Hình ảnh mang nghĩa thực về dòng chảy thời gian

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 87 - 91)

Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

3.1. Hệ thống hình ảnh thể hiện các kiểu thời gian trong thơ

3.1.2. Hình ảnh mang nghĩa thực về dòng chảy thời gian

Trong thơ Nguyễn Khuyến sử dụng nhiều hình ảnh, đặc biệt nhà thơ chọn lọc hệ thống hình ảnh phù hợp để diễn tả thế giới nội tâm. Bên cạnh hệ thống hình ảnh mang nét nghĩa biểu trƣng giúp nhà thơ “bóng gió” xa xôi về những trạng huống cảm xúc, hệ thống hình ảnh thân quen, gần gũi, cụ thể mang nghĩa thực giúp nhà thơ kể lại, miêu tả lại những sự kiện, sự vật, sự việc diễn ra trong cuộc sống. Là hình thức thơ, nhƣng đƣợc tác giả sử dụng những hình ảnh có thực trong đời sống dựng lại bức tranh tăm tối của xã hội rối ren cuối kỳ phong kiến.

Làm thơ là để Tự thuật, Trần tình, Cảm thán, Tự tình, Vịnh… về đời sống tinh thần bản thân với những cảm xúc vui buồn trên mỗi chặng đường, mỗi biến cố trong cuộc đời. Điều này đƣợc Nguyễn Khuyến ghi lại ở trong thơ bằng những hình ảnh thực, cụ thể, người đọc nhận ra như những trang nhật ký thường nhật. Những sự việc diễn ra hàng ngày nhƣ: cáo quan về quê, lúc ốm đau, khi đi thi, lúc hỏng thi, nhân việc người hàng xóm cho thịt, có người tặng hoa trà, dịp tết Nguyên Đán, khi uống rƣợu, lúc say, khi bạn mất… đƣợc nhà thơ ghi lại qua các hình ảnh đời sống trong những câu thơ. Những hình ảnh thực mang nghĩa thực đƣợc sử dụng trong thơ đã tạo thành nhân chứng sống bằng thơ về cuộc đời nhà thơ. Và những vần thơ ấy dường như đã trở thành cuốn bách khoa thu nhỏ về chính cuộc đời của nhà thơ, từ đó giúp cho các thế hệ sau hiểu rõ hơn về một con người, một nhân cách, một thời đại đầy biến động của lịch sử.

Trong nhiều bài thơ Nôm (Trở về vườn cũ; Cáo quan về ở nhà; Uống rượu ở vườn Bùi; Ngày xuân dặn các con; Khai bút; Bạn đến chơi nhà; Mừng anh vợ; Lụt hỏi thăm bạn; Khóc Dương Khuê; Hỏi thăm quan Tuần mất cướp…), với lối sử dụng hình ảnh giản dị, chất phác của những cảnh thực làng quê Việt Nam, trong các mối quan hệ bạn bè, tình thân, khi uống rượu, lúc bạn ghé chơi nhà, ngày nước lụt tràn qua dân lành khốn khổ, ngày giáp Tết mất mùa đói kém, mừng bạn về nhà mới, khóc tiễn bạn ra đi… Nguyễn Khuyến luôn ghi lại các sự kiện diễn ra một cách trung thực không quên pha gửi nụ cười hóm hỉnh. Nhà thơ đã hiện diện trực tiếp trong thơ với tư cách là người trong cuộc thuật lại những sự kiện, biến cố trong cuộc đời và bộc lộ tâm trạng của mình trước mỗi sự việc đã qua.

Trong quá trình sáng tạo, Nguyễn Khuyến rất chú tâm dòng sự kiện của thời gian gắn liền với cuộc đời và hoạt động của mình. Trong số 166 bài thơ chữ Hán, có 40 bài thơ tác giả đề rõ thời gian viết và viết về vấn đề gì. Trong khoảng 40 bài này, có thể chia làm hai loại. Loại thứ nhất, tác giả sử dụng mùa để ghi nhận thời điểm sáng tác nhƣ: Xuân nhật (3 bài), Xuân hà cảm thành, Hạ nhật hữu cảm, Hàm giang xuân thủy, Thu nhiệt, xuân nhật thi chƣ nhi (02 bài), Hạ nhật, Hạ nhật tân tình, Hạ vũ, Thu dạ, Thu sơn tiêu vọng, Đông chí...Loại thứ hai, tác giả sử dụng năm can chi để ghi chép thời điểm viết bài thơ nhƣ: Giáp thân trung thu ngụ Hà Nội chữu cảm ký đồng niên cử nhân Ngô, Kỷ sửu trung dương (02 bài), Nhâm dần hạ nhật, Canh dần thanh minh, Kỷ sửu cửu nguyệt liên dạ phong vũ, độc tọa vô liêu, dẫn mãn bất chỉ, hựu văn đồng ấp nhất lão tồ lạc, nhân cảm tác vân... Trong những bài thơ này, tác giả rất chú tâm miêu tả thật cụ thể về thời gian những bài nhật ký về chính hoạt động của chính mình. Trong bài Kỷ sửu trùng dương I (Tiết trùng dương năm kỉ sửu), Nguyễn Khuyến đã ghi nhận các mốc thời gian rất cụ thể trong lịch trình hoạt động của mình:

