Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
2.2. Ứng xử của nhà thơ trước các kiểu thời gian
2.2.3. Hướng về lối sống ẩn cư
Trong thế giới nghệ thuật thơ chữ Hán, chữ Nôm của Nguyễn Khuyến, cảm thức thời gian được xem như một phương thức để nhà thơ giãi bày những vấn đề của mình trước việc đời và người. Tất cả những điều ấy đều hướng đến một quyết tâm hướng đến cuộc sống nhàn dật của một nhà Nho ưu thời mẫn thế và bất lực trước tình cảnh của đất nước. Từ góc nhìn này, chúng ta có thể nhận thấy những đóng góp nổi bật của Nguyễn Khuyến trong tiến trình văn học là những vần thơ đau đáu với các cảnh ngộ, con người, sự kiện mà nhà thơ đã chứng kiến. Thấu hiểu nỗi khổ cảnh tình bi thương “một cổ hai tròng” của người nông dân cuối thế kỷ XIX, dưới ngòi bút Nguyễn Khuyến đã được phơi bày phần nào hiện tình chua chát:
“Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa nhƣng vẫn phải đóng thuế Phần thuế quan Tây, phần trả nợ và cuối cùng lâm vào cảnh Nợ nần năm hết hỏi lung tung…”.
Hiện thực nhiễu nhương với bao điều chua chát, “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt/
Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng”, mọi giá trị văn hóa đã bị đảo lộn, mọi trật tự lề lối chuẩn mực của xã hội phong kiến đã đổi thay bị phá vỡ, Nguyễn Khuyến ý thức được giá trị của mình trước thời cuộc, có lúc ngơ ngác ông tự hỏi: “Ngàn năm bay hạc, tớ là ai?”. Câu hỏi còn mang thông điệp là một lời tự vấn chính mình. Điều này cũng là lý do thôi thúc ông mong chóng trở về với cuộc sống nơi thôn dã để được sống chan hòa bên những con người bình dị, giữa tình thương của quê hương, bè bạn. Thận trọng, xác định lại tư tưởng, tinh thần, ông dặn con trước khi tạ thế:
Đề vào mấy chữ trên bia,
Rằng: “Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
(Di chúc)
Nguyến Khuyến là một bậc chân nho, túc nho, là đại diện khá tiêu biểu cho lớp người được xã hội phong kiến đào tạo. Ông được vua Tự Đức ban cờ biển và hai chữ Tam nguyên tài năng lừng lẫy một thời. Cuộc đời của ông sẽ chẳng có gì để ông có thể tự giễu mình với một giọng điệu u mua đƣợm màu chua chát pha niềm cay đắng nếu như tài năng của ông thực sự cống hiến được cho dân, cho nước, cho đời. Thi đỗ, làm quan, bản thân đƣợc vinh hiển là mong mỏi của mọi nhà Nho, cớ sao quan nhà Nguyễn lại nhủ: “cáo về đã lâu”. Thật ra, cùng với một số trí thức cùng thời, Nguyễn Khuyến đã nhận ra thực chất cái xã hội đã đào tạo và tôn vinh mình. Đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng là lúc ông đã thừa nhận sự bất lực của tầng lớp nho sĩ trước lịch sử. Ông là một trong rất ít những trí thức thời kỳ ấy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấp mình. Để rồi ông đã quyết định rời bỏ quan trường về quê để tránh xa sự nhố nhăng của xã hội, sự cám dỗ của đồng tiền. Ông đã bày tỏ tâm sự ấy rất chân thật, cái “chạy làng” của ông khi thế tình điên đảo “Cờ đương dở cuộc không còn nước” (Tự trào) thật xót xa.
Suốt quãng đời còn lại của mình, ông sống trong dằn vặt và chua chát vì cái sự đỗ đạt và con đường danh vọng của mình bị đặt vào trong thời đoạn đầy giông bão. “Thẹn” cho mình, giận cuộc đời, nhà thơ biết tìm về chân giá trị cuộc sống.
