Một số bài nghiên cứu đã nói đến tình cảm của Nguyễn Trãi đối với "Quê" và "Nhà" như Bài Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tác giả Tôn Quang Phiệt đã viết về tình cảm của Nguyễn Trãi với ngư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn học trung đại Việt Nam nói chung, văn học thế kỉ
XV nói riêng, phản ánh lịch sử văn học Việt Nam có không ít những anh hùng cứu quốc Trong số những anh hùng cứu quốc của dân tộc ta thì Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ là những nhân vật lỗi lạc nhất Các nhân vật này trong quá trình hình thành
và phát triển của dân tộc đã làm nên những sự nghiệp phi thường, làm rạng rỡ đất nước cho đến muôn đời Đối với Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ nói chung, chúng ta chỉ có thể biết được sự nghiệp qua những sự kiện đã được ghi một cách vắn tắt ở các quyển sử biên niên Duy có Nguyễn Trãi là vị anh hùng cứu quốc, không những đã
để lại sự nghiệp còn được ghi trong chính sử, mà còn để lại khá nhiều tác phẩm nói lên tư tưởng của ông về các mặt triết học, quân sự, chính trị và nhiều thơ văn hết sức quý báu, có giá trị và đóng góp không nhỏ đối với văn học thời đại bình Ngô phục quốc, cũng như đối với văn học dân tộc
1.2 Bởi tầm quan trọng cũng như vai trò đặc biệt trong lịch sử văn
học dân tộc mà hiện nay thơ văn của Nguyễn Trãi được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
Với những giá trị nội dung và nghệ thuật riêng, các tác phẩm của Nguyễn Trãi thể hiện khá rõ tư tưởng, con người của ông Tình cảm đối với gia đình, quê hương là một trong những nội dung lớn của thơ văn Nguyễn Trãi Do đó, nghiên cứu về “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi có ý nghĩa trực tiếp góp phần tìm hiểu thêm tình cảm của tác giả đối với quê hương; với gia đình riêng, giúp chúng ta tìm hiểu tính cách và con người Ức Trai, từ đó phát huy truyền thống đạo lý của dân tộc Mặt khác,
đó cũng là cơ sở để giúp người dạy, người học thấy được những phương diện đa dạng, thống nhất trong tư tưởng, con người, tâm hồn Nguyễn Trãi cũng như có cái nhìn, hiểu biết toàn diện hơn, đầy đủ hơn về ông
Trang 2tương đối đầy đủ và toàn diện những bài nghiên cứu có giá trị về thơ văn Nguyễn Trãi qua các thời kỳ lịch sử Một số bài nghiên cứu đã nói đến
tình cảm của Nguyễn Trãi đối với "Quê" và "Nhà" như Bài Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, tác giả Tôn Quang Phiệt đã viết về tình cảm của
Nguyễn Trãi với người cha muôn vàn kính yêu của ông - một người có tài, yêu nước, thương dân và giàu chí hướng
Bên cạnh việc đề cập đến tình cảm của Nguyễn Trãi đối với cha, tác giả của bài viết cũng đã nói đến tình cảm của nhà thơ đối với những người bạn
Bài viết Hai cảnh ngộ, một tâm tình của nhà thơ Nguyễn Trãi, tác giả
Miễn Trai đã đề cập đến tình cảm của nhà thơ đối với quê hương và những người bà con hàng xóm trong cảnh nước mất nhà tan khi quân Minh sang xâm lược
Bài viết Ức Trai thi tập, những vần thơ chất nặng suy tư , tác giả
Trương Chính cũng đã viết về tình cảm của ông đối với quê hương Côn Sơn và đối với những người bạn của ông
2.2 Nghiên cứu về tác gia Nguyễn Trãi đề cập tới những bài thơ viết về viết về "Quê" và "Nhà"
Một số công trình nghiên cứu về tập thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi cũng đã phần nào nhắc đến tình cảm của Nguyễn Trãi đối với quê hương, gia đình, người thân cũng như cuộc sống thanh nhàn, gần gũi với thiên