Phong vũ tiêu tiêu cửu nguyệt thiên, Sơn hà cử mục tối kham liên.

Tiểu trì lục trướng nãi như thử, Khứ tuế hoàng hoa thù bất nhiên.

Dịch nghĩa (Trời tháng chín tiếng gió mƣa dào dạt, Trông với non sông nghĩ rất đáng thương.

Trong ao nhỏ nước xanh dâng lên còn như vậy, Cảnh hoa vàng năm ngoái đã khác hẳn rồi).

Cũng miêu tả những sự việc diễn ra, ở Kỷ sửu trùng dương II, ông viết:

Tạc tiêu thậm vũ thủy khuy hạng, Thử dạ vô vân nguyệt thướng san.

Bệnh nhỡn mông lung thừa túy vọng, Hà yên sơ ảnh hữu vô gian.

Dịch nghĩa (Đêm trước mưa nhiều, nước ngấp nghé ngoài ngõ, Tối nay mây quang, trăng nhô lên trên đầu núi.

Mắt đau trong lúc say nhìn lờ mờ, Khói lạt, bóng mờ, nhƣ có nhƣ không)

Trong dòng chảy thời gian đó, tác giả kể lại những sự kiện xảy ra cùng cảm xúc cá nhân một cách hệ thống, mạch lạc. Các hình ảnh về thời gian cụ thể nhƣ Cửu nguyệt (Tháng 9), khứ tuế (năm ngoái), Tạc tiêu (đêm qua), thử dạ (tối nay) đƣợc tác giả đặt vào bài thơ nhƣ những thông báo chuẩn xác nhất về những gì mà tác giả đã quan sát và ghi nhận đƣợc.

Trong Kỷ sửu cửu nguyệt liên dạ phong vũ, độc tọa vô liêu, dẫn mãn bất chỉ, hựu văn đồng ấp nhất lão tồ lạc, nhân cảm tác vân (Tháng 9 năm Kỷ sửu mƣa gió mấy đêm liền, một mình ngồi buồn, dốc chén uống mãi, lại nghe tin một ông già trong làng vừa mất, cảm xúc làm thơ), tác giả miêu tả rất cụ thể về không gian, thời gian và hoàn cảnh thực tế của mình:

Giang sơn phong vũ cận trùng dương, Bần bệnh qui lai tửu hậu cuồn.

Văn đạo tây lân vong nhất lão, Bất tri thử khứ thị hà hương.

Tử sinh khảo tích chân nhàn sự,

Hào khấp sinh tiêu uổng đoạn trường.

Túy hĩ thiêm bôi hựu thiêm túy,

Bằng song ngưỡng diện khán thương thương.

Dịch nghĩa (Núi sông trong cảnh mưa gió gần tiết trùng dương, Nghèo ốm, cáo về, uống rƣợu vào đâm ra cuồng.

Nghe nói xóm tây có một ông lão vừa mất, Chẳng biết chuyến đi này lão đến chốn nào?

Sống làm xương sống, chết là xương cùng, đó là việc rất thường, Kêu khóc hay kèn sáo, luống những đau lòng mà thôi.

Say rồi, uống thêm chén nữa, lại thêm say, Tựa cửa sổ ngửa mặt ngắm sắc trời xanh ngắt.)

