1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thế giới nghệ thuật trong thơ nguyễn lương ngọc

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Lương Ngọc
Tác giả Phạm Viết Cương
Người hướng dẫn TS. Hoàng Thị Huệ
Trường học Trường đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 371,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với NLN, tuy còn dang dở trong hành trình sáng tạo, nhưng bằng nỗ lực đổi mới, cách tân thơ Việt, ông đã sớm tạo dựng cho mình một thế giới nghệ thuật riêng, có khả năng mở ra cho người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

PHẠM VIẾT CƯƠNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN LƯƠNG NGỌC

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822.01.21

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Huệ

THANH HÓA, NĂM 2020

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 NLN (NLN) là một trong những cây bút gây chú ý, tạo nhiều

dư luận bởi những tìm tòi, cách tân khá mạnh mẽ từ những năm cuối thập

kỉ 80, đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, khi văn học Việt Nam nói chung, thơ Việt Nam nói riêng bước vào chặng đổi mới đầy “náo nhiệt” sau giai đoạn “phòng chờ” Cùng với Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, NLN đã đặt những “bước chân vạm vỡ”, khai mở con đường đổi mới thơ Việt Nam Với tinh thần dấn thân quyết liệt, một ý thức và quyết tâm thay đổi tận gốc rễ nhận thức, tư duy, NLN đã để lại một thế giới nghệ thuật thơ mang màu sắc riêng, góp phần làm phong phú diện mạo thơ Việt Nam đương đại

1.2 Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ theo những nguyên tắc tư tưởng - thẩm mĩ nhất định Gắn với mỗi thế giới nghệ thuật là một quan niệm riêng, cá tính sáng tạo riêng của tác giả Với NLN, tuy còn dang dở trong hành trình sáng tạo, nhưng bằng nỗ lực đổi mới, cách tân thơ Việt, ông

đã sớm tạo dựng cho mình một thế giới nghệ thuật riêng, có khả năng mở

ra cho người đọc một hình tượng nghệ thuật mang tính chỉnh thể, có cấu trúc khá độc đáo với quy luật vận động riêng Bởi vậy, tiếp cận thơ NLN

từ góc nhìn thế giới nghệ thuật sẽ góp phần khẳng định cá tính, sự nỗ lực sáng tạo, đổi mới, cách tân và đóng góp của nhà thơ trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam

1.3 Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi cũng nhận thấy việc tìm hiểu rộng hơn (ngoài phạm vi bài giảng) đối với văn học đương đại Việt Nam nói chung, thơ đương đại nói riêng vẫn là nhu cầu đặt ra Bởi vậy, nghiên cứu đề tài này là cơ hội để chúng tôi, một mặt vừa củng cố, gia tăng những vấn đề lí thuyết mà với giáo viên phổ thông vẫn là mới (những vấn đề lí luận về cái tôi trữ tình trong thơ trữ tình, những vấn đề lí thuyết mới mà các nhà thơ đương đại đã tiếp thu và vận dụng trong sáng tác );

Trang 3

mặt khác có điều kiện tìm hiểu sâu một trường hợp thơ cụ thể, để từ trường hợp cụ thể này có những so sánh, liên hệ trong cái nhìn mang tính khái quát về sự vận động, phát triển của thơ đương đại

Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu luận văn: Thế giới nghệ thuật trong thơ NLN

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

NLN là cây bút sớm thể hiện nỗ lực cách tân của thơ ca đương đại Việt Nam Bởi vậy, thơ ông, ngay từ tập đầu, đã thu hút được sự quan

tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình và cả bạn đọc yêu thơ Tuy nhiên,

theo khảo sát, tìm hiểu của chúng tôi, hiện tại, số công trình, bài viết nghiên cứu trực tiếp và nhất là mang tính khái quát về về thế giới nghệ thuật thơ NLN vẫn còn rất thiếu, chủ yếu là những bài viết khai thác trên phương diện đổi mới, cách tân của thơ ông Dù không phải hướng nghiên cứu trực tiếp nhưng những bài viết, những công trình này sẽ là tài liệu tham khảo, giúp chúng tôi gợi mở vấn đề nghiên cứu của đề tài