nhiên của nhà thơ Cụ thể như bài viết "Quốc Âm thi tập - tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam" của Xuân Diệu, "Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ quốc âm Nguyễn Trãi" của Bùi Văn Nguyên Những công trình
nghiên cứu này đã đề cập đến cuộc sống của Nguyễn Trãi những năm tháng cuối đời từ bỏ công danh về ở ẩn nơi quê nhà, đó là quê hương Côn Sơn muôn nhớ vàn thương của ông
Cuốn sách Nguyễn Trãi với Quê hương Nhị Khê của tác giả Hà Sơn
Bình viết dịp kỷ niệm lần thứ 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi cũng đã nhắc đến cái tình của ông đối với Nhị Khê
Trong bài Cảm hứng quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du qua suy cảm về gia đình, người thân trên tập chí Khoa học, ĐHSP TPHCM,
tác giả Trần Thị Mai đã nhắc đến tình cảm của Nguyễn Trãi đối với tổ tiên, cha mẹ trong sự đối sánh với nhà thơ Nguyễn Du, tuy nhiên đây chỉ
là những tư liệu mang tính chất so sánh để làm nổi bật lên cái tình của Nguyễn Du đối với người thân và gia đình
Trang 32.3 Kết luận chung về lịch sử vấn đề
Qua lược khảo những công trình nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi nhận thấy, các bài nghiên cứu đã phần nào nói đến tình cảm của Nguyễn Trãi đối với "Quê" và "Nhà" Mặc dù chưa tập trung đi vào tìm hiểu một cách cụ thể nhưng đây được xem như những hướng nghiên cứu mở đầu và định hướng quý báu cho một quá trình nghiên cứu toàn
diện hơn, sâu sắc hơn trong đề tài nghiên cứu "Quê" và "Nhà" trong thơ Nguyễn Trãi của chúng tôi
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện luận văn “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát hai tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Trãi: Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập
3.2 Mục đích nghiên cứu
3.2.1 Luận văn nhằm làm rõ tình cảm của Nguyễn Trãi đối với
“Quê” và “Nhà”, cũng như nghệ thuật thể hiện tình cảm đối với “Quê” và
“Nhà” trong các sáng tác thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của ông
3.2.2 Từ những vần thơ viết về “Quê” và “Nhà”, hiểu rõ hơn vẻ đẹp
con người nhân bản bên cạnh vẻ đẹp anh hùng, bậc vĩ nhân Nguyễn Trãi
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi tiến hành tập hợp, khảo sát, thống kê các câu thơ, bài thơ
có liên quan đến nội dung của luận văn và sắp xếp, hệ thống hóa tư liệu theo các nội dung cụ thể
4.2 Phương pháp phân tích, thẩm bình
Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt, phù hợp với nội dung của luận văn, với những nhận định xen lẫn phân tích, thẩm bình tác phẩm
và khái quát vấn đề nghiên cứu trong các chương mục
4.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh được sử dụng để nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, phân tích tốt hơn các tư liệu dẫn chứng, làm cơ sở
để rút ra kết luận có tính đối sánh Phương pháp này nhằm tìm ra những
nét khác biệt về "Quê" và "Nhà" trong thơ Nguyễn Trãi với một số tác
gia tiêu biểu trong văn học trung đại
5 Kết quả đạt được
Trang 4- Chỉ ra được tình cảm của Nguyễn Trãi đối với “Quê” và “Nhà”
trong các sáng tác thơ của ông
- Nêu lên nghệ thuật thể hiện tình cảm đối với “Quê” và “Nhà” trong
thơ chữ Hán, chữ Nôm của nguyễn Trãi
- So sánh thơ viết về “Quê” và “Nhà” của Nguyễn Trãi với một số
