thuật là một hiện tượng ước lệ trong thế giới nghệ thuật; một phạm trù trừutượng trong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết qua sự vận động, biến đổi củachuỗi các hiện tượng, sự kiện diễn ra qua “bộ lọc” lăng kính chủ quan của ngườinghệ sĩ

Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong văn học trung đại, Trần Đình Sử dẫngiải, thời gian trong văn học trung đại được nhìn nhận dưới hai khía cạnh cơ bản.Thời gian luôn gắn liền với cảm hứng lịch sử Nhà nghiên cứu nhận định, thời gianthể hiện trong sáng tác thơ ca trung đại thường là những biểu hiện nghĩ suy về thờicuộc, về dân tộc, những triết lý về lẽ thịnh suy của thời đại Tác giả chỉ ra, thời gian

biểu hiện dưới hai bình diện đối lập: thời gian vũ trụ trôi chảy vĩnh hằng và thời gian đời người ngắn ngủi chóng vánh Thời trung đại, thì tương lai là

Trang 23

phạm trù ít được quan tâm Thời gian thường hóa vào không gian Thời gian hướngcon người chú ý về quá khứ vì nó trôi nhanh, bốn mùa đến rồi đi vẫn là bốn mùa ấy.Một mặt trăng trên trời có thể chiếu muôn nơi và mọi thời điểm cả quá khứ, cảtương lai, thống nhất mọi sự trong một thời gian bất biến, vũ trụ Ví như trong thơThiền, thời gian là một loại “vô thời gian”, bất biến thường trụ vì nó không sinh,không diệt Thời gian được hiểu như dòng chảy trôi xuôi, bất biến, không tự sinh vàkhông tự mất.

Như đã biết, thơ ca trung đại buổi đầu là sáng tác của các nhà sư, về sau làcác nhà Nho Người xưa phụ thuộc vào thiên nhiên, bởi thiên nhiên là quy chuẩncủa cái đẹp, nên họ dễ dàng đồng nhất hóa thế giới thiên nhiên với thế giới conngười Họ giải thích các hiện tượng mà họ thấy được bằng quy luật vận động củathế giới tự nhiên Ví như, sự xuất hiện của sao chổi được xem là tín hiệu về xã hộiloạn lạc hay nhật, nguyệt thực xuất hiện là dấu hiệu của vua chúa băng hà, Thơ catrung đại có xu hướng bất tử hóa thời gian lịch sử gắn với những chiến công hiểnhách trong công cuộc chống ngoại xâm vĩ đại Thời gian lịch sử trong thơ thời Trầnphần lớn được thể hiện theo kiểu thời gian không gian hóa, tính bất biến của lịch sửhóa thân vào dấu tích, đền đài lịch sử Trong thơ, các dấu tích lịch sử được cảmnhận cũng như tồn tại trong hiện tại trong không gian Phạm Ngũ Lão từng nhắc đếnchí nam nhi trước tiền nhân Khổng Minh: “Công danh nam tử còn vương nợ/ Luống

thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” (Thuật hoài) Đó là cách bày tỏ chí khí bằng việc đặt

mình vào thời điểm như là người cùng thời để bày tỏ Cùng với cách diễn đạt theothời gian lịch sử, Đặng Dung từng nhắc đến “đồ điếu” tích Hàn Tín câu cá và PhànKhoái làm thịt chó: “Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”

(Cảm hoài) Nói chuyện về người xưa mà không hề thấy chuyện của xa xưa, chỉ

thấy tâm trạng, nỗi niềm của người anh hùng lỡ vận đương cuộc Cũng với cáchnhìn thời gian chiếu ứng với lịch sử, nhà vua Trần Minh Tông đứng trước dòng sôngBạch Đằng hiển hiện trong ánh chiều màu đỏ ối, thời khắc hiện tại đã ngưng đọngtrong thời khắc lịch sử chiến trận với dòng sông đỏ màu máu của một thời chiếntrận: “Nước dòng sông chiếu bóng mặt trời đỏ ối/ Tưởng máu người

Trang 24

chết trận chưa khô” (Bạch Đằng giang) Lịch sử hiện ra trong cảm thức của đấng

minh quân như một niềm tự hào về chiến công hiển hách hay một bài học lịch sửđắc giá trường tồn trước dòng chảy cuộc đời Trong niềm vui dạt dào cùng với niềmkiêu hãnh tự hào về non sông đất nước, về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, vịtướng tài ba Trần Quang Khải hân hoan hào sảng trên đường Phò vua về Kinh:

Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù.

Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu.

(Tụng giá hoàn kinh sư - Bản dịch của Trần Trọng Kim)

“Vạn cổ thử giang san”! Non nước ấy nghìn thu thực sự là cảm khái hân

hoan tự hào trước giang san thái bình của một vị tướng tài Vạn cổ - “Nghìn thu” làthời gian vĩnh hằng bất biến, nó được gắn liền với không gian hóa gắn với những

chiến công hiển hách, với tên tuổi những trận đánh oanh liệt Chương Dương, Hàm

Tử của lịch sử cha ông, biểu trưng cho tinh thần dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ, một giá

trị vững bền luôn được huy động bởi hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc

Thời gian không chỉ đọng lại ở những thời điểm vang danh chiến công oanhliệt, thời gian còn cảm nhận qua những ưu tư trước sự suy vi của thời cuộc Đó làthời gian hoài niệm, suy tư trước sự biến thiên của thời cuộc mang nỗi niềm tiếcnhớ về một quá khứ vàng son, trăn trở đau đáu của những con người trí thức muốnđược cống hiến, muốn được trọn dâng cuộc đời cho xã tắc nhưng bất lực chỉ biếtnhìn lịch sử xoay vần biến đổi đành chịu bất lực trước sự suy thoái của lịch sử Mặc

dù thơ trung đại chủ yếu đề cập đến những vấn đề lớn lao của thời đại, nhưng bảnchất thơ ca là sự bộc lộ thế giới nội tâm, nội cảm Đứng trước không gian, thời gian

vô tận, đối diện với thế giới khách quan, con người trung đại nhận ra sự nhỏ bé, hữuhạn trong cái bao la trường cửu của thời gian vũ trụ Chu Văn An cảm hứng trước

vẻ đẹp thanh nhã trong một thời khắc tĩnh tại ở núi Chí Linh đã nhận ra sự ngưngđọng của thời gian:

Trang 25

Núi xanh muôn lớp họa bình che

Ác xề soi lên rạng nửa khe.

Bụi rậm đường sâu người vắng vẻ Trong mây chim khách gọi le te Trong cảnh sắc thời gian người ngừng trôi.