Trong mục này, chúng tôi trích dẫn các ý kiến của các tác giả Mai Văn Phấn, Nguyễn Thanh Mừng, Đỗ Ngọc Yên, Lê Hồ Quang, Hà Nguyên Huyến, luận văn cao học của Trần Thị Vị, (bảo vệ năm 2015 tại trường Đại học Vinh) v.v…

Chúng tôi sẽ kế thừa những công trình nghiên cứu đã có trên đây

để tìm hiểu một cách hệ thống, cụ thể và toàn diện về thế giới nghệ thuật thơ NLN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Thế giới nghệ thuật thơ NLN, trên những phương diện cơ bản như hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng không - thời gian và một số phương diện nghệ thuật khác

Trang 4

thơ NLN, bao gồm: Từ nước (Nxb Hội nhà văn, 1991), Ngày sinh lại (Nxb Thanh niên, 1991), Lời trong lời (Nxb Văn học, 1994), Trong sổ tay của vợ (vĩ thanh của ba tập trên)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu một cách toàn diện, bao quát hình tượng thế giới nghệ thuật thơ NLN; từ đó góp phần khẳng định đóng góp, giá trị của thơ NLN trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đi sâu vào tìm hiểu những nội dung cụ thể trong thế giới nghệ thuật thơ NLN như hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng không - thời gian và những phương diện nghệ thuật thể hiện thế giới nghệ thuật thơ ông

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp hệ thống

Quan niệm thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể, xuất phát từ đặc điểm riêng của thế giới nghệ thuật thơ NLN, vận dụng phương pháp này luận văn sẽ làm rõ những yếu tố tạo nên tính chỉnh thể và những đặc điểm riêng trong thế giới nghệ thuật thơ NLN

5.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp này giúp người viết nhận ra thi pháp riêng của NLN khi xây dựng hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng không - thời gian và những phương diện nghệ thuật tiêu biểu thể hiện thế giới nghệ thuật thơ (so với các nhà thơ khác cùng thời)

5.3 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này giúp người viết tìm kiếm một cách có hệ thống những hình ảnh, biểu tượng xuất hiện nhiều lần trong thế giới nghệ thuật thơ NLN

5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này giúp người viết làm rõ những nét độc đáo về thế giới nghệ thuật trong thơ NLN và có cái nhìn khái quát về thơ ông

Trang 5

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là cái nhìn tổng thể về thế giới nghệ thuật thơ NLN, từ

đó góp phần khẳng định những đóng góp của nhà thơ vào tiến trình thơ đương đại Việt Nam

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 NLN trên hành trình tạo dựng thế giới nghệ thuật thơ

Chương 2 Hình tượng cái tôi trữ tình và hình tượng không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ NLN

Chương 3 Phương thức xây dựng thế giới nghệ thuật trong thơ NLN

CHƯƠNG 1 NLN TRÊN HÀNH TRÌNH TẠO DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ

1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình

Thơ trữ tình là một thuật ngữ nhằm để phân biệt với các loại hình khác trong thể loại trữ tình và tự sự Thơ trữ tình có khả năng khơi gợi và bộc lộ cảm xúc rất lớn

Nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, thế giới chủ quan của nhà thơ - cái tôi trữ tình Muốn tiếp cận được thế giới nghệ thuật của thơ phải nhận diện được cái tôi trữ tình Bên cạnh cái Tôi trữ

Trang 6

tình thì thế giới - hiểu như môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh cái tôi (không gian, thời gian, các nhân vật trữ tình) là những phương diện không thể thiếu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật thơ

Với mỗi nhà thơ, đồng nghĩa với quá trình sáng tạo là việc tạo dựng một thế giới nghệ thuật Trong hành trình sáng tạo của mình, một hành trình không dài nhưng cũng không là ngắn ngủi, NLN, với một tư duy nghệ thuật mới mẻ, với những nỗ lực không ngừng, đã tạo dựng được một thế giới nghệ thuật thơ mà cho đến nay, khi nhà thơ đã đi xa gần một phần năm thế kỉ, cái thế giới ấy vẫn có sức hấp dẫn, vẫn là lời mời gọi cho những ai muốn khám phá