tác giả khác như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…
- Góp thêm tư liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy thơ Nguyễn Trãi trong nhà trường ở các cấp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo,
luận văn được triển khai theo 3 chương
Chương 1: “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi từ nội dung cảm hứng
Chương 2: “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi từ nghệ thuật biểu hiện
Chương 3: “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi từ góc nhìn so sánh với một số tác giả tiêu biểu
Chương 1 "QUÊ" VÀ "NHÀ" TRONG THƠ
NGUYỄN TRÃI TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG
1.1 Thống kê, phân loại những bài thơ viết về “quê” và “nhà” trong thơ Nguyễn Trãi
1.1.1 Khái niệm “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi
Trong thơ Nguyễn Trãi, "Quê" là nơi ông lớn lên, nơi đó có ông bà, cha mẹ, tổ tiên, những người em, người vợ và những người con, những người bạn, người hàng xóm trong cuộc sống thường nhật của ông Trong thơ Nguyễn Trãi, những vần thơ viết về "Quê" là những vần thơ viết về mảnh đất Côn Sơn, nơi ông gọi là "quê cũ" - mảnh đất góp phần tạo nên phẩm chất của ông Bên cạnh Côn Sơn là Nhị Khê, nơi ông lớn lên và trau dồi trí tuệ cho ông lúc thiếu thời
"Nhà" trong thơ Nguyễn Trãi chính là những vần thơ viết về gia đình ông, có cha mẹ, có em, có vợ con của ông
Trong Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập có rất nhiều bài thơ, dòng
thơ viết về quê hương và gia đình với những tình cảm gắn bó tha thiết, sâu nặng của một trái tim lớn, một tấm lòng nhân hậu
Trang 5Tuy nhiên, việc phân chia “quê” và “nhà” chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi đôi khi trong “quê” có “nhà” và ngược lại, “nhà” gắn với “quê”
1.1.2 Quan niệm (tiêu chí) để phân loại những bài thơ viết về
“Quê” và “Nhà”
1.1.2.1 Dựa vào khái niệm "Quê" và "Nhà"
Theo khái niệm "Quê" trong thơ Nguyễn Trãi, quê là nơi ông lớn lên,
là nơi gia đình, những người thân quen sinh sống
"Nhà" cụ thể là gia đình ông, trong gia đình có cha mẹ, có vợ con, những người em, người bạn, người hàng xóm của ông Đồng thời, nói đến nhà, Nguyễn Trãi còn nói đến đời sống thường ngày của ông, gia đình và người dân nơi quê hương ông
1.1.2.2 Dựa vào nội dung các bài thơ
Trước hết, thơ viết về "Quê" bao gồm những bài thơ ông viết về quê hương Côn Sơn và quê hương Nhị Khê ở các phương diện phong cảnh, nỗi nhớ, tình yêu đối với quê hương - nơi ông sinh trưởng và nơi ông sống với gia đình, người thân
Thứ hai, thơ viết về "Nhà" bao gồm những bài thơ ông viết về chính gia đình của mình Trong gia đình, ông viết về tình cảm của mình với tổ tiên, cha mẹ, các em và các con; phản ánh cuộc sống giản dị với những sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày
1.2.2.3 Dựa vào quan niệm của người viết:
Nội dung bao trùm những bài thơ viết về "Quê" là tình yêu, nỗi nhớ đối với quê hương Những vần thơ viết về "Nhà" là những vần thơ thể hiện tình yêu, niềm thành kính đối với cha mẹ, dòng tộc, tình nghĩa anh
em, huyết thống, tình thương đối với các con, tri kỷ đối với bạn bè và nồng hậu đối với những người dân quê
1.1.3 Thống kê, phân loại những bài thơ viết về “Quê”
Viết về quê hương Nhị Khê
Viết về quê hương Côn Sơn hương Nhị Khê Viết về quê
Trang 61.1.4 Thống kê, phân loại những bài thơ viết về “Nhà”
Tình cảm đối với người thân
Cuộc sống nơi quê nhà
Tình cảm đối với người thân
Phạm vi phản ánh trong thơ viết về "Quê" và "Nhà" của Nguyễn Trãi bao gồm cả Côn Sơn và Nhị Khê nơi ông sinh sống và nơi ông lớn lên
1.2 Tình cảm đối với “Quê”
1.2.1 Côn Sơn - niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi
1.2.1.1 Viết về quê hương - Côn Sơn
Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi đã từng sống với mẹ và ông ngoại tại Côn Sơn Nguyễn Trãi xem Côn Sơn là "quê cũ" của mình Trong "Ức Trai thi tập" và "Quốc âm thi tập", ông có nhiều bài thơ viết về Côn Sơn với tình cảm thắm thiết Bởi có nhiều kỉ niệm gắn bó với Côn Sơn, nên ông không thể chọn nơi nào khác mà bỏ Côn Sơn Côn Sơn hiền hòa bao dung như lòng mẹ, đón nhà thơ như đón đứa con xa trở về Nơi đó cũng chính là hình ảnh quê hương trọn vẹn trong nỗi nhớ của Nguyễn Trãi trong suốt những năm tháng đi xa: “Thập niên phiêu chuyển thán bồng
bình / Quy tứ dao dao nhật tự tinh (Mười năm xiêu dạt thân mình như cỏ bồng cánh bèo / Lòng muốn về lay láy ngày nào cũng như cờ phất) (Quy Côn Sơn chu trung tác)
Côn Sơn là chốn xưa gắn bó với Ức Trai tiên sinh từ thuở ấu thơ Côn Sơn cũng là hình ảnh của núi xưa, quê cũ trong tâm khảm của những người luôn mơ ước nhàn dật, tiêu sái Cảnh quê thanh bình hiện lên trong những vần thơ của thi nhân, thiên nhiên bao phủ là thiên nhiên của ngàn đời đất Việt, là nơi có thể gạn lắng những phiền toái của cuộc đời
Trang 71.1.2.2 Nỗi nhớ Côn Sơn
Trong hai tập thơ ông đã viết rất nhiều về Côn Sơn và Côn Sơn là nguồn cảm hứng lớn, không bao giờ vơi cạn của hồn thơ Ức Trai Chính
vì lẽ đó, bao nhiêu vần thơ về Côn Sơn là bấy nhiêu vần thơ xúc động, bấy nhiêu tâm trạng, tâm tình Thi nhân nhớ Côn Sơn lúc xa quê tìm đường cứu nước: “Duy hữu cố sơn tâm vị đoạn / Hà thì kết ốc hướng mai
hiên” (Duy có núi quê lòng chửa dứt / Bao giờ lều chụm cạnh chồi mai)(Hạ nhật mạn thành) Thậm chí, lúc sống giữa quê nhà, thi nhân vẫn
mộng về quê: “Hương lý tài qua như mộng đáo” (Vừa lại quê nhà như thấy mộng)(Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác)
Côn Sơn còn là tiếng gọi trở về Tiếng gọi ấy tha thiết, mãnh liệt ngay cả khi ông làm "cánh chim bằng biển Bắc cưỡi gió lên cao chín vạn dặm", ngay cả khi ông như "ngựa già đường xa kham ruổi" Và Côn Sơn không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà còn là tiếng vọng của vũ trụ thôi thúc ông trở về di dưỡng tinh thần, hòa nhập với thiên nhiên
1.2.2 Nhị Khê - niềm hoài niệm lớn trong thơ Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi yêu quê hương Nhị Khê cũng như yêu quê hương Côn Sơn Cái tình của ông đối với Nhị Khê bắt nguồn từ thuở ông bà, nhất là từ người cha thân yêu đã gửi rất nhiều năm tháng đời mình ở đất Nhị Khê Những vần thơ ông viết về Nhị Khê không nhiều, thông thường ông nói đến Côn Sơn nhiều hơn, phải chăng nhà thơ hay lui tới Côn Sơn nhiều hơn là Nhị Khê? Có điều, trong tâm tư của tác giả, Côn Sơn hay Nhị Khê cũng đều là quê hương, và tình càng nặng thì nợ nước càng sâu:
“Tha niên Nhị Khê ước/ Đoản lạp hà xuân sừ” (Tặng hữu nhân)
1.3 Tình cảm đối với “Nhà”
1.3.1 Cuộc sống nơi quê nhà