(Cảm hứng núi Chí Linh)

Thời gian hiện hữu trong thơ ca ngoài mang nghĩa diễn tiến của dòng chảycòn là hình ảnh thể hiện cái hữu hạn của đời người trong cuộc sống Người nghệ sĩmượn hình ảnh thời gian trong nhiều chiều kích khác nhau để diễn tả tính chất tồntại của cá nhân, cá thể của kiếp người Thi nhân không quên khẳng định sự tồn tạicon người trước thời cuộc, trước vòng xoáy của thế sự Bản chất của thơ ca là “khởiphát từ tình” Người nghệ sĩ vốn rất mẫn cảm với cuộc đời Đối diện với thế giớikhách quan, người xưa thường thấy mình thật nhỏ bé giữa không gian rộng lớn, bao

la Khi Nguyễn Trãi ngẫm suy: “Kim cổ vô cùng và anh hùng hữu hạn” là tiền nhân

đã nhận ra sự tồn tại hữu hạn của đời người trước vô hạn của vũ trụ để khẳng địnhtính chất tồn tại của cá nhân, cá thể con người trước vũ trụ

Kéo dài gần mười thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong tính quyphạm chặt chẽ Song, sáng tác nghệ thuật là tiếng lòng của người nghệ sĩ vốn mangyếu tính cá nhân nên trong những khuôn phép chuẩn phạm của nghệ thuật vẫn bậtlên những sáng tạo cá nhân nhất định Thời trung đại, phần lớn các nhà Nho cũng lànhững người nghệ sĩ luôn biết cân bằng tĩnh tại đời sống tinh thần Lúc ở triều quanthì dấn thân nhập cuộc với cả tấc lòng, khi “sóng gió” thất thường lại tìm về “hạcrừng vượn núi” an nhiên với thái độ chấp nhận và bình thản Tức là người nghệ sĩnhà Nho đã tìm về thời gian sinh hoạt đời thường với những thú vui nhàn tản.Người nghệ sĩ khi đã đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối của tâm hồn, quên hết nỗi ámảnh của cái chóng vánh kiếp người, sống an nhiên tự tại với những thú vui thanhnhã Nguyễn Trãi đến với: “đêm hớp nguyệt”, “ngày xem hoa”, “đêm xem bóngnguyệt”, “ngày nhàn mở sách” “ngày xuân chấm câu”…; Triết nhân Nguyễn BỉnhKhiêm lại tìm về: “Khúc văn thơ đọc đời

Trang 26

Nghiêu Thuấn/ Khúc thái bình nhờ chúa Vũ Thang” (Bài 90 – BVQNTT), “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Bài 32 – BVQNTT)…;

Nguyễn Khuyến sau những đau đáu với thời cuộc “Năm canh máu chảy đêm hèvắng/ Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ” cũng tự tìm về “vườn Bùi chốn cũ” với

tam khúc thu ca: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm… Đó chính là thời gian sinh hoạt đời

thường, gắn với bao thế sự diễn ra đi vào trong tâm trạng xúc cảm của mỗi nhà Nhonghệ sĩ khi muốn làm một dật dân, đặt mình ngoài thế cuộc

Văn học nói chung, thơ ca nói riêng dù ở thời kỳ nào, trung đại hay hiện đạicũng đều tồn tại bản ngã, tồn tại con người cá nhân, cá thể Chỉ có điều, tùy vàoquan điểm, tư tưởng của từng thời đại lịch sử có những quy phạm nhất định Ở xãhội hiện đại tự do, cởi mở hơn về những quy phạm sáng tác, người nghệ sĩ có mộtthế giới nghệ thuật thông thoáng để tự do sáng tạo, cái tôi trữ tình có thể “vùngvẫy”những cung bậc cảm xúc của mình Xã hội phong kiến thời trung đại có nhữngđặc trưng quy định nghiêm ngặt, chuẩn mực, lề lối kinh điển trong sáng tác nghệthuật khiến người nghệ sĩ dù muốn “bung tỏa” không phải là dễ Do đó, trên cái nềnyêu cầu chung, họ phải tuân chuẩn theo những khuôn định bắt buộc Song, nghệthuật lại luôn gắn với yêu cầu sáng tạo Điều đáng quý là mặc dù chịu sự chi phốicủa các đặc tính quy phạm, chuẩn mực, tâm hồn nghệ sĩ các thế kỷ thời trung đạivẫn có những “phi chuẩn” phá cách; biết yêu, say, rung động trước vẻ đẹp của thiênnhiên, cuộc sống và con người; biết sống bằng những cảm xúc riêng tư từ trongthẳm sâu con tim mình Ngoài những lúc hướng về “khuôn vàng thước ngọc”, ngườinghệ sĩ vẫn tự tìm cho mình một con đường sáng tạo, lưu lại dấu ấn để cái tôi cánhân, cá thể lên tiếng Tuân chuẩn theo hệ thống thi pháp trung đại, người nghệ sĩthời trung đại vẫn không ngừng sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã đểkhắc họa “cái tôi” trong dòng chảy thời gian qua những tìm tòi, thể nghiệm sáng tạo

cá nhân Vì thế, sự phá cách, vượt chuẩn trong sáng tạo nghệ thuật cũng là lẽ đươngnhiên trong sáng tác thơ ca thời trung đại

Nếu lấy những quy tắc, điển phạm trong mỹ học phong kiến làm tâm thì cóthể xem có hai dòng văn học “hướng tâm” và “ly tâm” cùng tồn tại trong mười thế

Trang 27

kỷ trung đại Việt Nam “Dòng văn học hướng tâm” hướng về con người cộng đồng,con người quân quốc… mang lí tưởng “trí quân trạch dân”, mang khát vọng xâydựng một xã hội Nghiêu Thuấn và “Dòng văn học ly tâm” gắn với hình ảnh conngười cá nhân có dịp bứt phá, quẫy đạp bằng một cái tôi mạnh mẽ, phóng khoáng.Lịch sử văn học Việt Nam đã chứng minh khi “Dòng văn học ly tâm” phát triểnmạnh mẽ về sau (từ thế kỷ 16 trở về sau) thì tiếng nói nghệ thuật đích thực nở rộ với

sự xuất hiện những tác gia văn học lớn mang đậm ý thức cá nhân gắn cái tôi khá rõ.Những kiệt tác thơ ca để đời của những nhà Nho uyên bác như Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… phần lớn được sáng tạo trongnhững giây phút ly tâm của tâm hồn họ Những trạng huống bức xúc, những cảnhngộ dễ khơi gợi niềm trắc ẩn trong tâm hồn nghệ sĩ… sẽ là lúc bột khởi những rungđộng nghệ thuật đích thực, từ đó khởi động bao suy cảm cá nhân

Văn học trung đại ở các thế kỷ về sau, cảm thức trước thời gian đã đượcngười nghệ sĩ chiêm nghiệm, suy tư Họ ý thức “phận người” trước thực tế; họ cảmsuy tuổi tác, sự sống và cái chết trước thời gian; họ nhận ra sự bất lực của con ngườitrước dòng chảy thế cuộc… Từ đó, người nghệ sĩ hướng cảm xúc về ý thức cá nhânvới cuộc đời khá mạnh Những khái niệm: “tiếc xuân”, “thương thân”, “tiếc thân”,tiếc tuổi trẻ chóng tàn trước dòng thời gian vô tình trôi chảy đã được đề cập nhiềutrong nguồn thi hứng của các nhà Nho trung đại Thời gian mang xúc cảm cá nhân

làm nảy sinh các dạng đề thơ: Thương xuân, Tiếc xuân, Tiếc cảnh, Tự tình, Thuật hứng…; Các chủ đề để nhà thơ bộc bạch nuối tiếc như: sinh không gặp thời, nhân sinh như mộng, trần như mộng, mơ giấc Hòe an, (“Đời mấy tuổi thanh niên”,

“đầu bạc tuổi già”, “Quốc thù chưa trả đầu đã bạc”, “Tiếc thiếu niên qua”, “Tiếcxuân”, “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” …) Cảm hứng này thể hiện khá rõ trongthơ Trần Nguyên Đán, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,…

Càng về sau, thơ ca trung đại đã đánh dấu bước chuyển mình rực rỡ về ýthức cá nhân trong sáng tác ở các thế kỷ sau, khi mà ý thức cá nhân trong văn họcđược khẳng định ở bình diện ý thức về sự tồn tại cá thể, cá nhân rất rõ trước khônggian, thời gian Khi xã hội đã có nhiều biến đổi, giá trị vật chất đã được thừa nhận

Trang 28

và hơi “đồng tiền” đã bén mùi trong cuộc sống Nguyễn Bỉnh Khiêm từng nhận ra

sự biến cải thế nhân trước thời gian “biến cải”: “Thế gian biến cải vũng nên đồi” vớicác sắc màu mùi vị của thế nhân nếm trải: “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” Theo

đó, các giá trị đạo đức, ứng xử của con người cũng theo sự đổi thay của thời gian

mà biến đổi để nâng lên thành một khái quát triết lý “thói đời” về lẽ “còn/ hết”,

“khôn/ dại”, “được/ thua”, về giá trị con người và của cải đầy chua chát: “Còn tiềncòn bạc còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”; “…Mới hay rằng của nặng hơnngười” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Đến thế kỷ sau, trong dòng suy cảm thời gian là mộtchuỗi tàn tạ, phôi pha, chóng vánh, đại thi hào Nguyễn Du cảm nhận được sự nhỏnhoi của con người trước thời gian: “Gió thu xế bóng lòng quá rộng/ Nước chảy

mây bay nghiệp bá mờ” (Trông vời nước Sở) Bao trùm trong kiếp nhân sinh “trăm

năm trong cõi người” là một cảm thức không gian buồn quạnh, thời gian tàn tạ, phôi

pha Đối với Nguyễn Du các đơn vị đo thời gian như năm, tháng, ngày, trăm năm, nghìn thu… không chỉ là biểu hiện dòng chảy thời gian tuyến tính mà còn mang ý

nghĩa sâu sắc là sự đổi thay nhanh chóng, thê lương bao trùm cả không gian tàn tạtrong tâm cảm nhà thơ

Cảm quan thời gian của thi nhân thể hiện trong sáng tác thi ca đã có nhiềuthay đổi, diễn tiến hướng sâu vào những suy cảm cá nhân nghiêng về thân phận kiếpngười giữa dòng đời thế cuộc Khác với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du thường đặt thờigian trong sự “hối đầu”, “ngoảnh lại”… trong nỗi niềm tiếc nhớ, nhà Nho NguyễnCông Trứ thay đổi thái độ cảm nhận trước dòng chảy thời gian, ông coi trọng thờihiện tại và quan niệm tận hưởng những gì đang hiện hữu trong kiếp nhân sinh:

“Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày” Ông tìm cách làm chủ thời gian, hiểu sự huyễn

hoặc của đời người qua cảm nhận cái nợ trần ai - Nợ phong lưu: “Năng đắc kỉ thời khai khẩu tiếu/ Cư chư toàn phụ thử quang âm” (dịch nghĩa: Dễ được mấy lần mở miệng cười/ Lần lữa là phụ với thời giờ) Nhà Nho đề cao giá trị của sự hưởng thụ

tức thời Thời gian trong cảm nhận của ông thường đóng khung ở thì hiện tại, ông

hô hào đừng “lần lữa” với thời gian: Chơi xuân kẻo hết xuân đi.

Trang 29

Từ thế kỷ XVIII trở đi ý thức về cái tôi cá nhân càng phát triển mạnh mẽ.Đặng Trần Côn để người chinh phụ khắc khoải nhìn thời gian trôi: “Nghĩ mệnh bạc,tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng”, để rồi khát vọng về ý thức sốnghạnh phúc trên thế tục “kiếp này” được vươn lên mạnh mẽ, quyết liệt:

Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.

(Chinh phụ ngâm)

Thương thân, tiếc thân, xót thân “Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”, lo sợtuổi xuân chóng tàn, Hồ Xuân Hương, sau nhiều lần “Tự tình” trong những đêmthâu “Trơ cái hồng nhan với nước non”, nữ sĩ đa truân này không chỉ ưu tư trướcthời gian mà tìm cách “kéo” dòng chảy hiện tại đang trôi qua một cách bất lực vì lo

sợ tuổi xuân chóng tàn: “Tài tử văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom”

(Tự tình – Hồ Xuân Hương).

Yếu tố cảm thụ cá nhân đã làm cho thời gian trong thơ đa dạng và biến đổi rõnét Đến thế kỷ XIX, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương đã định hình cảm thức thờigian gắn với cái tôi cá nhân rất rõ “Cái tôi” trữ tình mang nỗi buồn đau nhân thế,khắc khoải với đời của Nguyễn Khuyến đã thể hiện sâu sắc trong những vần thơmang nỗi niềm cô đơn trước thời gian đến nao lòng Một mình than thở, một mìnhngắm trăng, một mình uống rượu, ngắm hoa trong đêm vắng , Nguyễn Khuyếnnhư trút cả tâm trạng của mình vào thơ Có bi kịch nào hơn khi chính mình cũngkhông còn nhận ra mình trước thời gian: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/

Ngàn năm bay hạc, tớ là ai ?” (Muộn) Còn cô đơn nào hơn khi giữa dòng đời trôi

chảy, “ta” chẳng nhận ra ta - “tớ là ai”! Cười cợt vào thói đời, chửi mắng vào xã hộiđánh mất đạo lý, giễu cợt vào loại người “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”…,Ông Tú thành Nam – Trần Tế Xương vẫn không giấu được tiếng lòng “day dứt” về

thời cuộc: Có đất nào như đất ấy không? Còn biết chất vấn, tự vấn…, là con người

còn biết lắng nghe và quan tâm theo dõi cuộc đời Tú Xương vừa được cất lên tiếngcười chua chát đã buông tiếng thở dài não nuột của nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc

bỉ bôi Bên cạnh một con người tưởng như bất cần, ngông ngạo, ông Tú vẫn luôn

Trang 30

sâu lắng những cảm xúc trữ tình da diết trược hiện thực cuộc sống với mảng màutăm tối Ăn chơi đủng đỉnh: “giày Tây anh vận, ô Tây anh cầm” vậy mà lắm lúcÔng Tú cũng trăn trở suy tư về một hiện thực dòng chảy thời gian không lối thoát:

Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho.