1.2 NLN trên hành trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975

1.2.1 Những yếu tố có tính chất tiền đề

1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử

Năm 1975, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước mở ra kỉ nguyên hòa bình, độc lập cho dân tộc Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986), Đại hội của sự đổi mới đã tạo ra cơ hội phát triển, làm thay đổi bộ mặt đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật

1.2.1.2 Những thuận lợi và thách thức

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ đời sống kinh tế xã hội tới thi ca Đường lối mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng đã tạo cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa, văn học giữa nước ta với các nước trên thế giới Bên cạnh đó phải nói tới sự xuất hiện một đội ngũ nhà văn mới, nhạy bén với cái mới, luôn luôn tìm kiếm cái mới Chính khát vọng sáng tạo, khát vọng làm mới toàn bộ nền văn học từ quan niệm đến cảm hứng, phong cách, thi pháp thể loại … của lớp nhà thơ này là động lực của đổi mới, cách tân, là yếu tố thường xuyên kích thích năng lực tìm kiếm sáng tạo

Bên cạnh những thuận lợi đó, văn học nói chung, thơ ca nói riêng cũng đứng trước những thách thức không nhỏ Đó là lối mòn trong sáng tác, là thói quen cảm thụ văn học theo những chuẩn mực của văn học thời

Trang 7

chiến, là tâm lí cầu toàn, bảo thủ, chậm đổi mới của một bộ phận độc giả… Và trên hết là sự kì vọng vào một sự lột xác của cả nền văn học nói chung, thơ ca nói riêng trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Chính sức ép phải đổi mới thành công cũng là một trở ngại không hề nhỏ đặt ra cho các nhà văn, nhà thơ

1.2.2 NLN trong bầu không khí cách tân thơ đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX

1.2.2.1 Bộ ba: Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, NLN: Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt Nam sau 1975

Trong suốt 30 năm chiến tranh (từ 1945-1975), thơ ca đã thăng trầm cùng số phận dân tộc để vượt lên, tồn tại và đạt được những giá trị

to lớn của một nền thơ Cách mạng Sau 1975, nhất là sau 1986, thì giọng điệu và thi pháp thơ Việt Nam mới có được những chuyển động mới, lớn lao, đáng kể Và đợt sóng cách tân đầu tiên của hành trình đổi mới thơ

đương đại mang tên bộ ba: Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, NLN

1.2.2.2 NLN và quan niệm thơ lập thể

Chủ nghĩa lập thể còn gọi là trường phái lập thể (Cubism) là một trường phái nghệ thuật thị giác có sức ảnh hưởng rất lớn của thế kỷ XX

Trong tác phẩm của họa sĩ lập thể, đối tượng được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình thức trừu tượng Người họa sĩ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định mà lại đồng thời phân chia thành nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau Thông thường các bề mặt, các mặt phẳng giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh làm cho người xem khó nhận ra chiều sâu của bức tranh

Vốn là người có năng khiếu về hội họa, đam mê hội họa từ bé, NLN nhận thấy sự tương đồng trong quan điểm sáng tạo của Pablo Picasso trong hội họa với ý tưởng cách tân nghệ thuật thơ ca đương đại

mà ông nung nấu Bản thân NLN nhận thức được rằng sáng tạo đúng nghĩa đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực hiện một cuộc cách mạng, phải thực hiện một cuộc lột xác chống lại những giá trị thẩm mĩ đã trở nên lỗi

Trang 8

thời và để xây dựng những chuẩn mực giá trị mới Có lẽ chính vì thế mà NLN luôn đề cao hội họa lập thể bởi cái tinh thần cách tân quyết liệt của

nó và trở thành điều kiện tích cực giúp nhà thơ sớm hình thành một quan niệm hiện đại về thơ, về hoạt động sáng tạo

NLN luôn đề cao hội họa lập thể, trước hết, bởi cái tinh thần cách tân quyết liệt của nó Chủ soái của phái Lập thể, Pablo Picasso viết:

“Mọi hành động sáng tạo đầu tiên đều là hành động hủy diệt” Từ sự

đồng điệu về cảm xúc và tư duy sáng tạo, NLN dõng dạc phát biểu: đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình

ra mà kết cấu? Bản thân cái đẹp luôn là một ý niệm mang tính lịch sử

Do đó, sáng tạo đúng nghĩa luôn đòi hỏi ở người nghệ sĩ khả năng “gây hấn”, “nổi loạn” với truyền thống, với chính mình nhằm chống lại những giá trị thẩm mĩ đã trở nên lỗi thời và để xây dựng những chuẩn mực giá trị mới

CHƯƠNG 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ

THUẬT TRONG THƠ NLN

2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ NLN

2.1.1 Cái tôi trữ tình

Cái tôi trữ tình là tổng hợp các phương diện cá nhân, xã hội, thẩm mỹ Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua việc tổ chức các phương diện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần độc đáo nhằm truyền đạt đến

người đọc những cảm xúc thẩm mĩ

2.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ NLN

Mỗi nhà thơ, nhất là những nhà thơ có phẩm chất, có phong cách, đều tạo ra trong thơ một hình tượng cái tôi có đủ năng lượng hấp dẫn, mời gọi người đọc đi vào khám phá thế giới nghệ thuật mà anh ta tạo dựng Xuất hiện vào thời điểm những năm đầu của hành trình đổi mới

Trang 9

thơ Việt Nam, NLN là một trong những nhà thơ đã nỗ lực mang đến cho người đọc một cái tôi khá độc đáo, vừa quen vừa lạ

2.1.2.1 Cái tôi với khát khao: Xé toang mình ra mà kết cấu

Thấu hiểu qui luật sáng tạo trong văn học, NLN thẳng thắn bộc

lộ khát khao hướng tới sự cách tân mạnh mẽ, đem đến sức sống mới cho thơ ca trong dòng chảy bất tận của thời gian và sự đổi thay không ngừng của xã hội đương đại; khao khát muốn giải phóng mình khỏi những qui tắc cũ kĩ, “lên men”, muốn “xé toang mình ra mà kết cấu” …

Sự khao khát đổi mới, sáng tạo trước hết đến từ ý thức trách nhiệm của NLN về thiên chức của người nghệ sĩ Đó là phản ảnh hiện thực đời sống thông qua lăng kính sáng tạo của mình để ngợi ca cái đẹp, vun đắp những rung động thẩm mĩ trong lòng bạn đọc Hiện thực trong thơ ca không phải là sự sao chép nguyên bản đời sống mà phải tổ chức, sắp xếp lại bằng tư duy, bằng trí tưởng tượng, phải vượt lên cái nhìn hiện thực để

phát hiện ra cái đẹp ở “bề sâu, bề sau, bề xa” Khi “những quy tắc lên men” được thay thế bằng một tư duy mới, một thái độ lao động đầy nhiệt

huyết, khi đó sáng tạo sẽ thăng hoa theo cảm xúc của cái tôi

Như vậy, khao khát cách tân thơ Việt khỏi những sáo mòn với những qui tắc cũ kĩ “lên men” thôi thúc NLN hành động Nhà thơ khát khao được xé bỏ lớp áo cũ chật chội, muốn được kết cấu lại chính mình

để hồn thơ được bay bổng trong chiều sâu của trí tưởng tượng và tầng hàm nghĩa của ngôn từ, để mỗi tác phẩm thơ ca thực sự là những phút giây bùng nổ xúc cảm, chạm đến mọi góc khuất của tâm hồn Muốn vậy người nghệ sĩ phải biết hòa mình vào niềm đam mê sáng tạo, sống và cống hiến hết mình cho nghệ thuật

2.1.2.2 Cái tôi với những cảm giác ảo diệu, tinh tế

Để rũ bỏ “những qui tắc lên men”, muốn “xé toang mình ra mà kết cấu”, cần ở nhà thơ rất nhiều tố chất mà một trong số đó là sự nhạy cảm hơn người thường Trong thơ, cái tôi NLN hiện diện khá rõ nét là

một cái tôi của những cảm giác nội tâm tinh vi và mãnh liệt

NLN thường vận dụng các giác quan bao gồm cả cái mà người ta

Trang 10

thường hay gọi là giác quan thứ sáu để cảm nhận về vạn vật, về thế giới Cái tôi trong thơ ông vừa biết phát hiện, cảm nhận những biến chuyển đời sống, vừa biết tận hưởng mọi vẻ đẹp trong đời sống thế tục Ở đó, cái tôi khẳng định mạnh mẽ qua những động thái thể chất mà thực chất cũng

là những động thái tâm hồn: Tôi tan, Tôi thấy, Tôi cảm, Tôi gặp, Tôi vuốt, Tôi nghĩ…

Mặt trời mọc như lòng trứng đỏ Cho tôi gặp nỗi đợi chờ không ngủ

(Trước ban mai)

Gặp nỗi đợi chờ là một hình ảnh xa lạ gây bất ngờ đối với người

đọc bởi người ta thường gặp một người, một sự vật, hiện tượng nào đó

mà ta có thể nhận biết được, nhận thấy được Nhưng ở đây tác giả lại

gặp nỗi đợi chờ không ngủ Quả thật là một sự liên tưởng lạ Nỗi đợi chờ của cái tôi trữ tình xuất hiện vào thời điểm bình minh, nỗi đợi chờ không ngủ Đợi chờ gì khi ngày mới bắt đầu? Đó có thể là những ấp ủ, toan tính cho thơ? Câu hỏi này chắc chắn chỉ có mình NLN mới có thể giải

đáp chính xác, chỉ biết rằng ông đã cho ta thấy được cái cảm giác nội tâm tinh vi của ông (cái tôi trữ tình) trước ban mai, cái cảm giác không phải của một người nào đó mà là của chính ông

Cảm giác nội tâm tinh vi mãnh liệt của cái tôi trữ tình trong thơ NLN còn xuất hiện trong những rung cảm, những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về thiên nhiên, đời sống con người là những phút giây cá nhân

“bừng ngộ” trước vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên đất trời Vạn vật được sinh ra, lớn lên rồi cũng quay về với cát bụi, ranh giới sự sống và cái chết quả là mong manh

Cảm giác đem đến cho NLN nhiều dự cảm bất an đồng thời cũng đem lại cho thơ ông những xúc cảm mới mẻ lạ lùng về cuộc đời, con người Những cảm giác ảo diệu, tinh tế đã góp phần làm nên một hình tượng cái tôi NLN trong thơ với thêm nét hấp dẫn, lôi cuốn người đọc đi vào khám phá thế giới nghệ thuật thơ ông

Trang 11

2.1.2.3 Cái tôi tha thiết trong tình yêu

Thơ viết về tình yêu của NLN có nét gì đó bình dị như chính con người nhà thơ trong cuộc sống ngày thường nhưng cũng mang đầy những xúc cảm phiêu du ở phía sau cái bình dị đời thường ấy

Vẫn là một tình yêu nồng nàn và say đắm nhưng không phải cái đắm say của những khoái cảm nhục thể Tình yêu trong thơ NLN thanh mát cái nắng ban mai Nó hướng tới cuộc đời, tới những điều bình dị tưởng chừng bị lãng quên trong vòng xoáy kim tiền thời kì đầu đổi mới

và hội nhập Giữa bao bôn bề lo toan, tình yêu vẫn sống, vẫn gieo mầm xanh hi vọng, và có gì đẹp hơn cái trong sáng, ngây thơ của những em bé

nhỏ xinh Tình yêu thanh khiết bắt đầu từ những điều dung dị đó Tung tăng có em gái nhỏ/ Ô xanh bóng mỏng theo sau…