Nguyễn Trãi luôn ca ngợi cuộc sống ẩn dật, bày tỏ khát khao được sống giữa thiên nhiên để hưởng thú "cày nhàn, câu vắng" Suốt những năm tháng ở triều, tiếng gọi trở về vẫn không ngừng thôi thúc Ức Trai Tập thơ chữ Hán và chữ Nôm đã minh chứng cho chúng ta điều này Sau khi từ giã chốn quan trường, ông trở về quê hương sống chan hòa, hòa hợp với thiên nhiên Ông làm bạn với mây núi, trăng sao Cuộc sống dân
dã nơi thôn quê đã giúp Nguyễn Trãi nhận ra biết bao cảnh đẹp Đó là
cảnh làng quê thanh bình, đầy sức sống: “Cây rợp bóng, am che mát/ Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn”(Ngôn chí, bài 20)
Trang 8Còn về cuộc sống sinh hoạt thường ngày, qua những vần thơ chữ Hán, chữ Nôm ta thấy được sự chân chất, giản dị của một nhà nho ở ẩn, vui thú thanh nhàn, giao cảm với muôn loài và trải nghiệm cuộc sống lao động của những người nông dân chân lấm tay bùn Nguyễn Trãi ở trong những gian lều cỏ, kiến trúc rất sơ sài và tạm bợ
Và hình ảnh một ông già xắn áo, lột hài bước xuống ruộng vườn như một lão nông: “Một cày một cuốc thú nhà quê / Áng cúc xen lan vãi đậu
kê” (Thuật hứng, bài 3)
Bữa ăn của Nguyễn Trãi thường rất đạm bạc, giản dị: "Cơm ăn chẳng
quản dưa muối / Hôm dao đủ bữa bát cơm xoa (Ngôn chí, bài 17) Đến
cái mặc của Nguyễn Trãi cũng thật bình dị "Áo mặc nài chi gấm thêu"
Cứ ngỡ rằng, về với Côn Sơn, ông sẽ được hưởng một cuộc sống thanh nhàn, hạnh phúc Mà trong đáy sâu tâm hồn ông vẫn cứ day dứt một nỗi buồn không thể nguôi về cảnh ngộ bản thân, về thời thế
Chưa bao giờ ông quên trách nhiệm của một kẻ sĩ đối với đất nước, gia đình và xã hội, trong lòng ông vẫn luôn canh cánh: “Còn có một lòng âu
việc nước / Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung” (Thuật hứng, bài 23)
Có thể nói tình cảm của Nguyễn Trãi đối với Côn Sơn vừa là một biểu hiện tự nhiên của tình yêu quê hương đất nước, lại vừa là một thái
độ chính trị, một quan điểm nhân sinh của một nhân cách lớn Đồng thời
nó cũng là một nỗi đau lớn, một bế tắc lớn của một lý tưởng xã hội
không thể được thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ
1.3.2 Tình cảm đối với người thân
Là người giàu tình cảm “cuồn cuộn nước triều đông” nhưng Nguyễn
Trãi ít khi bộc bạch, nhất là tình cảm đối với người thân Phải chăng tuổi
ấu thơ với những mất mát lớn về tình cảm gia đình đã giúp Nguyễn Trãi
nén lại những cảm xúc riêng tư? Trong Ức Trai thi tập, Nguyễn Trãi
nhắc đến tình cảm của mình đối với tổ tiên, cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc không nhiều, nhưng trong mỗi câu, mỗi bài là cả tấc lòng da diết, đau đáu một tình yêu
Nguyễn Trãi nhớ về cha mẹ: “Trì thử tặng quan hoàn tự cảm / Thi
thành ngã diệc lệ triêm khâm (Cầm bài thơ này tặng người ta còn tự cảm / Thơ làm xong ta cũng nước mắt áo đầm đìa) (Đề Hà hiệu úy Bạch Vân
tư thân)
Trang 9Tình cảm đối với vợ con cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong thơ, nhà thơ đã khuyên nhủ người vợ của mình rằng "Xống áo chăng còn mô
dễ xin"
Đối với con, Nguyễn Trãi viết: “Xưa đà có câu truyền bảo/ Làm
biếng hay ăn lở non” (Huấn nam tử)
Bên cạnh tình cảm đới với cha mẹ, con cái tình cảm đới với bạn bè
và rộng ra khắp các đối tượng, các tầng lớp nhân dân
Quê hương đã đem lại niềm tin, niềm hi vọng và cả sức mạnh để bước tiếp khi cuộc đời còn lắm chông gai Để rồi khi nỗi nhớ trở nên thường trực, day dứt khôn nguôi thì khát vọng hồi hương càng mãnh liệt, con người luôn mong muốn một bến neo đậu, một nẻo đi về dù rằng nó