Học thuyết Nho giáo dạy cho người quân tử ái quốc trung quân, đồng thời cũng trao cho nhà Nho cách minh triết bảo thân. Đó là lúc chính thức, tâm hồn tình cảm ông đã hướng về làng Bùi chốn cũ gắn với đời sống của một ẩn sĩ yếm thế từ quan, biết hành tàng xuất xử đúng đắn. Về với làng quê, cũng là lúc ông xây dựng mối quan hệ gần gũi thân thương hàng ngày giữa những người thân, sơ trong cuộc sống đời thường. Trong khoảng thời gian đó, ông làm thơ về đời sống nông thôn bình dị với những người lao động chân chất hiền lành. Thơ ông toát lên nét bình dị, mộc mạc, yên bình của những ngày nơi làng quê êm ả dần trôi, đồng thời cũng khắc họa một cuộc sống khốn cùng tăm tối của thực trạng đương thời. Làng Yên Đổ - một làng quê tiêu biểu của xứ Bắc yên ả, êm đềm, nơi Nguyễn Khuyến tìm về ngẫm ngợi lắng nghe thời gian trôi chảy trong sự biến thiên cuộc thế. Từ điểm nhìn nơi làng quê đồng vắng vẻ với những ngày hè “ngõ trúc quanh co”, “trời thu xanh ngắt”,
“ao sâu vắng lặng”, “đom đóm lập lòe”…, Cụ Nghè không quên khắc họa bức tranh buồn vắng lặng chốn quê nghèo:
Trâu già gốc bụi phì hơi nắng, Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
(Đến chơi nhà bác Đặng)
Trong những thời đoạn ấy, khi đã rũ áo từ quan, Nguyễn Khuyến dần hòa vào nhịp sống với những hoạt động tế giao giữa bạn bè thân sơ nơi ông ẩn cƣ.
Những chuyến viếng thăm của những người bạn lâu ngày xa cách, những người hàng xóm “bi bô rủ chung thịt”, “trong nhà rộn rịp gói bánh chƣng”…làm ông cảm thấy vui hơn trong thường nhật. Tuy nhiên, nét bút chủ đạo trên bức họa không gian của nhà thơ, nổi bật hơn hết vẫn là không gian của đời sống cần lao trong những thàng ngày tăm tối khốn khổ của người lao động:
Hàng quán người về nghe xao xác Nợ nần năm hết hỏi lung tung…
(Chợ Đồng)
Viết về quê hương đồng chiêm Bình Lục, Nguyễn Khuyến luôn dành một cái nhìn thiện cảm ƣu ái. Ông luôn trăn trở, suy nghĩ về cái mảnh đất nghèo, đồng trắng nước trong đậm tình thôn dã. Mảnh đất ấy tuy nghèo nàn lạc hậu nhưng lại giàu tình người nồng ấm. Con người làng quê từ bao đời vốn thuần hậu, chất phác, yêu thương nhau, cùng nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn. Nguyễn Khuyến dành cho họ sự cảm thông thấu hiểu, trân trọng chân tình; Cũng thế, người nông dân dành cho Nguyễn Khuyến sự tin yêu rất mực: “Nguyễn Khuyến rất quen mà cũng rất lạ”, Quen, vì một ông quan biết minh triết bảo thân, bảo toàn khí tiết nhà Nho khi nhận thức cuộc cờ tàn, không tham quyền cố vị; Lạ, vì ông không phải là một vì quan biết nghiêng mình xuống dân nghèo mà còn gắn bó, sống cùng với đời sống của dân nghèo trong thời buổi nhiễu nhương: “Vua chèo còn chẳng ra chi”. Nhận xét về điều này, Nguyễn Văn Huyền cho rằng: “Người ta giơ tay đón chào – không có võng lọng, cờ quạt gì rước ông Tam Nguyên về làng. Người ta không gọi ông là quan lớn, cụ lớn, mà gọi là cụ Tam. Người ta mời cụ Tam uống rượu, mời cụ dự các đám hiếu đám hỷ trong làng. Nhân dân lao động nhìn nhận ông là người của họ”
[28; tr11]. Tam nguyên về với làng Bùi, ông thực sự trở thành “người của họ”.
