Giọng điệu trào lộng, u mua trước diễn biến nhân tâm cuộc thế

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 109 - 113)

Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến

3.3.2. Giọng điệu trào lộng, u mua trước diễn biến nhân tâm cuộc thế

Umua (Humour), có nghĩa là cách nói bóng gió, khôi hài, hài hước... được thể hiện sinh động bằng ngôn ngữ hoặc bằng cử động gây nên tiếng cười. U mua

theo nghĩa hẹp là dùng ngôn ngữ gây cười, theo nghĩa rộng gồm cả ngôn ngữ và cử động (có thể hiểu là cử chỉ, hành động, cá tính và cách sống) để gây cười. Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng đầy ắp tiếng cười. Tiếng cười mang sự hài hước, qua ẩn ý châm biếm, mỉa mai, trào lộng. Tiếng cười trong thơ ông mang bóng dáng, hình ảnh con người tự trào, tự vấn và tự thẹn Nguyễn Khuyến. Bên cạnh giọng thơ thâm trầm sâu lắng trước diễn biến thế sự, trong thơ Nguyễn Khuyến còn biểu hiện giọng thơ chua chát, u mua trước nhân tâm cuộc thế.

Nhà nho Nguyễn Khuyến cay đắng nhận ra mọi trật tự xã hội bị đảo lộn khi xã hội từ trên xuống dưới chẳng khác chi bọn phường chèo “vua chèo”, “quan chèo”. Tưởng là oai phong lắm, là tự hào lắm, thực ra cũng chỉ là sân khấu hề của cuộc đời. Nguyễn Khuyến cũng sớm nhận ra mình chẳng qua cũng chỉ là một vai nhọ. Về mặt này ông đã giễu mình với giọng điệu chua chát hơn. Giọng thơ cười cợt tự trào thể hiện khá rõ trong mỗi thi phẩm. Kể lại sự việc, giọng điệu thơ ông cứ hóm hỉnh cười cợt những đằng sau là một nỗi chua chát dâng tràn. Kiểu tự bôi nhọ, tự giễu mình, tự cười mình, tự chê mình, thẹn mình…Nguyễn Khuyến muốn chứng tỏ phẩm chất đẹp của mình, khẳng định mình và cũng đề cao mình. Đây chính là điểm khác biệt rõ nét nhất trong giọng điệu tự trào của cụ Tam nguyên Yên Đổ.

Trong xã hội thực dân nửa phong kiến, đồng tiền làm mƣa làm gió gây đảo điên trong xã hội. Cùng là sự phản ánh mặt tiêu cực của đồng tiền nhƣng ở Nguyễn Khuyến đó là một câu hỏi nghe nhẹ nhàng nhƣng chứa đựng hàm ý sâu cay:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?

Đời trước làm quan cũng thế a?

(Kiều bán mình)

Thơ Nguyễn Khuyến luôn chứa đựng nội dung nhẹ nhàng, tình cảm. Cho dù nhà thơ có cười giễu cợt, có châm biếm mỉa mai cuộc thế, giọng thơ vẫn cứ thâm trầm điềm tĩnh. Người đọc thấy được cái hàm ý sâu cay thâm thúy ẩn chứa đằng sau từng con chữ trong thơ ông. Lời lẽ kín đáo đƣợc xem là một đặc tính nghệ thuật trong thi ca trào phúng của Nguyễn Khuyến. Thi nhân thường mượn một hình thức tầm thường bên ngoài để che đậy cái nội dung sâu kín bên trong. Mỗi lần muốn chỉ trích một đối tƣợng nào, nhà thơ thường không nêu đích danh mà chỉ dùng những từ đa nghĩa với lối nói gián tiếp. Nói đến quan lại bất tài, hống hách, Nguyễn Khuyến đã dùng những lời cười

cợt nhẹ nhàng, nhƣng khi đi vào chiều sâu mới nhận ra những lời mạt sát “Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe/ Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”(Tiến sĩ giấy). Với tƣ thế ngồi bảnh chọe để rồi pha vào cái cười mỉa mai ấy bằng cái sự hóm hỉnh bất ngờ, Nguyễn Khuyến phơi bày sự thật tiến sĩ thật hay tiến sĩ giấy cũng đều là một thứ đồ chơi. Lời chỉ trích, phê phán không nặng nề, song ý tứ thật sâu xa.

Giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến có phần kín đáo hơn, ý nhị hơn, thâm trầm hơn, tất nhiên cũng không kém phần sâu sắc. Khi ông đả kích, châm biếm bản thân mình ông không nói một cách trực tiếp mà kín đáo ý nhị thông qua hình ảnh “ông tiến sĩ giấy”. Hay khi Nguyễn Khuyến giễu mình, cười cợt mình trở thành một kẻ vô tích sự, không còn có ích gì nữa ông cũng chỉ nhẹ nhàng:

Bây giờ đến bậc ăn dƣng nhỉ Có rƣợu thời ông chống gậy ra.

(Lên lão)

Ai cũng biết “bậc ăn dưng” là chỉ những người đã hết tuổi làm việc khi trong làng có hội hè gì thì chỉ việc đi ăn không còn phải đóng góp. Mới ngoài 50 tuổi đầu mà Nguyễn Khuyến đã ví mình nhƣ vậy, giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng nhƣng dụng ý thì thật là không đơn giản chút nào mà thực ra nó mang nặng nỗi xót xa, bất lực.