(Ðêm dài)

Nhà Nho cuối kỳ với ý thức cá nhân mạnh mẽ trước thời cuộc “đen tối” đãday dứt khôn nguôi về sự bất lực của mình, trăn trở về một hiện thời biết bao giờtươi sáng

Cùng với không gian hiện hữu, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là “hìnhthức nội tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” Các kiểuthời gian qua “bộ lọc” xúc cảm và tri nhận của người nghệ sĩ đã được định hìnhthành những cảm thức riêng trên cái nền chung của nghệ thuật thời trung đại.Những kiểu cảm nhận thời gian nghệ thuật trên xuất hiện trong thơ ca trung đại ViệtNam, chủ yếu trong thơ của các nhà Nho Thông qua một loại hình nghệ thuật ước

lệ in đậm nét cảm nhận chủ quan của nhà thơ trước dòng chảy thời gian, cảm thứcthời gian của người nghệ sĩ tồn tại trong thơ thể hiện khá rõ Các hình ảnh nghệthuật ấy được đo bằng những thước đo khác nhau bằng sự suy nghiệm trước vũ trụ,nhân sinh, bằng sự lặp lại đều đặn của các hoạt động đời sống được ý thức: sự sống,cái chết, gặp gỡ, chia tay…mùa này, mùa khác, sự biến cải bể dâu… đã tạo nên đặctrưng riêng trong từng sáng tác qua cảm nhận của người nghệ sĩ ở những thời đạikhác nhau Cảm nhận về thời gian của mỗi thi nhân không hoàn toàn giống nhau, nóphụ thuộc vào từng chặng đường đời, từng thời đại lịch sử biến động và cảm quanthẩm mỹ khác nhau của mỗi cá nhân Trong diễn tiến mười thế kỷ văn học trung đạiViệt Nam, cảm thức thời gian trong sáng tác thơ ca của các thi nhân đã có nhiềuchuyển biến Càng về sau, ý thức về con người cá nhân trong dòng chảy nhân sinhcủa người nghệ sĩ càng thể hiện rõ nét

Trang 31

1.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian nhà thơ trong BVQNTT

1.2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thời đại chi phối cảm quan thẩm mỹ nhà thơ

Lịch sử dân tộc Việt Nam không thể phủ nhận vai trò đóng góp trên nhiềulĩnh vực và những thành tựu văn chương to lớn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi lại chohậu thế Riêng ở lĩnh vực văn chương, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tên tuổi lớn củanền văn chương trung đại Việt Nam thế kỷ XVI, đồng thời là một trong những tácgia tiêu biểu của văn học viết dưới thời phong kiến Sáng tác của Nguyễn BỉnhKhiêm đã ghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam,

là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học - thời đại Nguyễn Trãitrước đó và thời đại Nguyễn Du sau này

Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nhỏ rất thông minh, hiểu cả chính văn, kinh truyện,

có tài văn chương Văn tài học hạnh của cha mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc tới NguyễnBỉnh Khiêm Ngay từ khi còn nhỏ, môi trường giáo dục của ông cũng rất thuận lợi,đầy đủ và tốt đẹp Tiếc thay, thời đại xã hội với nhiều biến động đã không tạo điềukiện để Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể dốc hết tài năng và thực hiện hoài bão của mình.Thời đại đi tìm “minh chủ”, “chân chúa” để phụng sự những vua sáng, tôi hiền đãthuộc về thế kỉ XV, đã trở thành vấn đề của lịch sử Tuổi niên thiếu của NguyễnBỉnh Khiêm ứng với thời kỳ cuối nhà Lê suy yếu Thực tế là những cuộc đấu tranhgiành quyền vị diễn ra gay gắt, triền miên Trước bối cảnh xã hội loạn lạc, kinh tếđình đốn, chính trị đầy biến động, phe phái hỗn loạn…, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn

cư dạy học và tiếp tục học Đầu thế kỷ XVI xã hội đầy loạn lạc Mâu thuẫn gay gắtgiữa vua – quan – dân thời Lê sơ dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân; mâuthuẫn trong nội bộ vua – quan dẫn đến chiến tranh phe phái giết hại lẫn nhau Cácdân tộc thiểu số ở đầu nguồn Thái Nguyên, Tuyên Quang nổi dậy chống Triều Lê ởđầu thế kỷ XVI Suốt thời gian này, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chỉ học, quan sát,chiêm nghiệm cuộc đời Mãi cho đến sau khi xảy ra cuộc “thay bậc đổi ngôi” năm

1527, Mạc Đăng Dung phế truất Lê Xuân, xưng vua, lập nên vương triều Mạc vàsau ba năm nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, những năm về sau được xem

là lúc thịnh vượng nhất của triều Mạc dưới sự điều hành của ông vua Mạc

Trang 32

Đăng Doanh và Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung, chính vào thời điểm này,Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định nhập thế Ông ghi tên dự kỳ thi Hương năm GiápNgọ 1534, khi ở tuổi 44.

Đi qua gần suốt thế kỷ XVI, thọ 95 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm gần như thamgia và chứng kiến mọi biến cố thời đại trong xã hội Việt Nam thế kỷ XVI LàmThầy dạy học, đậu Trạng nguyên thi thố với đời, làm quan chưa được tám năm,chán ngán cảnh quan trường dâng sớ xin chém 18 lộng thần không được, ông xin vềtrí sĩ tại quê nhà, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ Có thể nói, cuộc đời ông đã trải quanhiều sự biến lịch sử, nhiều vị thế cao thấp khác nhau Chính những trải nghiệmtrong từng giai đoạn thăng trầm thế cuộc ấy đã giúp nhà Nho đúc rút được nhiềuđiều suy nghiệm khái quát mang tính triết lý về nhân sinh thế sự với mọi sắc tháiđen bạc của “Thói đời”

Triều Mạc thay triều Lê mang đến nhiều thay đổi hàng loạt về tư tưởng, vănhóa, kinh tế xã hội Triều Mạc lên, một tầng lớp bình dân – dân chài mới leo lênngôi quân chủ mới, vua quan mới và chưa đề xuất được hệ tư tưởng gì mới mẻ.Chưa biết lấy gì thay được Nho giáo tuy là nhà Mạc đã thấy được mô hình quân chủNho giáo là bế tắc Nhà mạc đành dùng Nho nhưng không quá khắt khe với các hệthống phi Nho như thời Lê sơ Tình hình tư tưởng trong triều ngoài nội đở “nghẹtthở” hơn thời độc tôn Nho giáo Lê sơ