Trong thơ Nôm, các hình ảnh thời gian thực tế đƣợc Nguyễn Khuyến xác định theo đơn vị mùa nhƣ Than mùa hè, Vịnh mùa hè, Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm, Ngày

xuân gửi cho bạn hoặc qua các sự kiện lễ hội, mừng thọ, chúc mừng nhân các sự kiện cá nhân như Mừng đốc học Hà Nam, Hội Tây, Nước lụt Hà Nam, Vịnh lụt, Lụt hỏi thăm bạn, chúc thọ... Tuy nhiên, sự kiện quan trọng thường xuất hiện trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến là thời đoạn nước lụt về trong năm. Hà Nam là vùng chiêm trũng cho nên mỗi khi lũ lụt tràn về nó tàn phá nhà cửa, gây ra cảnh đói kém của quê hương ông. Xót xa cho dân tình trong cảnh lũ lụt, ông miêu tả rất thực khung cảnh tiêu điều xơ xác của người dân trong nỗi niềm cám cảnh:

Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi, Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi.

Gạo dăm ba bát cơ còn kém,

Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi.

Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng, Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.

Đi đâu cũng thấy người ta nói, Mười chín năm nay lại cát bồi.

(Nước lụt Hà Nam)

Bài thơ đƣợc viết năm Canh Dần (1890), mƣa lớn ở vùng châu thổ sông Hồng nước dâng lớn đã phá vỡ con đê quai làng Mễ Tràng thuộc huyện Thanh Liêm, gây ra nạn đói kém ở vùng Hà Nam, Nam Định. Qua những hình ảnh có thực ở vùng quê sự việc diễn ra là thực “Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi” đƣợc nhà thơ ghi lại rất trung thực. Bài thơ là một bức tranh về đời sống khốn khổ của người lao động chịu nhiều tang thương phần lũ lụt, phần sưu thuế phải đóng, tất cả đè lên đầu người dân lương thiện. Hình ảnh Tiếng sáo vo ve, Chiếc thuyền len lỏi… gợi lên một cuộc sống làng quê ngột ngạt và buồn tẻ. Hẳn phải yêu thương thấu hiểu và gắn với một tình yêu quê hương, sự hiểu biết tường tận về làng quê kết hợp với hồn thơ đằm thắm, tinh tế, tác giả mới sáng tạo nên những vần thơ bất hủ về làng cảnh thôn dã của đồng bằng Bắc Bộ chân thực đến vậy.

Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không phải là những hình ảnh trừu tượng, ước lệ thường thấy trong thơ cổ điển mà là những cảnh vật bình dị, thân quen ở nông thôn. Cái hồn của cảnh vật thấm sâu vào tâm hồn nhà thơ, đồng điệu

với tâm trạng buồn, trăn trở của ông. Tình yêu ấy đƣợc ông trở lại trong bài Vịnh lụt năm Tỵ (1905), một bài thơ đau xót về những trận thủy tai của các năm Tỵ trong lịch sử. Năm Quý Tỵ (1893), năm Ất Tỵ (1905) cách nhau 12 năm, vùng Hà Nam đều có lụt lớn do vỡ đê sông Hồng, mùa màng mất mát, nhiều người chết đói:

Tỵ trước Tỵ này chục lẻ ba, Thuận dòng nước cũ lại bao la.

Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách, Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà.

Viết về mùa hè oi ả, mùa hè bức bối xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến với những đặc trƣng vốn có của vùng đồng bằng Bắc Bộ thật cụ thể, giản dị mà chứa đựng bao cảm xúc “thiết tha”. Cái oi ả, ngột ngạt của không gian nhƣ bị nung lên bởi sự “chen chúc, ồn ào” của hình ảnh đám dế, bầy muỗi:

Tháng tƣ đầu mùa hạ, Tiết trời thật oi ả.

Tiếng dế kêu thiết tha, Đàn muỗi bay tơi tả.

(Than mùa hè)

Nhìn chung, những hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa thực đƣợc Nguyễn Khuyến sử dụng trong các bài thơ của mình một cách linh hoạt, vừa mang ý nghĩa tả thực, khẳng nhận vừa mang giá trị biểu cảm để biểu thị cho các kiểu thời gian sự kiện diễn ra trong bối cảnh thực tại. Bằng nghệ thuật chọn lọc hình ảnh vừa mang nghĩa tả thực, vừa mang nghĩa biểu trƣng, nhà thơ chứng minh đƣợc khả năng quan sát thực tế, khả năng tồn tại độc lập của chính mình và chứa đựng cảm xúc tinh tế của mình. Có thể nói, thơ Nguyễn Khuyến là một thế giới chứa đầy tâm tƣ tình cảm của nhà thơ, là một hiện thực phức hợp giữa “tâm” và “thực”.

Một phần của tài liệu Cảm thức thời gian trong thơ nguyễn khuyến (Trang 87 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(127 trang)