Khác với những nhà Nho Việt Nam trung đại khác, khi về ẩn cư thường hòa
vào thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên làm thú vui nhàn tản, nhà Nho Nguyễn Khuyến không chỉ hướng cái nhìn thương cảm của mình về đời sống dân nghèo mà còn trực tiếp gắn bó sống với đời sống dân nghèo. Ông về làng Bùi với sự tự nguyện và tinh thần kiên quyết cao độ. Cũng vậy, Không gian làng Bùi chào đón Nguyễn Khuyến như chào đón người bạn cố tri. Một người từng bôn tẩu trên đường đời loạn lạc, từng nếm trải chức cao vọng trọng, khi nhận ra sự thực phũ phàng, biết giữ trọn thanh danh, trở về với người bạn cố tri quê hương ẩn dật, ông luôn dành những cảm tình đặc biệt yêu thương, trân trọng người lao động, thương mến và nhìn họ rất bao dung. Nguyễn Khuyến là người có mối quan hệ mật thiết với làng quê, gắn với sự nghèo túng từ ngày chƣa đỗ đạt, đến khi trở về lại tiếp tục cảnh thanh bần. Hình ảnh cuộc sống cần lao in đậm trong thơ ông tổng đốc về hưu: “Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa”(Chốn quê). Đồng chiêm xơ xác, tiêu điều là hiện lên thực tế cảnh mất mùa, đói kém. Đây là hình ảnh tang thương của nhà nông cho thấy nỗi lòng canh cánh chuyện sinh kế của người dân nghèo ở vùng chiêm trũng. Nếu không có một tình yêu làng quê sâu đậm cùng cái nhìn thấm đẫm nhân văn, ắt hẳn Nguyễn Khuyến không thể có đƣợc những hình ảnh chân thật, nên thơ về quê hương như thế.
Nguyễn Khuyến luôn ý thức rất rõ giá trị của bản thân lúc tham chính lẫn khi ẩn dật. Nhà thơ bộc bạch khá rõ:
Lịch duyệt phong sơn bán bạch đầu, Nhất quan hạnh đắc lão nhi hưu.
Thế đồ kim hựu đa kha khảm, Lợi cục nan năng quả oán vưu.
Vị ngã phất tu chung hữu khích, Thứ nhân thóa diện tích tằng ƣu.
Bạch bôi diệc vị vong tình giả, Mạc quái môn tiền thỉ độc ngưu.
(Tiểu thán)
Dịch nghĩa (Từng trải gió sương đã bạc nửa mãi đầu, Làm một chức quan, may đƣợc cáo lão về nghỉ.
Trên đường đời, nay lại gặp nhiều bước gập ghềnh, Trong cuộc lợi, khó giữ đƣợc ít lời oán trách.
Kẻ phảy râu cho mình, rốt cuộc cũng gây nên hiềm khích,
Người ta nhổ vào mặt mà mình chùi đi, đời xưa còn cho là đáng lo.
Uống trăm chén rƣợu cũng vì để quên mọi sự,
Đừng lấy làm lạ trước cảnh con trâu già liếm nghé ở trước cửa)
Sự sụp đổ của ý thức hệ nho giáo đã kéo theo hàng loạt những giá trị khác đang trên đà tuột dốc. Bao nhiêu cương thường, đạo lý đều trở nên lỏng lẻo, con người không thiết tha gì với những quy tắc ấy. Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, rơi vào tình cảnh hỗn loạn, nhiễu nhương, các quy tắc chuẩn mực truyền thống đều bị phá vỡ. Chính sự phá vỡ đó mang đến cho người sáng tác một cái nhìn mới về cảm hứng hiện thực. Đó chính là bước tạo đà triệt để nhằm hướng tới một sự phản ánh hiện thực hết sức sinh động trong sáng tác của người nghệ sĩ. Nhận thức rõ điều ấy, Nguyễn Khuyến đã dám đứng cao hơn mọi đối tượng phàm tục đương thời, biết xác lập tƣ cách để nói chuyện với những giá trị của truyền thống, với tiền nhân. Vì vậy, ứng xử của ông trước dòng chảy thế cuộc là những ứng xử thuận tình đáng trân trọng.
Tiểu kết Chương 2
Có thể nói, những biểu hiện của cảm thức thời gian trong thơ chữ Hán, chữ Nôm của Nguyễn Khuyến đƣợc định hình trên hành trình thay đổi phong cách và quan niệm nghệ thuật của chính tác giả. Trong sự vận động ấy, Nguyễn Khuyến đã tự thân “chuyển hóa” trở thành một dật nhân, một nhà trào phúng, một nhà thơ kép Hán -Việt và đặc biệt hơn là ông đã có những đóng góp rất thiết thực của mình đối với thơ cổ điển giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX. Đó là cảm quan hiện thực rất đa dạng, tinh tế và bám sát thời cuộc. Những bài thơ của ông nhƣ những trang nhật kí hành trình vô cùng hấp dẫn và thú vị. Bằng cảm thức thời gian có sự khu biệt với các thế hệ tiền bối nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, trong thơ chữ Hán, chữ Nôm của mình, Nguyễn Khuyến đã chuẩn bị cho một cuộc vận động mới trong tiến trình hiện đại hóa văn học ở chặng đường đầu thế kỉ XX.
Chương 3
PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN