Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Khuyến
3.2.2. Hệ thống điển cố, thi liệu thể hiện kiểu thời gian tâm lí
Sử dụng điển cố trong thơ là một đặc điểm mang tính quy phạm của văn học trung đại Việt Nam. Nó thể hiện chiều sâu và phong cách uyên bác của tác giả. Từ môi trường đào tạo và không gian thời đại cũng như tính chất quy phạm của thể loại, các tác gia văn học trung đại gần nhƣ rất thuần thục trong việc sử dụng điển cố. Hà Ngọc Hòa nghiên cứu “Truyền thống bác học và truyền thống bình dân trong thơ Nguyễn Khuyến” đã nhấn mạnh: “Lớn lên trong “cửa Khổng sân Trình”, tinh thông thơ phú, kinh điển Nho giáo, nhà Nho – nhà thơ nào cũng thuộc thi liệu Hán học, thuộc “chuyện xƣa tích cũ” để dẫn chứng, lập luận và lấy đó làm tấm gương đạo đức, triết lý sống cho bản thân và điều hành xã hội” [19; tr.110]. Nhà Nho Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ. Với tƣ cách là một biểu hiện đặc trƣng cho sự uyên nhã của ngôn ngữ nghệ thuật thơ chữ Hán, điển cố và thi liệu Hán học có thể được sử dụng để biểu đạt tất cả các phương diện khác nhau của phong cách nghệ thuật, trong đó có cảm thức thời gian.
Khảo sát hệ thống Điển đƣợc sử dụng trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, cho thấy nhà thơ dùng nhiều điển với nhiều mục đích thể hiện các nội dung, ý nghĩa khác nhau nhằm bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của mình. Điều này cho thấy, bên cạnh sáng tác thơ chữ Hán, sáng tác thơ bằng chữ quốc ngữ là một sáng tạo vƣợt thoát, song, ông cũng không thoát ly truyền thống tập cổ, coi cái hàm súc, trang nhã là những phẩm chất thẩm mỹ của văn chương. Mặt khác, ông muốn qua đó tạo thêm vốn từ ngữ diễn đạt, thể hiện sự uyên bác sâu sắc của mình. Trong thơ, điển cố đƣợc Nguyễn Khuyến sử dụng khá thường xuyên. Vì thế, hệ thống điển cố trong thơ ông phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều nhóm, loại khác nhau. Bên cạnh đó, ông còn sử
dụng nhiều cả những tục ngữ, thành ngữ dân gian mang ý nghĩa có tính phổ quát.
Với tƣ cách là một thành phần ngôn ngữ, điển cố và thi liệu có thể biểu đạt nhiều nội dung khác nhau liên quan đến hiện thực và trạng thái đời sống tinh thần, thái độ cũng như tình cảm của con người trong thời đại. Dựa vào ý nghĩa biểu trưng của hệ thống từ ngữ điển cố, thi liệu Hán học đƣợc sử dụng trong thơ Nguyễn Khuyến nhằm biểu thị thái độ, ứng xử của nhà thơ trước các dòng chảy thời gian, chúng tôi phân chia hai nội dung nhƣ sau: Dụng điển ca ngợi cuộc sống ẩn dật và dụng điển nêu cao tinh thần khí tiết thanh cao nhà Nho.
Đặc tính của Điển là gợi mở và kích thích sự liên tưởng. Nó chỉ gói gọn trong một vài từ mà có thể biểu đạt nhiều nội dung, mở ra những liên tưởng rộng lớn. Từ ngữ cô đọng của Điển cố có thể khắc hoạ hình tƣợng cụ thể, sinh động phản ánh mọi sinh hoạt văn hoá, biểu đạt tư tưởng, tình cảm của tác giả và góp phần làm cho câu thơ tránh đƣợc sự khô khan, trần trụi. Phát huy tác dụng của Điển cố, nhà thơ đã sử dụng rất sáng tạo, đƣa vào câu thơ, ý thơ nhằm biểu đạt mọi nội dung, cảm xúc của thi nhân. Nhà nho Nguyễn Khuyến từng đeo đuổi con đường “phò vua giúp nước”, cũng mong được trổ tài kinh bang tế thế, giúp triều đình xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị. Tiếc thay, giấc mơ được phụng sự đất nước đã không còn phù hợp khi từng ngày diễn ra biết bao biến cố, Nguyễn Khuyến ngậm ngùi cảm thán: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng” để rồi cũng chẳng nhận ra: “tớ là ai”!
Khảo sát 166 bài thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, chúng tôi ghi nhận tác giả sử dụng điển cố, thi liệu trong mỗi thi phẩm. Xét vấn đề ý nghĩa và giá trị thẩm mỹ của điển cố và thi liệu đƣợc sử dụng trong thơ Nguyễn Khuyến, có thể thấy nhà thơ sử dụng biểu hiện qua hai nội dung ca ngợi cuộc sống ẩn dật và khí tiết thanh cao nhà Nho. Cùng nghiên cứu về giá trị biểu hiện điển trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Hà Ngọc Hòa nhận định: “Trong truyền thống bác học, điển cố thi liệu đƣợc sử dụng qua hai nội dung: 1. Ca ngợi cuộc sống ẩn dật; 2. Ca ngợi khí tiết thanh cao của nhà Nho” [19; tr.111]. Hệ thống điển cố, thi liệu đƣợc Nguyễn Khuyến sử dụng trong thơ chữ Hán của mình có nguồn gốc từ Kinh, từ sử, từ tập, Đường thi, Tống từ, tiểu thuyết Minh Thanh, danh cứ của các danh gia Trung Hoa và Việt Nam. Để diễn đạt ý niệm thời gian mùa thu, ngoài từ ngữ mang tính định danh ra, Nguyễn
Khuyến thường dùng các điển cố Hoàng hoa, trùng dương, sài môn:
Tiểu trì lục trướng nãi như thử, Khứ tuế hoàng hoa thù bất nhiên.
Dịch nghĩa (Trong ao nhỏ nước xanh dâng lên còn như vậy, Cảnh hoa vàng năm ngoái đã khác hẳn rồi)
(Kỷ sửu trùng dương)
Hoàng hoa là hoa cúc vàng, đây là một thi liệu đƣợc rút từ bài thơ cổ Tứ thời thi: “Xuân du phương thảo địa, hạ thưởng lục hà trì. Thu ẩm hoàng hoa tửu, đông ngâm bạch tuyết thi” (Ngày xuân đi trên cỏ, mùa hè xem sen trong đầm. Mùa thu uống rƣợu hoa cúc vàng, mùa đông ngâm thơ bạch tuyết). Hình ảnh hoàng hoa thường xuất hiện trong các bài thơ về mùa thu của thi nhân trung đại. Thơ chữ Hán của Nguyễn khuyến cũng không là ngoại lệ. Theo dõi mạch thơ, người đọc nhận thấy tính chất nhật ký rất rõ, có sự kiện, có nhân vật, có lời bình và có cả những cảm xúc cá nhân. Trong một số bài thơ viết tại năm Kỷ sửu (1889), tác giả thường sử dụng điển cố trùng dương (hay còn gọi là tiết trùng cửu). Trong văn hóa Trung Hoa, tiết trùng dương là thời gian trong năm diễn biến thành tập tục dân gian, tuy mỗi địa phương có thêm nghi thức tục lệ khác nhau, chung qui vẫn là cầu bình yên hài hòa, nội dung ấy từ hai ngàn năm nay vẫn không thay đổi. Các tập tục ngày trùng dương là: Lên cao, ăn bánh “cao”, ngắm hoa cúc và uống rượu hoa cúc. Tiết Trùng cửu là lúc nông nhàn sau thu hoạch vụ thu, lại là lúc các loại cây cỏ dại, mà đa phần đều là các dƣợc thảo quí, sau một mùa hè chói chang quả đã chín, củ đã đầy, đã đến vụ thu hái, chỉ còn hoa cúc thì lại trái khoáy “trăm hoa đua nở mùa xuân, cớ sao cúc lại muộn mằn về thu” nở rộ vàng rực cả mùa thu, làm cho phong cảnh càng thêm đẹp.
Trùng dương hà xứ bất tê phan, Ẩn kỷ thiên dung nhất lão nhàn.
Hoa diệc ái tàn khai vị đắc, Tửu nhân thị ẩm tích thành khan.
Dịch nghĩa (Tiết trùng dương không nơi nào là không trèo lên núi, Riêng một mình lão ngồi tựa ghế thảnh thơi.
Hoa cũng tiếc tàn nên chƣa hoa nào đã nở,
Rƣợu vì nghiện ngập, nên phải dè xẻn mà thanh nhƣ keo kiệt) (Kỷ sửu trùng dương II)
Đăng cao (lên núi) là một tập tục cổ của người Trung Quốc cứ đến tiết Trùng dương (mùng 9 tháng 9) thì đi chơi núi. Theo phong tục tập quán thì ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch hàng năm là ngày Tết cổ xưa của người Việt, gọi là Tết Trùng Dương hay còn gọi là Tết Trùng cửu, ngày tết hoa Cúc. Tết Trùng cửu lấy sự lặp lại của hai số 9 để nói về sự trường thọ. Tết trùng cửu ở Việt Nam ngày nay ít người còn biết đến về một khá phổ biến xƣa kia, mang nhiều nét đẹp về văn hóa. Nguyễn Khuyến sử dụng điển cố này kết hợp với hình ảnh “bão ủng miên” (Ôm vò rƣợu mà ngủ) để nói về tâm trạng của bản thân mình. Điển cố “bão úng miên” liên quan đến Tất Trác đời Tấn làm Lại bộ Lang trung, tính ham rƣợu, thấy hàng xóm nấu rƣợu, đêm đến sang uống trộm, say quá, nằm ngay bên vò rƣợu mà ngủ. Nhà bếp bắt đƣợc trói lại. Đến sáng chủ nhân mới biết, cởi trói cho Tất Trác và lại cùng nhau uống rượu. Hai điển cố được song song sử dụng trong Kỷ sửu trùng dương I không chỉ nói về văn hóa phong tục của ngày Trùng cửu, ƣớc vọng phúc thọ mà còn phảng phất thể hiện những cảm xúc của Nguyễn Khuyến trong những ngày lễ lạt vui mừng nhưng cô độc. Đất nước loạn lạc, bạn tri âm đã không còn, trong những câu thơ dụng điển có niềm riêng vấn vương về một thời phồn thịnh thuở nao.
Trong những bài thơ viết theo tâm thức mùa thu, ngoài hình ảnh hoàng hoa, trùng dương, Nguyễn Khuyến còn sử dụng đến điển cố danh nhân Đào Tiềm. So với những tác gia trung đại ở các thế kỷ trước, Nguyễn Khuyến là tác giả khi làm thơ ít nhắc đến tên các ẩn sĩ. Nhưng, riêng trường hợp ẩn sĩ Đào Tiềm là một hiện tượng đặc biệt, Nguyễn Khuyến hay dẫn một ý, hoặc một câu thơ trong một sáng tác nổi tiếng nào đó của danh nhân này. Đào Tiềm (365 - 427) người đời Tấn làm chức Huyện lệnh ở Bành Trạch đƣợc 80 ngày thì bỏ quan về ở ẩn có làm bài Quy khứ lai từ, trong đó có câu: Tam kính cựu hoang, tùng cúc do tồn (Ba luống đất bỏ hoang, chỉ có cây thông, cây cúc vẫn còn). Ý câu thơ nói đến việc ở nơi quê nhà vẫn còn chỗ cho Đào Tiềm vui thú và tam kính cúc, tùng cúc, ở đây đều đã trở thành điển và đồng thời là biểu tƣợng khí tiết của ẩn sĩ. Nguyễn Khuyến nhắc đến Đào Tiềm,
danh nhân ẩn dật vui với ba dặng cúc và luôn đặt mình trong sự suy ngẫm.
Sự tái hiện một cách liên tục điển cố danh nhân Đào Tiềm và các biến thể của điển cố này đã mang lại nhiều ý vị cho thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến. Đang cảm tác trước mùa thu yên ả, nhà thơ bỗng như “khựng” lại khi nghĩ và cảm thấy “thẹn”
với tiền nhân:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
(Thu vịnh)
Cùng với hoa cúc, hoàng hoa, trùng dương, ẩm tửu, khán sơn hình ảnh Đào Tiềm, Đào Lệnh, Bành Trạch… xuất hiện trong 18 bài thơ Nguyễn Khuyến tạo nên một trường ngữ nghĩa đặc biệt vừa thể hiện được ý tưởng của bài thơ, vừa khẳng định phong cách thơ Hán, Nôm của tác giả. Những hình ảnh nhƣ tây phong (gió tây), ẩn minh nguyệt (trăng náu mất, không hiện rõ), tiêu điều (hiu quạnh) và thử lão tao bạch đầu (ông già gãi đầu bạc) đƣợc tác giả sử dụng và phối hợp một cách linh hoạt trong mạch thơ đã góp phần thể hiện đƣợc tâm sự cảm xúc của nhà thơ.
Trong Xuân nguyên hữu cảm (Cảm nghĩ buổi đầu xuân), ta dường như thấy tác giả cũng không thể gƣợng gạo mà vui với tiết xuân, trong lòng luôn ẩn chứa những tâm sự rất nặng nề mà không thể chia sẻ cùng ai:
Tân tuế phương lại cựu tuế chu, Quần phương giai uyển ngã hà khô?
Tự liên vãn tiết cân hài quyện, Bất giác nhân gian nhật nguyệt tù.
Vô lịch ná tri thƣ Giáp tý, Hữu cừu vị cảm độc Xuân thu.
Thử tâm dĩ hĩ vô tha lự,
Huề trƣợng liêu vi hãn mạn du.
Dịch nghĩa (Năm mới đương đến, năm cũ đã hết,
Mọi cảnh đều tươi tốt cả, sao chỉ riêng mỗi mình ta khô?
Tự thương mình tuổi già gân cốt mỏi,
Không ngờ trong đời người, ngày tháng gấp rút.
Không có lịch, biết đâu mà ghi đƣợc Giáp tý, Kẻ thù còn đó, chƣa dám đọc kinh Xuân thu.
Tấm lòng này thế là thôi; còn nghĩ gì đến việc khác nữa, Âu là chống gậy đi chơi lang thang vậy).
Nối tiếp mạch cảm xúc trong những bài thơ thể hiện cảm thức thời gian, giọng thơ Nguyễn Khuyến vẫn ngậm ngùi, da diết. Thi liệu về hai chữ Giáp tý đƣợc dùng trong bài thơ không phải xác định rõ năm theo can chi mà ý ông muốn nói đến hai chữ đầu tiên trong thập can (can Giáp) và thập nhị địa chi (chi Tý). Hai chữ Giáp tý này đƣợc dụng với dụng ý là cách định lƣợng năm tháng theo lịch pháp cổ xƣa. Chi tiết này có liên quan đến nhân vật Đào Tiềm, một dật nhân thường xuyên xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến. Khi nhà Tấn mất đi, nhà Lưu Tống lên thay, Đào Tiềm không dùng niên hiệu nhà Lưu Tống, chỉ sử dụng nguyên tắc thiên can địa chi để ghi năm tháng. Tác giả mượn tích truyện này để bộc bạch nỗi lòng của mình, nước mất, vua không còn ban lịch nữa, không biết đâu mà ghi theo can chi Giáp tý đƣợc.
Điển cố Xuân thu đƣợc tác giả sử dụng trong bài thơ này cũng có ý nghĩa rất ý vị.
Xuân thu là hai mùa cơ bản trong năm. Nó đƣợc dùng để thể hiện cho thời gian lịch biểu trong việc viết sử. Khi Khổng Tử làm nên kinh Xuân Thu, ngài đã nêu cái đại nghĩa tôn phù nhà Chu, biếm những kẻ thù nghịch với nhà Chu. Nguyễn Khuyến sống trong thời kì nước ta bị Pháp xâm chiếm. Thực dân Pháp là kẻ thù. Tác giả đã không học theo đƣợc nhƣ Khổng Tử nên cảm thấy hổ thẹn: không dám đọc kinh Xuân Thu.
Mượn điển để ngụ tình vẫn là sở trường của nhà thơ trung đại. Mượn điển tích Liễu Chương Đài, Lan trong rừng vắng, nhà thơ kín đáo gửi một nỗi niềm những ký ức xa xôi đẹp đẽ đã qua và có lẽ không còn phù hợp trong thực tại, trong hoàn cảnh cụ thể mà tác giả đau đớn phải chứng kiến hàng ngày:
Bẻ Liễu thành Đài thôi cũng xếp, Trồng lan ngõ tối ngát nào hay?
Từ xƣa mặt ngọc ai là chẳng, Chén rƣợu bên đèn luống tỉnh say.
Từ thực tế cuộc đời của Nguyễn Khuyến, kể từ lúc từ quan, đến khi lui về ở
ẩn, những cảm thức thời gian mà Yên Đổ tiên sinh luôn dằn vặt là những khoảnh khắc vô định của ký ức, một góc tĩnh tại của tâm hồn nhà thơ. Nhìn lại mình, con người mờ mịt như không còn bộ mặt: Ngàn năm bay hạc, tớ là ai ? Có bi kịch nào hơn khi “ta” chẳng nhận ra “ta”: “ta” là “ai”! Có bi kịch nào hơn khi chính mình cũng không còn nhận ra mình trước thời gian: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/ Ngàn năm bay hạc, tớ là ai ?” (Muộn II). Còn cô đơn nào hơn, còn đau đớn nào hơn khi giữa dòng đời trôi chảy, “ta” chẳng nhận ra “ta” - “tớ là ai”! Nhà Nho cuối kỳ với ý thức cá nhân mạnh mẽ trước thời cuộc đen tối đã day dứt khôn nguôi về sự bất lực của mình, suy tƣ trăn trở qua những vần thơ mang nỗi niềm cô đơn trước thời gian đến nao lòng.
Nhìn từ dòng thời gian, thời điểm trở về với làng quê Yên Đổ cũng là lúc Nguyễn Khuyến ngẫm về cuộc đời mình, tuổi già đến khiến ông trở nên cô độc. Và một trong những điều khiến ông phải trăn trở đó là sự trôi đi nhanh chóng của thời gian, là sự suy yếu của sức khỏe, là cái già nua, ốm yếu ập đến lúc nào không hay.
Qua những điển cố, thi liệu đƣợc sử dung trong các bài thơ tự thuật, chân dung con người Tam nguyên Yên Đổ hiện lên cụ thể, rõ nét. Hình ảnh điển cố Cúc qua trùng cửu, giấc mộng hoàng lương, Liễu Chương Đài, lan rừng vắng, ba dặng cúc, danh nhân Đào Tiềm…đƣợc vận dụng trong thơ Nguyễn Khuyến nhằm diễn tả tâm trạng, nỗi niềm thi nhân trước sự trôi chảy của thời cuộc đầy biến thiên và những bi kịch cá nhân của nhà Nho cuối mùa thời phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XIX.
3. 3. Giọng điệu thơ Nguyễn Khuyến