Phức điệu trữ tình và trào lộng trong thơ Nguyễn Khuyến

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 113 - 120)

Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến

3.3.3. Phức điệu trữ tình và trào lộng trong thơ Nguyễn Khuyến

Nghiên cứu phương diện sắc thái biểu cảm, giọng điệu nhà thơ biểu hiên trên thi phẩm phần nào sẽ giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn thế giới tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình, đặc biệt là thấy đƣợc cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của mỗi tác giả. Giọng điệu nghệ thuật không chỉ là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm văn học, mà còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. Các yếu tố tư tưởng, hình tượng chỉ được cảm nhận trong một phạm vi giọng điệu nào đó, và nhờ đó mà người đọc thâm nhập được vào thế giới tinh thần của tác giả. Điều này cho thấy, giọng điệu không đợi đến lúc tác phẩm hoàn tất mới định hình mà ngay từ đầu nó đã tham dự trực tiếp vào quá trình sáng tác, nó đồng hành với quá trình xây dựng phong cách và thế giới nghệ thuật của một tác gia

trong tiến trình lịch sử văn học. Ở mỗi tác gia văn chương đều có những giọng điệu riêng có khi dễ nhận, cũng có khi khó nhận vì sự hòa lẫn các giọng điệu tạo nên một phức điệu trữ tình. Trong thơ Nguyễn Khuyến, có một giọng thơ đặc biệt là sự cộng hưởng của nhiều giọng thơ tạo nên một phức điệu nghệ thuật, tạo nên một phong cách rất riêng, rất Nguyễn Khuyến.

Ở trong thơ Nguyễn Khuyến, từ điểm nhìn cảm thức thời gian, người đọc có thể cảm nhận đƣợc sự phối kết hợp và xuyên thấm của các giọng điệu trữ tình và tự sự để bộc lộ thái độ, quan điểm sống cũng nhƣ sự trào lộng của tác giả đối với các vấn đề văn hóa, xã hội và con người trong bối cảnh nửa thực dân phong kiến. Để định danh cho kiểu giọng điệu này, chúng tôi thống nhất với quan điểm của Biện Minh Điền trong chuyên luận Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, khi nhà nghiên cứu cho rằng: “Nguyễn Khuyến nhƣ vừa trào phúng vừa trữ tình, trào phúng và trữ tình thường chen phối, kết hợp với nhau, nhiều khi ngay trong cùng một bài thơ, thậm chí trong cùng một câu thơ” [11; tr.269]. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất cuối cùng của Nho giáo lúc mạt thời. Đường hoạn lộ không mấy suôn sẻ nhƣng cũng không quá nặng nề. Một tri thức Nho giáo túc trí nhƣ ông hẳn có cái nhìn nhận đúng đắn về thời cuộc. Không quá day dứt chọn lựa con đường xuất xử như những tiền nhân trước, ông chấp nhận từ bỏ chốn quan trường về quê, gắn với cuộc đời thanh bần, an lạc. Trong ông, không có sự bất mãn đến cực độ bởi ông tự rũ bỏ vinh hoa, khi mang trong mình tâm lí thất bại của những nhà Nho cùng thời đại. Nguyễn Khuyến nhận thức đƣợc sự bất lực của bản thân cũng nhƣ cả một lớp người cùng thế hệ. Ông nhìn thấy bóng dáng của mình trong những con người hợm hĩnh ấy. Bản thân cũng là Tiến sĩ, nhƣng với ông, thời thế bấy giờ thì tất cả tiến sĩ đều là danh hão, là đồ chơi của thời đại. Ông cũng là một vị quan nhƣng lại thấy quan lại trong triều đình chẳng khác gì là những diễn viên hài đang diễn trên sân khấu cuộc đời. Để từ đó, ông đau đớn nhận ra mình cũng chỉ là bù nhìn:

Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ!

Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.