Xuyên suốt những bài thơ tự trào của Nguyễn Khuyến là một giọng thơ hóm hỉnh, thâm trầm mà thâm thuý hết mực. Ông cứ như cười cợt, giễu cợt mọi thứ xảy ra xung quanh, cười cợt xong rồi lại ngấm rất đau. Đó là giọng thơ trào phúng rất đậm nét và sinh động của nhà Nho thường “Tự trào” mình. Nhiều bài thơ, Nguyễn Khuyến “Tự trào” một cách trực tiếp: Tự trào, Tự giễu mình, Tự thuật, Than nghèo, Than nợ, Cảm thán...

Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng

(Tự trào) Và cũng có khi tự trào một cách kín đáo ý nhị:

Ông đứng làm chi đó hỡi ông (...) Non nước đầy vơi có biết không?

(Ông phỗng đá)

Dù trong hoàn cảnh nào, thơ tự trào của Nguyễn Khuyến cũng thể hiện khá rõ hình ảnh: một ông già hóm hỉnh tự cười mình. Nụ cười xem ra rất nhỏ nhẹ mà chứa chan suy tư, thâm trầm mà sâu sắc. Ông cười về hình dáng của mình:

Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây

Kiểu cười tưởng như nhẹ nhàng nhưng hết sức thâm thuý và có sức công phá mãnh liệt. Đặc biệt khi ông cười về vai trò lịch sử của mình trong chốn quan trường, kiểu cười chua chát, xót xa: Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ (Vịnh tiến sĩ giấy). Có lúc, nhà thơ thác lời anh phường chèo nhắn gửi đôi lời chua chát:

Vua chèo còn chẳng ra gì

Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.

Còn đây là giọng cười xót xa thấm đượm sự khinh bỉ đối với cái địa vị cao sang mà Nguyễn Khuyến từng ngồi. Khinh bỉ vì hiểu đƣợc bản chất thật của nó, bản chất sự đời nhƣ một tấn tuồng trên sân khấu. Ông chua chát khi nghĩ đến mình thế mà đã từng ngồi trên địa vị đó: Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ! Nhiều khi Nguyễn Khuyến buông những lời lẽ bông lơi, những giọng cười tưởng như sảng khoái để diễn đạt những cơn sóng lòng dữ dội:

Lúc hứng đánh thêm dăm chén rƣợu Khi buồn ngâm láo một câu thơ

(Đại lão)

Đại sự thì đã hỏng cả rồi mà mình chỉ là kẻ gàn dở vô tích sự. Nụ cười hóm hỉnh ấy có sự khẳng định bản ngã, nhƣng đó vẫn là sự khẳng định của một nhà Nho theo những chuẩn mực đạo đức nhà nho. Tựu trung, giọng điệu tự trào của Nguyễn Khuyến vẫn còn mang tính chất giáo hoá, có khi chƣa thoát ra khỏi quy phạm văn chương nhà nho.

Đối tượng đả kích của ông tập trung xung quanh những người những việc có liên quan đến việc nước mất hay việc thực dân Pháp đặt quyền thống trị trên đất nước ta. Hạng người bị Nguyễn Khuyến châm biếm nhiều hơn cả là bọn thống trị phong kiến. Ông rất khinh và ghét mọi quan lại cũ hay mới vì ông cho rằng khi chủ quyền trong nước đã mất thì làm quan là một điều hổ thẹn, một sự vi phạm không

thể tha thứ đƣợc đối với đạo đức của một nhà nho chân chính. Nguyễn Khuyến đã đánh một đòn đau vào toàn bộ bọn vua quan đương thời khi chỉ ra tất cả bọn chúng chỉ là một đám hát chèo nghĩa là một đám bù nhìn của thực dân: Vua chèo còn chẳng ra gì / Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”. Ông cười chua chát cho cảnh tƣợng nhố nhăng diễn ra: Bà quan tênh nghếch xem bơi trải/ Thằng bé lom khom nghé hát chèo (Hội Tây). Để rồi chính ông xót xa tự hỏi và tự trả lời: Khen ai khéo vẽ trò vui nhỉ/ Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!

Có thể thấy trong những trang thơ của Nguyễn Khuyến, giọng điệu chua chát, u mua trước nhân tâm cuộc thế của ông mang đậm chất trào lộng, u mua. Đó là tiếng cười trầm thống cho kiếp người, trong cái cười ấy ẩn chứa bao thổn thức, đau khổ của một nhà Nho cuối mùa của chế độ phong kiến. Cười đấy mà sao nghe đầy xót xa! Xót xa khi phải chứng kiến cảnh mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã bị đảo lộn. Vui sao cái cảnh:

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng.

Với nghệ thuật chơi chữ, lối đối nhau chan chát trong từng hình ảnh, ngôn từ, trong câu thơ, nhà Nho Yên Đổ cười thẳng vào bộ mặt thật của xã hội đương thời. Cười đấy, mà sao đau đến vậy!

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 109 - 113)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(127 trang)