có thể là mong manh, hạn hữu Nỗi nhớ về quê hương có khao khát được chia sẻ, được giao tiếp với cả những người xung quanh Hôm nay và mãi mãi ta vẫn còn rung động trước những tình cảm đẹp đẽ mà Nguyễn Trãi
dành cho quê nhà, bởi lẽ "Có thể tách một con người ra khỏi quê hương
họ chứ không thể tách quê hương ra khỏi trái tim"
1.4 Những tương đồng và khác biệt giữa thơ chữ Hán và chữ Nôm khi viết về “Quê” và “Nhà”
1.4.1 Những nét tương đồng giữa thơ chữ Hán và chữ Nôm khi viết về “Quê” và “Nhà”
Đó là sự tương đồng khi thể hiện tình yêu, sự gắn bó máu thịt với quê hương xứ sở; sự tương đồng trong cách thể hiện tình yêu thiên nhiên thôn dã; tương đồng trong nỗi nhớ quê, nhớ cha mẹ, những người anh em, bạn
bè thân thiết
Khi viết về nỗi nhớ "Quê" và "Nhà", tác giả thường gửi gắm nỗi nhớ quê, nhớ người thân qua giấc mộng, mượn hình ảnh con truyền, ngọn núi, áng mây, vầng trăng, bến sông Nhưng không đơn thuần chỉ là cảnh,
mà còn là tình Còn khi viết về đời sống sinh hoạt, nhà thơ dùng những hình ảnh gần gũi thân thuộc với cà, rau, cá, chim muông, cỏ cây đó là những cảnh vật gắn liền với hiện thực đời sống ở làng quê Việt Nam, nó thể hiện một cuộc sống thanh đạm, bình dị
Thể hiện tình cảm đối với "Quê" và "Nhà", là những tình cảm chân thành, tha thiết, nồng hậu của tâm hồn Ức Trai Tình cảm đó không chỉ là niềm vui, là nỗi nhớ, là niềm hân hoan rạo rực mà còn có cả sự day dứt,
Trang 10khắc khoải, âu lo, đau xót của một tâm hồn luôn đau đáu hướng về quê hương, đất nước
Những vần thơ viết về "Quê" và "Nhà" đều gắn gọn, súc tích, mang
vẻ đẹp tự nhiên, giản dị, gần gũi
1.4.2 Những nét khác biệt giữa thơ chữ Hán và chữ Nôm khi viết
về “Quê” và “Nhà”
Trước hết, về số lượng các bài thơ viết về "Quê" và "Nhà": thơ viết
về "Quê" trong tập thơ chữ Hán chiếm ưu thế so với tập thơ viết bằng chữ Nôm và hầu hết, những bài thơ chữ Hán khi viết về "Quê" chủ yếu được sáng tác khi Nguyễn Trãi sống xa quê, sống đời lưu lạc nơi đất khách, còn những bài thơ chữ Nôm được sáng tác vào những năm cuối đời, khi Nguyễn Trãi đã về ở ẩn tại Côn Sơn Ngược lại, số lượng bài thơ
viết về "Nhà" trong Ức Trai thi tập lại chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với Quốc âm thi tập
Về cách thể hiện tình cảm đối với "Quê" và "Nhà": tình cảm đối với quê hương, gia đình trong những vần thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm đều chan chứa suy tư, tuy nhiên với những bài thơ chữ Hán, ta nhận thấy sự khác biệt trong cách thể hiện qua các hình ảnh, biểu tượng có thực trong thiên nhiên, hình ảnh mang tính biểu tượng của thiên nhiền kỳ vĩ như trăng, núi, sông ta thấy nỗi nhớ thương quê hương gắn với suy tư, khắc khoải, âu lo và những khát vọng được trở về Nhưng trong thơ chữ Nôm,
những vần thơ viết về "Quê" và "Nhà", tác giả chủ yếu đề cập đến vấn đề
thế sự, nhân tâm và tâm tư, hoài bão cá nhân, thi nhân sử dụng rất hạn chế hình ảnh thiên nhiên để thể hiện nỗi lòng mình, nếu sử dụng lại là những cảnh vật nhỏ bé, bình dị như nắng chiều, mây sớm, dậu cây, bờ
cỏ, rau muống Nhân vật trữ tình ở đây trở thành chủ thể cảm thụ, chiếm lĩnh vẻ đẹp của thiên nhiên từ góc độ một con người hòa mình vào quê
hương xứ sở, nơi sinh trưởng Trong Quốc âm thi tập gắn liền với tình
cảm của nhà thơ đối với quê hương, gia đình, người thân, bạn bè là con người thi nhân có một thái độ ngao ngán trước thời cuộc, ghê sợ thế tục,