(Tự trào)

Chính mối liên hệ này làm cho nhà thơ có một sự đồng cảm với những người

cũng giống như ông. Cũng đả kích, cũng mỉa mai nhưng người đọc cảm nhận được nỗi niềm tâm sự buồn thương của tác giả. Ở đây, cái tôi trữ tình đã giúp cho những yếu tố trào phúng trong thơ ông có bản sắc độc đáo. Trong bài “Gửi ông đốc học Ngũ Sơn”, Nguyễn Khuyến châm chọc bạn, coi chức Đốc học chẳng khác gì một thứ “mõ làng”, nhƣng rồi ông chợt nhận ra, đó là sự sắp đặt của thời cuộc. Và rồi, ông buông lời cảm than buồn cho thế sự:

Cũng muốn ra chơi, chơi chửa đƣợc!

Gió thu hiu hắt đượm màu sương.

Trong những bài thơ trào phúng của mình, tác giả thường hay sử dụng đại từ nhân xƣng ở ngôi thứ nhất: ông này, mình ông, cái mình tôi, ta, lũ ta, lũ tớ… nhằm làm giảm sự phê phán nặng nề. Nguyễn Khuyến thường suy nghiệm về những đối tƣợng mình đả kích, nhƣ để thấu hiểu ngọn nguồn mọi đối tƣợng trào phúng trong thơ ông: Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn

Cái gái đời nay, gái mới ngoan

(Lấy Tây)

Khen ai khéo vẽ trò vui thế!

Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!

(Hội Tây)

Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ!

Mây trắng về đâu nước chảy xuôi.

(Hoài cổ)

Sắc thái trữ tình và trào phúng đôi khi xuất hiện ngay trong một bài thơ, “Gặp sƣ ni” là một minh chứng:

Giữa đường nay gặp gánh tương tư, Nửa ngỡ là quen, nửa lại ngờ.

Mở nón hóa ra ngươì cũ thực, A di đà Phật !Chị mình ƣ?

Giọng điệu bài thơ pha sự hóm hỉnh, ẩn sau tiếng nói trào phúng vẫn là sắc thái trữ tình nổi bật. Nguyễn Khuyến dùng những tiếng cười bỡn cợt, có khi nhẹ nhàng, hóm hỉnh: Gặp sƣ ni, Khuyên vợ cả, Lụt hỏi thăm bạn, Bạn đến chơi nhà,…

có khi đả kích trực diện những kẻ chạy theo gót giặc: Tặng Bà Hậu Cẩm, Đĩ Cầu Nôm, Tiến sĩ giấy, Hỏi thăm quan Tuần mất cướp, Tặng đốc học Hà Nam. Bên cạnh đó, thơ ông còn là tiếng nói thương thân, xót xa trước thế cục đổi dời: Cuốc kêu cảm hứng, Uống rượu ở vườn Bùi, Hoài cổ,…Chính những cung bậc cảm xúc trữ tình đan xen giữa sắc thái trào phúng làm cho thơ Nguyễn Khuyến có chiều sâu trong mọi phương diện biểu đạt.

Phức điệu trữ tình và trào lộng là một nét đẹp trong giọng điệu nghệ thuật của Nguyễn Khuyến. Ông thâm trầm kín đáo, kể cả khi cười, khi trào phúng, khi tự thuật, khi suy tƣ. Khi trở về với không gian bình yên của làng Và cũng là lúc Nguyễn Khuyến ngẫm về cuộc đời mình, tuổi già đến khiến ông trở nên cô độc, tiếng cười u mua của ông vẫn bật lên trên từng chặng đường. Điều khiến ông phải trăn trở, suy tƣ về cuộc đời đó là sự trôi đi nhanh chóng của thời gian, là sự suy yếu của sức khỏe, sự ám thị về cái già luôn thường trực trong nhận thức của Nguyễn Khuyến khiến cho giọng thơ của ông có lúc thêm chùn xuống, đọng dƣ vị xót xa, hoài cảm. Qua những lời thơ tự thuật, chân dung Tam nguyên Yên Đổ hiện lên cụ thể, rõ nét. Câu chuyện về mái tóc, chiếc răng, móng tay đƣợc Nguyễn Khuyến trình bày qua giọng điệu sinh động, thâm trầm. Qua lời thơ và sự phức điệu trong mạch thơ của Nguyễn Khuyến, chúng ta thấy hiện lên một chân dung con người già yếu, ốm đau, bệnh tật,...và có lúc tác giả lại tự giễu mình qua bài Tự trào:

Nam khuyến qui lai thập lục thu, Phong trần hồi thủ lộ du du.

Tính danh bức ngã đăng hoàng chỉ, Tuế nguyệt thôi nhân đóa bạch đầu.

Can tĩnh dĩ nan tầm Triệu địa, Hon hoa do ký tại Phòng châu.

Tàn sinh vạn lự tương hà ích, Nhất mị thành nhiên tửu tiện hưu.

Dịch nghĩa (Từ cửa nam khuyến trở về đã mười sáu năm, Ngoảnh nhìn lại con đường gió bụi dài dằng dặc.

Tên họ bắt buộc ta đề trên giấy vàng,

Năm tháng thúc đẩy người ta tới đầu bạc.

Muốn sạch sẽ, đã khó tìm chỗ đất họTriệu,

Dù lóa mờ cũng ghi chép rằng vua ở đất Phòng châu.

Cuộc sống thừa lo hàng nghìn muôn việc phỏng có ích gì) Thôi thì ngủ ngon một giấc, chết đi là xong!).

Luôn sống trong sự âu lo, dằn vặt, ám ảnh về nỗi “bạch đầu”, tuổi già không có ích gì cho đất nước. Nguyễn Khuyến như tự mâu thuẫn với chính mình. Vừa muốn làm dật nhân, hàn sĩ lại vừa muốn làm người trổ tài kinh bang tế thế. Tất cả lại bị cô gói lại trong nỗi sợ cái già và thời cuộc đã không cho cơ hội. Hoặc giả, trong thời khắc sinh ly tử biệt, Nguyễn Khuyến khóc vợ cũng có chất u mua hóm hỉnh. Trong bài Điệu nội (Khóc vợ) ông đã trần tình rất hay:

Tĩnh thổ an tri phi nhĩ lạc, Trần đồ vị tất vọng nhân liên.

Nhƣợc giao ngã thọ nhƣ Bành Tổ, Bát bách xuân thu kỷ khấp huyền.

Dịch nghĩa (Nơi tĩnh thổ yên nghĩ biết đâu chẳng là nơi vui sướng của bà, Đường trần gian, chưa chắc đã mong người khác thương.

Nếu để tôi sống lâu đƣợc nhƣ ông Bành Tổ, Tám trăm năm, biết bao lần phải khóc vợ).

Nhà Nho Nguyễn Khuyến cứ trầm tĩnh suy tư, cứ điềm nhiên cười cợt với mọi thứ xung quanh, không vội vàng hấp tấp, không cay cú thắng thua. Thi nhân là một túc Nho nên trước sau ông vẫn giữ đúng phong cách thanh thoát của bậc chân Nho.

Khác với nhà Nho cuối mùa cùng thời Tú Xương, làm thơ phản ánh hiện thực cuộc sống nhố nhăng, kệch cỡm, Cụ Tam nguyên không dùng những lời lẽ sỗ sàng, tàn nhẫn và gay gắt. Khi châm biếm, đùa cợt, chỉ trích thói đời, ông chỉ dùng những lời tao nhã, lịch sự, tế nhị nhƣng càng nghĩ càng thấm thía cái dụng ý sâu sắc của nhà thơ. Cái cười của Nguyễn Khuyến nói chung là nhẹ nhàng, mát mẻ, hóm hỉnh, ít khi sâu độc. Khi chỉ trích người đời hay chế giễu bản thân chỉ là những nụ cười khà, hiền lành luôn có tính cách xây dựng. Đồng thời mang nhiều tính chất giáo dục làm cho những đối tƣợng bị thi nhân trêu chọc phải ngẫm nghĩ và nghiệm xét hành động

của mình. Chỉ trích bọn quan lại tham nhũng hồi cuối thế kỷ XIX, bằng cách nói bóng gió Nguyễn Khuyến không trực tiếp vạch ra tội ác của chúng, ông chỉ nhân việc mượn chuyện bọn quan lại triều Minh bóp nặn ba trăm lạng vàng của Vương viên ngoại mà luận bàn:

Có tiền việc ấy mà xong nhỉ!

Đời trước làm quan cũng thế a?

(Kiều bán mình)

Trong sự so sánh giữa đời xưa và đời nay, những tưởng rằng chỉ có đời nay quan lại mới biết ăn hối lộ, té ra từ đời xưa trong hoạn trường, trong chính giới đã có nạn này rồi. Lời phê phán một việc oan ức của lương dân từ đời xưa mà ý văn đả kích thói tham tàn của bọn quan lại đời nay một cách rất độc đáo. Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến có những cái bất ngờ nhƣ thế. Nó nhƣ những mũi tên đả kích phóng ra từ sau những câu hiền lành. Nguyễn Khuyến có tài nêu bật lên mâu thuẫn giữa các hiện tượng rồi khiến cho mọi người phải đồng tình với sự căm thù, khinh ghét của ông. Chính những cung bậc cảm xúc trữ tình đan xen giữa sắc thái trào phúng làm cho thơ Nguyễn Khuyến có chiều sâu trong mọi phương diện biểu đạt.

Tóm lại, phức điệu trữ tình và trào lộng là một biểu hiện rất tiêu biểu trong mạch cảm xúc của thơ Nguyễn Khuyến. Bộ phận thơ chữ Hán và chữ Nôm trào phúng của Nguyễn Khuyến có những những vần thơ tự trào rồi sau đó mới đến tiếng cười trào phúng trước những hiện tượng lố lăng kệch cỡm của xã hội giao thời. Nguyễn Khuyến sắp xếp thời gian trong tương quan so sánh sự khác biệt và thể hiện cụ thể của thời gian làm thời gian đƣợc nhận thức ở nhiều phía quá khứ – hiện tại và có thể dự báo trong tương lai. Điều đó xuất phát từ ý muốn khắc họa chân thực những gì đang diễn ra trong cuộc sống mà giọng điệu là một minh chứng rất cụ thể.

Tiểu kết Chương 3

Nhìn từ phương thức biểu hiện, chúng ta có thể nhận thức được những vấn đề của thời gian đƣợc Nguyễn Khuyến thể hiện qua các hình ảnh mang nghĩa biểu trƣng và những hình ảnh thể hiện cảm quan hiện thực trong dòng chảy thời gian. Để

biểu đạt những nét nghĩa tinh tế trong cảm thức thời gian của Nguyễn Khuyến, qua 271 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm, chúng ta có thể nhận thấy một lớp từ chỉ biểu đạt thời gian khá giản dị, thuần phác mà Yên Đổ đã sử dụng trong thơ Nôm và hệ thống điển cố, thi liệu bác học đƣợc ông dẫn dụng rất linh hoạt để biểu đạt các tầng nghĩa triết lý trong thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm. Thông qua những giọng điệu trữ tình trước nhân sinh thế cuộc và phức điệu trào lộng trước hiện thực và con người, Quế Sơn tiên sinh đã giúp người đọc có thể có góc nhìn và đánh giá về sự thể hiện của dòng chảy thời gian, dòng chảy sự kiện mà tác giả vừa là chủ thể, vừa là chứng nhân và người tường thuật lại. Thể hiện thời gian trong tác phẩm là một trong những phạm trù thẩm mỹ góp phần khẳng định phong cách riêng và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến.

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 113 - 120)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(127 trang)