Dễ nhận thấy cách thể hiện tình yêu trong thơ NLN vừa là cảm nhận riêng của nhà thơ nhưng cũng cho thấy ảnh hưởng thời đại: những

va đập của cuộc sống, nhân tình thế thái trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời hậu chiến và sau đổi mới khiến con người cảm thấy cô đơn, muốn xích lại gần nhau Trong gian khổ mới thấy hết ý nghĩa mà tình yêu đem lại Đó là động lực, là đức tin để sống và cống hiến

Thơ tình của NLN là mạch cảm xúc về gia đình, về tình yêu con người hòa trong tình yêu cuộc sống gắn với những gì đời thường, binh dị, mộc mạc của cuộc sống ngày thường

Như vậy, cảm nhận và viết về tình yêu của NLN không chỉ là lãng mạn, mơ mộng, mà đó là tình yêu của con người bình thường trong cuộc sống đời thường, ngày thường, có khao khát, có đợi chờ, tin tưởng,

lo âu, sẻ chia, bình dị và hướng về gia đình với tất cả niềm thiết tha yêu

2.1.2.4 Cái tôi thống nhất giữa lí tính tỉnh táo và trực giác nhạy bén

Sự thống nhất giữa lý tính tỉnh táo và trực giác nhạy bén trong hình tượng cái tôi trữ tình là một lý do giải thích cho sự thành công trong thơ NLN

Trong thơ, NLN không chỉ vận dụng các giác quan để cảm nhận

Trang 12

về vạn vật, về thế giới mà còn sử dụng tiếng nói vô thức để thể hiện những góc khuất trong tâm hồn con người Đặc biệt là suy nghĩ về “sân khấu cuộc đời” và những dự cảm về cái chết

Coi cuộc đời như một sân khấu, một vở kịch với đầy rẫy những mối quan hệ ràng buộc trong vòng xoáy của xung đột kịch, chịu sự ràng buộc bởi mạch vận động kịch từ mở đầu, thắt nút, phát triển đến cao trào rồi mở nút Và khi sân khấu sáng đèn là lúc kịch bản ban đầu đã được chuyển hóa thành số phận, thành cuộc đời thực Thơ NLN mang sẵn trong mình sự biến hóa kì diệu đó

Trực giác nhạy bén trước những ám ảnh tâm linh chính là đặc điểm nổi bật trong thơ NLN Ở đây ám ảnh về cõi chết và cái chết thường trở đi trở lại, khi như một ý nghĩ bất chợt, khi như một tiếng nói mơ hồ từ cõi nào thẳm xa Sống - với NLN là sự tái sinh sau rất nhiều lần chết Không phải ngẫu nhiên ông đề từ cho tập “Ngày sinh lại” bằng một câu

trong kinh thánh: “Ta là sự sống lại và là sự sống”

Thơ NLN chứa nhiều dự cảm bất an gắn liền với mất mát và nỗi đau Dường như trong thơ ông những gì càng tốt đẹp càng dễ bị hủy hoại Tuy nhiên, đằng sau ám ảnh thường trực về cái chết và nỗi đau ấy

là khao khát được sống thêm một cuộc đời mới, và do vậy, cái chết ở đây cũng mang một ý nghĩa tẩy rửa, tái sinh - chết là để chờ “ngày sinh lại”

Dự cảm về cái chết là phần trực giác nhạy bén nhưng đằng sau

nó là những suy tư, những trăn trở, những dự liệu đặt ra Vậy, có thể thấy, trong nhiều trang thơ, nhiều tứ thơ của NLN, hình tượng cái tôi trữ tình nghiêng về phần trực giác nhưng thực ra nó vẫn là sự thâm nhập giữa trực giác và lí tính, sự thống nhất giữa hai yếu tính đó Chính sự hòa quyện này mới làm nên trục tư tưởng trong thơ NLN, mới giúp cho cái tôi trữ tình có được một bệ đỡ, một cốt lõi

2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ NLN

2.2.1 Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là một phương diện của thi pháp Trong văn học, con người tồn tại giữa thế giới đã được nghệ thuật hóa Không

Ngày đăng: 17/08/2023, 09:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w