Về kinh tế, văn hóa thời Mạc có nhiều cách nhìn “phóng khoáng” hơn.Không quá cứng nhắc theo Nho, nhà Mạc cũng không cứng nhắc “trọng nông ức

thương” Thương nghiệp nhà Mạc phát triển theo hướng mua bán, trao đổi, chợ búa, vùng miền… Tiền được đúc nhiều, chợ mở rộng sang các thị trấn vùng miền

giáp ranh Thời đầu nhà Mạc, thủ công nghiệp được kích thích phát triển, nhất lànghề gốm sứ Lò gốm sứ được khuyến khích mở nhiều trong nước và phục vụ choxuất khẩu Vì thế, tầng lớp công thương cũng trở nên đông đảo và giàu có hơntrước Trần Quốc Vượng khi nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trongbối cảnh văn hóa Việt Nam thế kỷ XVI đã nhận định: “Nhiều đồ gốm thời Mạc cóghi niên hiệu sản xuất, tên người đặt hàng, tên người sản xuất, nơi sản xuất… phản

Trang 33

ánh chừng nào sự tôn trọng quyền con người, quyền cá nhân mang tính nhân văn tiền tư bản (…) Rõ ràng, đầu thời Mạc có an ninh và phát triển” [61; 81] Như vậy,

với nhà Mạc, đã bắt đầu có những tiền đề vật chất và tinh thần cho một sự cải biến

có thể là cơ bản cho xã hội Việt Nam Vai trò của đồng tiền đã có tác dụng mạnhtrong xã hội, làm đảo lộn nhiều giá trị đạo đức văn hóa theo Nho giáo Với nhiềutrải nghiệm trong chính cuộc thế đầy biến đổi đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm mộtvốn hiểu biết thực tiễn vô cùng rộng lớn, sâu sắc và rất uyên thâm Không chỉ cóvốn kiến thức đồ sộ, uyên bác từ kết quả của tháng năm sách vở nơi “Cửa Khổngsân Trình”, ông còn là người tài năng nhiệt huyết biết lắng nghe, quan sát và chínhkiến sâu sắc trên đường thực thi lí tưởng Dù không có cái may mắn được đem hếttham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, song ở ông luôn toátlên sự uyên bác thâm nghiêm của bậc đại sư bao người kính cẩn Ông là “vàngmười” trong cảnh đời đen bạc của xã hội phong kiến thế kỷ XVI Trong thơ NguyễnBỉnh Khiêm, bức tranh hiện thực xã hội thời đồng tiền bắt đầu phát huy vai trò tácdụng lớn lên ngôi khá rõ ràng với mọi sắc thái cảm xúc của một triết nhân từngchiêm nghiệm Ông khẳng định chân giá trị của thời đại: “Đời nay nhân nghĩa tựa

vàng mười/ Có của thì hơn hết mọi lời” (Thơ Nôm, Bài 74); và chua chát nhận ra:

“Người của lấy cân ta thử nhắc/ Mới hay rằng của nặng hơn người”! Mọi sự đảo lộntrong thế cuộc, các giá trị luân thường đạo lý đã không còn được tôn trọng trước sứcmạnh của đồng tiền: “Còn tiền còn bạc còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”

(Thơ Nôm, Bài 71) Ông không ngần ngại để kết luận: “Đồng xú nhật lưu tinh” (Hơi đồng ngày càng tanh) (Cảm hứng, tam bách cú) Việc “xuất - xử”, ẩn cư hay ứng thí

giúp đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn chủ động bảo toàn danh tiết và chí khí Nhận

thấy thời cuộc xã hội Hơi đồng ngày càng tanh, ông trở lại quê nhà có điều kiện để

sống cuộc đời thanh bạch giản dị Tuyết Giang phu tử trước sau vẫn là bậc thầy caokhiết Việc ông khuyên bảo tập đoàn phong kiến như nhà Mạc hay Lê mục đích làtìm cách hòa hoãn những xung đột, tạm thời giảm bớt những đau khổ cho ngườidân Ông từng mơ nhiều về một xã hội “Dân Nghiêu Thuấn, vua Nghiêu Thuấn”,nhắc nhiều đến “Ngày Nghiêu Tháng Thuấn” là có lý do Sách vở Thánh hiền cùng

Trang 34

với tháng ngày sống gần gũi với nhân dân lao động đã in đậm trong ông Nguyễn

Bỉnh Khiêm từng viết: “Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ” (Cao khiết ai là kẻ sĩ trong thiên hạ), câu thơ như lời tự hỏi, tự trả lời và tự khẳng định Những cuộc tranh

giành ngôi vị, những cảnh loạn lạc đao binh, những ứng xử phân chia sang hèn…của mọi “thói đời” trong xã hội gần như đã lộ diện Nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêmnhiều lần cất tiếng hỏi: “Đời nào phải Đường Ngu vũ trụ”, “Non sông nào thuở bìnhthời”… Những câu hỏi đặt ra là một sự chiêm nghiệm thời biến “đời nào”, “nàothuở” như một sự day dứt khôn nguôi về thế cuộc Nguyễn Bỉnh Khiêm sống vàhoạt động trong thời đại có nhiều biến động của lịch sử Việt Nam Chính trong bốicảnh lịch sử - xã hội này đã tác động mạnh đến cảm quan sáng tác nghệ thuật củaông Cả cuộc đời, lớn lên, sống và làm việc dưới các triều đại, chứng kiến xã hội trảiqua mọi biến thiên, đổi thay, nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi lại quãng đườngđời đã qua bằng những vần thơ đầy suy nghiệm mang tư duy lý tính

1.2.2 Sự ảnh hưởng cảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước

Thế kỉ XVI ghi nhận bước phát triển của thơ Nôm Đường luật với Bạch Vân quốc ngữ thi tập (BVQNTT) của Nguyễn Bỉnh Khiêm So sánh với hai tác phẩm thơ Nôm Đường luật thế kỉ XV (QÂTT của Nguyễn Trãi và Hồng Đức QÂTT), quy mô

số lượng của BVQNTT không bằng Nhưng không vì thế mà dung lượng phản ánh của tác phẩm BVQNTT bị hạn chế Đến BVQNTT, tầm khái quát nghệ thuật của thơ

Nôm Đường luật được nâng lên một tầm cao mới Đề tài, chủ đề dân tộc trong

BVQNTT không đậm nét như trong thơ Nôm thế kỉ XV Nổi bật trong thơ Nôm của

Nguyễn Bỉnh Khiêm là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội Tư duy thế sự,tính chất triết lí trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông

gần “triết” và xa “thơ” hơn so với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Mặt khác, chất thế sự trong thơ đã đưa BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận cuộc sống vừa

cụ thể, sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn Ở BVQNTT, Nguyễn Bỉnh

Khiêm đã phát họa hiện thực cuộc sống đa dạng với các nghịch cảnh chua chát củathế sự nhân sinh trong dòng biến cải của cuộc thế nhân tình

Trang 35

Dùng thơ Nôm Đường luật để trào phúng, manh nha có từ Nguyễn Trãi Đến

Hồng Đức quốc âm thi tập, hiện tượng này rõ nét hơn Tới Nguyễn Bỉnh Khiêm,

chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳng định Bên cạnh hìnhảnh một nhà Nho đạo đức mực thước, một triết gia lớn của thời đại, một bậc thầyđầy uy vọng, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mang bóng dáng thư thái thanh nhàn của mộtdật dân thích thảng nhìn thứ cuộc ưu du Điều này in đậm trong sáng tác nghệ thuậtcủa ông khá rõ Thể hiện trong những vần thơ chữ Hán là cảm hứng chứa channhững “Cảm tác” sâu lắng của nhà Nho “ưu thời mẫn thế” trước thời đại đầy biến

động, ở BVQNTT lại ăm ắp những nghịch cảnh chua chát của “Thói đời” đen bạc

giữa chốn nhân sinh hỗn loạn Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong những vần thơNôm, Nguyễn Trãi cũng đã nhiều lần nhắc đến “thế tục”, “cõi trần” trong cảm hứngcủa nhà Nho canh cánh tấc lòng son về ơn vua nợ nước: “Một tấc lòng son còn nhớ

chúa/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”(QÂTT) Trong thơ tiếng Việt Nguyễn Trãi, “thế tục” được nhắc đến sẽ là cảnh quê, núi quê, người quê… với tất cả những

hình ảnh gần gũi, thân thuộc, bình dị Sự xuất hiện hình ảnh bức tranh Việt Nam nơithôn dã trong thơ Quốc âm góp phần làm nên nét độc đáo cho thơ ca cổ điển Trongbức tranh thôn dã đậm màu dân tộc ấy, ta bắt gặp hình ảnh thiên nhiên đặc sắc củanông thôn Việt Nam Nói như Lã Nhâm Thìn: “Có thể tìm thấy một cuốn bách khoatoàn thư về cây cỏ, muông thú, sản vật của thiên nhiên Việt Nam hết sức dân tộc vàdân dã Những vật nhỏ mọn và bình thường như bè rau muống, luống mùng, lảnhmồng tơi, cây núc nác, con niềng niễng, củ ấu, củ khoai, hạt kê, hạt đậu, con đòngđong ” [62; 64] Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, thế tục được biểu hiện trong thơ Nôm

rõ hơn qua sự hiện diện màu sắc, hơi hướng “thinh thỉnh” của đồng tiền và đời sốngvật chất đã làm biến đổi mọi giá trị đạo đức con người

Những hình ảnh lảnh mùng tơi, bè rau muống, vị núc nác vốn rất xa cách

với đời sống quý tộc, nhưng lại vô cùng gần gũi, thân thiết với nếp sống bình dân đãnghiễm nhiên đi vào địa hạt sang trọng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Khi ông đã

“lánh mình” khỏi chốn “hồng trần”, thực thụ “tiêu sái lòng ngoài thế”, về với CônSơn, thì dường như những “người bạn” bình dị nơi hương đồng cỏ nội mới thực sự

Trang 36

về bên thi nhân, bầu bạn cùng thi nhân trong mọi cảnh ngộ Những hình ảnh bìnhdân bình dị đi vào thơ Nôm đầy cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Trãi đã mở đườngcho những cảm hứng sáng tác tạm rời xa “đời sống quý tộc” với những “long-ly-quy-phượng” hay “tùng cúc, trúc mai” để đi vào địa hạt làng quê với tháng ngàydân dã cho Nguyễn Bỉnh Khiêm khá rõ Trong gần 170 bài thơ Nôm, Nguyễn BỉnhKhiêm đã dựng lại bức tranh thôn dã Việt Nam thế kỷ XVI có sự ảnh hưởng dòngcảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước.

Mỗi nhà thơ, trước tiên là con người của một đất nước, một vùng quê cụ thể

Do vậy, dấu ấn về phong cảnh quê hương, về văn hoá, về phong tục tập quán, vềnhân tình thế thái đều được phản ánh trong tác phẩm của họ Với Nguyễn Trãi,điều này càng thể hiện rõ trong thơ ông Vẻ đẹp đầy ắp sức sống của thiên nhiên đấtnước từ cuộc sống cứ tràn vào thơ ông, mang đủ sắc thái sống động, có sinh khí, thể

hiện một vẻ đẹp tự nhiên, ấn tượng: Thuyền ươm lúc nhúc thuyền đậu bãi/ Hàu chất

so le khóm cuối làng (Ngôn chí - bài 8) Sức tưởng tượng của Nguyễn Trãi thật kỳ

diệu, phóng khoáng Thi nhân thường có cách nhìn thú vị, biến cái bất động thành

cái động: Thuyền đậu ngoài bãi nhiều như những con tằm lúc nhúc, những xóm làng trong hình khối so le như vỏ hàu xếp chen nhau Cách nói thật giản dị, nôm na như

cách nói, cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Việt Nam quen với đồng ruộng,với sông nước, với dâu tằm Đó là cảm thức nông nghiệp cổ truyền của dân tộc đãthấm sâu trong huyết mạch Nguyễn Trãi, để rồi cứ thế hiển hiện trên những trangthơ Cùng với thiên nhiên, những nét bình dị của đời sống con người cũng có mặttrong thơ Nôm Nguyễn Trãi Đó là những “con lều mọn mọn”, là “hài cỏ đẹp”, là

“áo bô”, là “bữa ăn dưa muối”, là “một ao niềng niễng”, là “cái quýt choè”, là “ta”,

là “ông này” đủng đỉnh Sự xuất hiện của những hình ảnh như vậy đã làm cho hệthống thi liệu về con người và cuộc sống thế tục trong thơ Nguyễn Trãi thêm phầnphong phú, đa dạng Một mặt, nó làm rõ quan niệm, cảm hứng của nhà thơ đã mangsắc màu lý tính nghiêng về cuộc sống thế tục; Mặt khác, nó mang đến lãnh địa vănchương vốn được xem là cao nhã những sáng tạo có tính bứt phá hướng về cuộcsống dân dã đời thường để hình thành một vẻ đẹp riêng cho thơ Nguyễn Trãi

Trang 37

Ở đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã vượt qua mọi rào cản không phân biệt đẳng cấpquý tộc hay bình dân, để hướng về những thứ hoa đồng cỏ nội, hẳn phải xuất phát từmột tâm hồn đẹp, tư tưởng tiến bộ để dần hình thành nên một quan niệm thẩm mỹđầy mới mẻ, mang màu sắc dân chủ, bình đẳng.

Nguyễn Trãi đã đặt một cái mốc đáng ghi nhận, để các nhà thơ sau ông tiếp nối.Sau Nguyễn Trãi, rất nhiều nhà thơ trung đại sáng tác bằng thơ Nôm Đường luật

đã “bổ sung” vào thơ mình nhiều chất liệu thơ gần gũi, bình dị lấy từ đời sống dân dãhằng ngày và dần dần đưa đến quan niệm mang màu sắc dân chủ về cái đẹp SauNguyễn Trãi, phải đợi đến nửa thế kỷ mới lại thấy thơ Tiếng Việt xuất hiện một cách nở

rộ với hội Tao Đàn có 28 hội viên, đích thân Lê Thánh Tông làm Tao Đàn nguyên suý

(1495) Hồng Đức quốc âm thi tập với 328 bài thơ tiếng Việt của nhiều tác giả là cả

một vườn hoa đánh dấu một bước quan trọng sự trưởng thành của văn học và ngôn ngữdân tộc Trong đó, có nhiều bài thơ, câu thơ lấy từ chất liệu đời thường trong cuộc sốngdân dã, bình dị: nhiều câu thơ có nhũng từ ngữ, hình ảnh rất dung dị:

Gọi vịt từ nghe ở ngọn tre, Mới hay tiết đã báo sang hè.

Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi, Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè

(Lại vịnh Nắng mùa hè)

Sang thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp nối con đường mà Nguyễn Trãi

đã tiên phong mở lối Nếu Nguyễn Trãi hướng ngòi bút về nơi dân dã, đến với cuộcsống thôn dân bằng cảm xúc yêu mến, trân trọng thì Nguyễn Bỉnh Khiêm miêu tảthôn quê bằng cái nhìn chiêm nghiệm tư duy lý tính về nhân sinh thế sự Sự hiệndiện của nhà Nho Trạng Trình trong cuộc sống “bến”, “đèo” đã thực sự cho thấy có

sự gắn bó với cuộc sống thường nhật dân dã với một nhà Nho Những hình ảnh dân

dã ấy được đi vào thơ với sự cảm thông, gần gũi:

Cá tôm tối chác bên kia bến, Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo.

(Thơ Nôm - Bài 35)

Trang 38

Tiếp nối cảm hứng nghiêng về thế sự từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêmlại bộc lộ cảm hứng thế sự theo chiều hướng được nâng cao Không khó để nhậnthấy, ở đó có sự gặp gỡ giữa những vần thơ đậm màu sắc triết lí với một tư duy lý

tính tỉnh táo, sắc sảo Tính chất triết lí trong BVQNTT mang đặc trưng nổi bật, quán xuyến thể hiện trên nhiều bình diện nội dung: Triết lí hành đạo, triết lí thế sự, triết

lí nhàn dật…Tư tưởng nhàn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là một quan niệm

triết lí nhân sinh vừa có gốc gác ở Nho-Phật-Lão, vừa nảy sinh từ sự chiêm nghiệmđời sống chính trị, xã hội lúc đương thời Phong vị riêng của thơ Nguyễn BỉnhKhiêm cũng là ở tính chất triết lí đó Mỗi bài thơ của ông thường gắn với những ý

tứ về lẽ biến dịch, lẽ tương sinh, tương khắc, một quan niệm nhân sinh…Từ sự hiểubiết về triết lí, kết hợp với những suy tư và sự thể nghiệm triết đó trong đời sống xãhội, ông đã tìm ra một đáp số: trong dòng chảy cuộc đời, người biết sống là ngườibiết tuân theo lẽ tự nhiên, vui với đạo đời, biết số mệnh, an nhiên tự tại, lấy “nhàn”làm quan niệm nhân sinh thì yên ổn, thanh thản, có lạc thú, lánh xa thế tục nhiễunhương, thói đời đen bạc

Trong nhiều bài thơ Quốc âm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện con ngườigiàu lí trí, lịch lãm, biết thích nghi một cách hợp lí nhất để sống an nhiên, vữngvàng trong thời loạn Nguyễn Bỉnh Khiêm dường như biết giới hạn, biết kìm giữđến mức trung tính mọi sự phơi bày tâm trạng, biểu lộ cảm xúc để quan sát thậtkhách quan, đầy đủ mọi thế thái nhân tình để nghiệm ra những điều tưởng như chân

lí Chính hình thức biểu đạt ấy cùng với giọng thơ điềm tĩnh ung dung góp phầnđem lại màu sắc riêng biệt cho cảm hứng thế sự đậm chất tư duy lý tính trong thơNguyễn Bỉnh Khiêm Trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện nhiều các quan

hệ ứng xử nghiêng về thế cuộc của “thế thái nhân tình” mà trong thơ Nôm NguyễnTrãi thực sự chỉ mới điểm qua trong các dạng thức đối lập “ta” với “lòng người”

“miệng thế” Tiếp nối các biểu hiện này, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh điều “tựtại”, tức là mình tự đối diện với mình, làm chủ được mình Nguyễn Bỉnh Khiêm rất

có nhã hứng khi nhắc đến “tự tại” Tự tại là một thuật ngữ Phật giáo có liên quanđến triết lí tự do cá nhân Am hiểu triết lí nhà Phật, thấm thía đạo lý

Trang 39

Khổng Nho và Lão Trang, Nguyễn Bỉnh Khiêm biết tùy ngộ an nhiên tìm thấy lẽsống phù hợp với mình Ông hướng mình đến triết lí sống ấy, biến nó thành một thứđạo sống cho riêng mình: “Am quán ngày nhàn, rỗi mọi việc/ Dầu ai tự tại, mặc dầu

ta”(Bài 16) Với tư duy lý tính trong sáng tác thơ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm không

bộc bạch trực tiếp những xúc động mãnh liệt hay những phẫn uất cá nhân Ông cũngkhông dễ dãi bày tỏ những yêu ghét cháy bỏng, những tiếc nhớ day dứt… như trongthơ Nôm Nguyễn Trãi Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn thoát lộ một phong thái chủđộng, từ tốn, chừng mực, ung dung ngẫm ngợi và đưa đến những suy tư giàu màusắc triết lí Phong thái ấy chỉ có ở một triết nhân thông hiểu mọi biến dịch của thờithế, sâu sắc trong việc xuyên vượt cái bề ngoài của sự vật, của lòng người để nhậndiện, chiếm lĩnh chân lí ẩn chứa bên trong từng sự vật hiện tượng Nguyễn BỉnhKhiêm đủng đỉnh, ung dung, Trạng Trình cứ ưu du thích thảng Triết lí sống củaNguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lánh đời, trốn đời, mà là một cách sống lạc quan,khỏe khoắn, chủ động trước mọi biến cải cuộc đời trong phong thái ung dung tự tạiđậm chất minh triết Chính quan niệm sống đạt đến ý vị triết học đó đã tạo nên mộtNguyễn Bỉnh Khiêm khó có thể lẫn với bất kì một tác gia trung đại khác

Nguyễn Bỉnh khiêm làm thơ vào thời điểm thơ Việt Nam Hán - Nôm đã cómột hành trình năm thế kỷ Các thể loại có gốc gác từ Trung Hoa đã được tiếp thụ

và vận dụng thành thạo; thơ Nôm đã phát triển đỉnh cao Nguyễn Trãi, thể thơ

“trường đoản” tuy chưa thành một thể loại ổn định nhưng xem ra cũng đã hìnhthành được một số quy tắc khả dĩ tạo được sự khu biệt với thể luận của Trung Quốc.Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác thơ trong điều kiện thực tiễn văn học như vậy đượcxem là thuận lợi Nhưng văn học cũng như mọi sự vật trong đời sống, khi đã đạt đến

độ viên mãn thì bản thân nó lại nảy yêu cầu cải tiến, đổi thay có bước phát triểnmới Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có phong cách giống với thơ Nôm NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu trong thời kỳ ẩn dật tại quê nhà là làng Trung