đồng thời tình yêu đối với "Quê" và "Nhà" của Nguyễn Trãi thôi thúc
ông một lòng đốt sáng bó đuốc đạo nghĩa
Trang 11Tiểu kết chương 1
Những vần thơ viết về "Quê" và “Nhà” của Nguyễn Trãi cả trong thơ chữ Hán và trong thơ chữ Nôm có những điểm tương đồng và khác biệt, nhưng tựu chung lại, qua những vần thơ viết về "Quê" và "Nhà" trong thơ Nguyễn Trãi, ta thấy được một tấm lòng, một nhân cách lớn luôn hướng về quê nhà, nó trở thành một niềm ám ảnh khôn nguôi trong lòng người đọc
Chương 2 "QUÊ" VÀ "NHÀ" TRONG THƠ
NGUYỄN TRÃI TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
2.1 Hệ thống thể loại trong thơ viết về “Quê” và “Nhà”
2.1.1 Thống kê hệ thống thể loại khi viết về “Quê” và “Nhà” trong thơ Nguyễn Trãi
Thể Đường luật
Thể thơ
Cổ phong
Thất ngôn bát
cú
Thất ngôn tứ tuyệt
Thất ngôn xen lục ngôn
Thất
ngôn bát
cú
Thất ngôn tứ tuyệt
Ngũ ngôn bát
cú
Ngũ ngôn tứ tuyệt Tổng
Thể thơ Đường luật: Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức
tạp được thể hiện ở 5 điều sau: luật, niêm, vần, đối và bố cục
Hầu hết, các bài thơ chữ Hán nói chung, các bài thơ viết về "Quê" và
"Nhà" nói riêng đều có niêm, luật, vần rất nghiêm chỉnh, câu chữ đối
nhau rất cân xứng và chặt chẽ
Một đặc điểm nữa là thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi khi viết về "Quê"
và "Nhà" dùng chữ rất cô đọng, hàm súc, chữ ít nghĩa nhiều nhưng vẫn
có vẻ thật thà, giản dị và rõ ràng
Trang 12Thơ luật Đường là loại thơ suy tư xuất phát từ nội tâm và đi sâu vào nội tâm Những vần thơ luật Đường của ông nặng chất suy tư, kín đáo và trầm lắng, phù hợp với tâm trạng con người ông
Thể thơ Cổ phong: Thơ viết về "Quê" và "Nhà" trong thơ chữ Hán
của Nguyễn Trãi viết theo thể cổ phong chiếm tỉ lệ rất ít, chỉ một bài
“Côn Sơn ca” Đây là thể thơ tương đối tự do và có dung lượng lớn, không bị niêm luật, số câu, số chữ gò bó nên có màu sắc tự do, phóng khoáng, có khả năng biểu hiện tư tưởng, tình cảm rất phong phú
2.1.2.2 Thơ chữ Nôm
Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn: là thể thơ bắt nguồn từ Trung Quốc,
cũng được sử dụng phổ biến trong sáng tác thơ ca ở nước ta
Về hình thức, nhìn chung số lượng các câu lục ngôn trong mỗi bài thơ không giống nhau, có những bài chỉ có một đến hai câu sáu tiếng nhưng cũng có một số bài dùng 3, 4 câu 6 tiếng Vị trí các câu lục ngôn cũng có sự khác nhau Có những bài, câu lục ngôn nằm ngay dòng đầu:
“Con lều mọn mọn đẹp sao / Trần thế chăng cho bén mỗ hào” (Thuật hứng 7) Có những bài, câu lục ngôn được đặt ở câu thứ 7 của bài: “Nước
đào giếng cơm cày ruộng/ Thay thảy dường bằng nguyệt Cửu Giang”
(Bảo kính cảnh giới - 2) Có những bài, câu lục ngôn nằm xen kẽ với câu
thất ngôn: “ Gió nhặt đưa qua trúc ổ / Mây buồn phủ rợp thư phòng / Thức nằm nghĩ ngợi còn mường tượng / Lá đưa ai quét cửa thông”
(Thuật hứng 6)
Tóm lại, từ chỗ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ của mình, Nguyễn Trãi đã làm nên một điều kỳ diệu như Giáo sư Đặng Thai Mai đã nhận xét: "Đây là một điểm đáng chú ý Trong kỹ thuật viết thơ của Nguyễn Trãi rõ ràng có một sự cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam, trong đó câu 6 tiếng xen lẫn với câu 7 tiếng, khác hẳn với quy cách
niêm luật thơ Đường"
2.2 Hệ thống hình tượng trong thơ viết về “Quê” và “Nhà”