Am, cũng như Nguyễn Trãi làm thơ Nôm chủ yếu trong thời kì về trí sĩ ở Côn Sơn

Có thể, chưa hẳn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự giác đi tìm những thay đổi cho nghệthuật thơ, nhưng thơ Nôm của ông quả thực đã có những ảnh hưởng từ nguồn cảm

Trang 40

hứng thế tục, chất liệu thơ Nôm của thế kỷ trước Điều này đã tạo nên nhiều nét độcđáo riêng, in đậm dấu ấn của một phong cách cá nhân trong thơ thế sự mang tư duy

lý tính của một triết nhân Trạng Trình trong suốt thế kỷ đầy tao loạn Theo tài liệu

nghiên cứu về Bạch Vân quốc ngữ thi tập – giá trị hình thức và nội dung, tác giả

Nguyễn Quân nhận định: “…Trước Trạng Trình có Tế Văn hầu Nguyễn Trãi, mộtcây bút đại thụ trứ danh trong văn học sử Việt, đồng thời cũng là một đệ nhất củabậc khai quốc công thần ở đời Lê Thái Tổ Bình sinh, Nguyễn Trãi cũng có lúc ở ẩncầu nhàn và có những bài thơ, câu thơ Nôm mở lối cho Nguyễn Bỉnh Khiêm (…)Cho nên, bảo thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của thơ NguyễnTrãi thật không phải là ngoa” [61; 514] Như vậy, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêmchịu những ảnh hưởng nhất định từ thơ Nôm ở thế kỷ trước, đặc biệt là ảnh hưởng

“rất sâu đậm” từ thơ Nôm Nguyễn Trãi trên các hình thức lẫn chủ đề, cảm hứng

1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm với tập thơ Nôm

1.3.1 Vài nét về hình thức thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bạch Vân quốc ngữ thi tập là tập thơ chữ Nôm dược Nguyễn Bỉnh Khiêm

sáng tác chủ yếu trong thời gian ở ẩn tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay thuộc

Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng) Bạch Vân quốc ngữ thi tập còn được gọi Trình quốc công Bạch Vân thi tập gồm hơn 161 bài làm theo thể thơ Đường luật và thất

ngôn xen lẫn lục ngôn, không có đề mục cụ thể, chỉ ghi số thứ tự Tất cả đều không

có tiêu đề, nhưng xét chung, các bài thơ xoay quanh một số chủ đề lớn như chủ đềtriết lí giáo huấn, chủ đề thế sự ngoài ra còn có một số đề tài nhất định: sự suy tàncủa đạo đức phong kiến, cuộc đời nhàn dật, phong cảnh thiên nhiên, ý nghĩ về bổnphận với vua tôi với sơn hà xã tắc,

Cảm hứng lớn nhất trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh khiêm

đó luôn là cảm hứng thế sự, nếu chỉ xét ở thơ Nôm Đường luật thì từ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi, cảm hứng thế sự và tư duy lý tính trong thơ Nôm Nguyễn

Bỉnh Khiêm được bộc lộ trong thơ ngày càng sâu sắc hơn, những vấn đề thế sựđược phản ánh đã gần sát hơn với cuộc sống vốn mang nhiều ẩn ức của nhà nho.Bằng con mắt tinh đời để quan sát mọi sự vật hiện tượng và dùng tư duy lý tính

Ngày đăng: 18/11/2021, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Lê Bảo… Lã Nhâm Thìn, Giảng văn văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, H., 1997, tr. 157 – 178. Bài viết của Lã Nhâm Thìn phân tích tác phẩm trung tân ngụ hứng của Nguyễn Bĩnh Khiêm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[3] Bộ Văn hóa Thông tin và thể thao – Viện Khoa học xã hội Việt Nam(1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa (Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Nxb Khoa học xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm danh nhân văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin và thể thao – Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1991
[4] Nguyễn Đổng Chi (1993), Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1993
[5] Nguyễn Huệ Chi (1986), “Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ tư duy thế sự”, Tạp chí văn học,(số 3), tr.87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhìn từ một nhân cách lịch sửđến dòng thơ tư duy thế sự”
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1986
[6] Hà Như Chi (1951), Việt Nam thi văn giảng luận, Nxb Tân Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn giảng luận
Tác giả: Hà Như Chi
Nhà XB: Nxb Tân Việt
Năm: 1951
[7] Nguyễn Nghĩa Dân (1982), Thơ Quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong Giảngvăn, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1982
[8] Lê Dư, Trạng Trình, tạp chí Nam Phong, số 173, tr. 597-608. Bài này nằm trong mục Quốc âm thi văn tùng thoại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng Trình
[9] Lê Trí Dũng (2001), Tính chất Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lê Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2001
[11] Dương Quảng Hàm (1943), Việt Nam văn học sử yếu, Nha học chính Đông Pháp xuất bản, H., Tóm tắt tiểu sử. Giới thiệu tập Bạch Vân quốc ngữ thi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1943
[12] Hà Ngọc Hòa, “Con người nhàn dật, tự tại trong thơ Nôm Đường luật”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Con người nhàn dật, tự tại trong thơ Nôm Đường luật”
[13] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1998), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Giáo Dục Hà Nội, Tập III: Trước tác phần 3, tr 122-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Hà Nội
Năm: 1998
[16] Phạm Hùng (1983), “Về diễn tiến của thơ trữ tình thời Trần”, Tạp chí Văn hóa, số 4, tr 166 -171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về diễn tiến của thơ trữ tình thời Trần”
Tác giả: Phạm Hùng
Năm: 1983
[17] Phạm Thị Ngọc Hoa (2008). Thời gian nghệ thuật trong Ức trai thi tập của Nguyễn Trãi – Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quy Nhơn, số 1 (tập II) tr.39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật trong Ức trai thi tập củaNguyễn Trãi
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Hoa
Năm: 2008
[18] Trần Đình Hượu (1992), Triết lý nhàn dật và tự tại trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm-danhnhân văn hóa, Nxb Bộ văn hóa thông tin và thể thao, Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khiêm-danhnhân văn hóa
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Bộ văn hóa thông tin và thể thao
Năm: 1992
[19] Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1979),Văn học Việt Nam thế kỷ X đếnnửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Namthế kỷ X đếnnửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
[20] Đinh Gia Khánh (chủ biên), (2001), Điển cố văn học, Nxb Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 2001
[21] Đinh Gia Khánh, Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân (1983), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, NxbVăn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Hồ Như Sơn, Bùi Duy Tân
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 1983
[22] Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà (1957), Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhà thơ triết lý, Nxb Văn hóa-Cục xuất bản BộVăn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm-nhà thơ triết lý
Tác giả: Lê Trọng Khánh, Lê Anh Trà
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Cục xuất bản BộVăn hoá
Năm: 1957
[23] Nguyễn Khuê (1997), Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập
Tác giả: Nguyễn Khuê
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1997
[24] Trần Trọng Kim (1955), Nho giáo, 2 quyển, in lần thứ 3, Nxb Tân Việt, SàiGòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Tân Việt
Năm: 1955

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w