1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống ẩn dụ trong thơ nguyễn bính

81 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngữ Nghĩa Của Hệ Thống Ẩn Dụ Trong Thơ Nguyễn Bính
Tác giả Hoàn Hải N
Người hướng dẫn Cô Giáo - T.N.S Quách Thị Bính Thọ
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

T xưa đến nay, trong nền thơ ca Việt Nam nghệ thuật ẩn dụ đã trở thành một phần không nhỏ góp phần tạo nên những nét vô cùng độc đáo trong nghệ thuật sử dụng ngôn t Là một hiện tượng ngô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH

-

HOÀN HẢI N N

ĐẶC ĐIỂM NGỮ N HĨA CỦA HỆ THỐNG ẨN DỤ

TRON THƠ NGUYỄN BÍNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Sư phạm Ngữ văn

Phú Thọ, 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong su t quá trình thực hiện khóa luận t t nghiệp với tình cảm chân thành em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo cô giáo trường Đại học

Hùng Vương, đặc biệt là cô giáo - T n s Qu h Th B nh Thọ người đã chỉ

bảo tận tình, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong su t quá trình thực hiện khóa luận Cùng với đó em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa học xã hội và văn hóa du lịch đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy trong nhà trường đã truyền dạy cho em rất nhiều kiến thức bổ ích để thực hiện khóa luận và cũng như có được hành trang vững chắc trong sự nghiệp tương lai

Mặc dù đã có nhiều c gắng trong quá trình nghiên cứu song do khả năng và kinh nghiệm của bản thân có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những tồn tại hạn chế và thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên nhằm bổ sung hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu tiếp theo

Em xin chân thành cảm ơn!

n n n m

S nh v ên

Hoàn Hả N n

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và Nhiệm vụ nghiên cứu. 3

4 Đ i tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 1 Đ i tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu. 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

7 B cục của khóa luận 4

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5

1 1 Khái niệm ẩn dụ 5

1 2 Các kiểu ẩn dụ 8

1 3 Hiện tượng chuyển nghĩa của t 13

1 3 1 Nghĩa của t 13

1.3.2.T nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của t 14

1.3.2.1.T nhiều nghĩa 14

1.3.2.2.Sự chuyển biến ý nghĩa của t 21

1.4.Vài nét về tác giả Nguyễn Bính 23

1.4.1 Cuộc đời 23

1.4.2 Sự nghiệp 24

Tiểu kết 32

Chương 2 H TH NG ẨN DỤ VỀ T NH Y U 33

2 1 Tìm hiểu nghĩa biểu trưng của hệ th ng ẩn dụ về tình yêu lứa đôi trong thơ tình Nguyễn Bính 33

2 2 Tìm hiểu nghĩa biểu trưng của hệ th ng ẩn dụ về tình yêu quê hương đất nước trong thơ tình Nguyễn Bính 42

Trang 4

2 3 Tìm hiểu nghĩa biểu trưng của hệ th ng ẩn dụ về tình yêu cách mạng

trong thơ tình Nguyễn Bính 48

Tiểu kết 52

Chương 3 THẾ GIỚI CÁC Đ I TƯỢNG BIỂU THỊ NGHĨA BIỂU TRƯNG TRONG THƠ NGUYẾN BÍNH 54

3.1 Kết quả th ng kê, phân loại hệ th ng ẩn dụ tình yêu trong thơ Nguyễn Bính………54

3 2 Các phương thức ẩn dụ 61

3 3 Nghĩa biểu trưng của các hình ảnh ẩn dụ 66

TIỂU KẾT 74

KẾT LU N 75

TÀI LI U THAM KHẢO 77

Trang 5

PH N M Đ U

T nh p th t ủ tà n h ên u

1.1 T xưa đến nay, trong nền thơ ca Việt Nam nghệ thuật ẩn dụ đã trở thành một phần không nhỏ góp phần tạo nên những nét vô cùng độc đáo trong nghệ thuật sử dụng ngôn t Là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp nhưng cũng vô cùng thú vị - ẩn dụ phần nào giúp cho cách diễn đạt trở nên bóng bẩy

và hàm súc hơn Nhờ có phương thức ẩn dụ mà người ta có thể phần nào nhận

ra dấu ấn riêng của t ng tác giả Cho đến nay cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng này

1 2 Nói đến tình yêu, là nói đến một mảng đề tài có sức hấp dẫn và lôi

cu n đặc biệt, đó là đề tài muôn thưở không chỉ của thơ ca, nhạc họa mà còn tồn tại ở mọi lĩnh vực của đời s ng xã hội Khi nghiên cứu về tình yêu các tác giả đã nhìn nhận nó ở những bình diện khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu về tình yêu dưới góc độ ẩn dụ thì không có nhiều người quan tâm tới

1.3 Nguyễn Bính là một trong s những nhà thơ lớn của dân tộc, ở ông

là sự thành công của một hồn thơ được mệnh danh là “nhà thơ của làng quê Việt Nam” - một trong những gương mặt tiêu biểu của dòng thơ lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 với cái “chân quê”, chất dân dã, và tình yêu dành cho quê hương, đất nước sâu nặng “Giàu có” hơn cả trong những trang thơ của Nguyễn Bính là những bài thơ viết về tình yêu - đây mà mảng đề tài chính đã góp phần khẳng định tên tuổi của Nguyễn Bính trên thi đàn văn học dân tộc

T trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ thơ tình Nguyễn Bính ở bình diện văn học Tuy nhiên việc nghiên cứu về mặt ngôn ngữ và phong cách học thì chưa có Khi đi vào giải thích về mặt ngữ nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ sẽ mang lại những cảm nhận mới mẻ và khác biệt

1.4 Chọn đề tài “Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ th ng ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính”, khoá luận mong mu n làm rõ những giá trị về mặt ngữ nghĩa thể hiện qua cách sử dụng các phương thức ẩn dụ trong các bài thơ tình của nhà thơ Nguyễn Bính Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ góp phần nhìn nhận và đánh giá đầy đủ hơn về những đóng góp của Nguyễn Bính ở phương

Trang 6

diện nghệ thuật Hơn thế nữa, đề tài sẽ là một tư liệu tham khảo cho các sinh viên và giáo viên ngành Ngữ văn có thêm tài liệu tham khảo nghiên cứu theo hướng tiếp cận mới

T n qu n v n n h ên u

Việc nghiên cứu nghệ thuật ẩn dụ t lâu đã được các nhà Việt ngữ học

quan tâm Năm 1940, tác phẩm của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm giới thiệu một cách sơ lược về ẩn dụ văn chương Trong giáo trình về t vựng học tiếng Việt cụ thể là Nguyễn Văn Tú và Đỗ Hữu Châu đều có đề mục viết về hiện tượng chuyển nghĩa và phương thức ẩn dụ

Đinh Trọng Lạc một lần nữa khi nghiên cứu về giáo trình và phong cách học của mình trước đây và đồng thời tiếp thu những thành tựu mới của ngôn ngữ học hiện đại, đã khẳng định ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng , dựa trên sự tương đồng hay gi ng nhau giữa khách thể A với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A Nhìn chung vấn đề

ẩn dụ được nghiên cứu không ít nhưng lại ít gặp những bài nghiên cứu về ẩn

dụ trong tác phẩm văn học cụ thể Trong dòng chảy của thơ ca t truyền thông

đến hiện đại, nghệ thuật ẩn dụ đã góp phần tạo nên những nét độc đáo trong nghệ thuật sử dụng ngôn t , trong s ấy đặc biệt phải kể đến nhà thơ Nguyễn

Bính Trong nhiều năm qua thơ Nguyễn Bính vẫn luôn là m i quan tâm của

các nhà phê bình, nghiên cứu yêu thích thơ ông và đã có nhiều công trình lớn nhỏ nghiên cứu về các tác phẩm của Nguyễn Bính với quy mô và hướng tiếp cận khác nhau như: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Đăng Mạnh…

Ngoài những nghiên cứu ở góc độ phê bình văn học, thơ Nguyễn Bính được nghiên cứu được nghiên cứu ở cả trên góc độ ngôn ngữ học Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Bính trong nghệ thuật biểu hiện, cách xây dựng ngôn ngữ, hình ảnh

Thơ Nguyễn Bính cũng được nhắc đến nhiều trong các chuyên luận về văn chương: “Ngôn ngữ thơ” (Nguyễn Phan Cảnh, 2001), “Giáo trình văn học Việt Nam t đầu thế kỉ XX đến 1945” (Trần Đăng Suyền - Lê Quang Hưng, 2017), “Thơ với lời bình” (Vũ Quần Phương, 1992), “Nhìn lại một cuộc cách

Trang 7

mạng thơ ca” (Hà Minh Đức, 1993) Năm 1992 hội nhà văn cho ra mắt

“Nguyễn Bính - thi sĩ của yêu thương” do Hoài Việt biên soạn Năm 1996 nhà xuất bản văn học phát hành cu n “Nguyễn Bính - Thi sĩ của đồng quê” Những công trình này đã thu hút sự chú ý của nhiều người yêu thơ

Đ i với Nguyễn Bính - một hiện tượng văn học nổi bật trong nền văn học đương thời với một “màu sắc” thẩm mĩ hoàn toàn khác biệt Chính bởi điểu này nên tôi mạnh rạn chọn đề tài “Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ th ng ẩn

dụ trong thơ Nguyễn Bính” làm đề tài khóa luận t t nghiệp của mình

3 Mụ t êu và Nhiệm vụ n h ên u

Thông qua khảo sát về hình ảnh ẩn dụ tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, khóa luận phần nào giúp người đọc tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Bính và hơn thế nữa là hiểu hơn về đặc điểm ngữ nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ trong thơ ông

Khóa luận đi vào tìm hiểu các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu các phương thức ẩn dụ trong thơ của Nguyễn Bính

- Ý nghĩa biểu trưng của hệ th ng ẩn dụ trong thơ của Nguyễn Bính

4 Đố tượn và phạm v n h ên u

4 Đối tượn n iên cứu

Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ th ng ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính

4.2 Phạm vi n iên cứu

86 bài thơ trong tuyển tập “Nguyễn Bính thơ và đời” (Nhà xuất bản văn học, 2004) cụ thể là các bài thơ viết về tình yêu, t đó tìm ra đặc điểm ngữ nghĩa của những hình ảnh ẩn dụ về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính

5 Phươn ph p n h ên u

Ở khóa luận này để tìm hiểu về Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống ẩn dụ

trong thơ Nguyễn Bính tôi sử dụng chủ yêu các phương pháp sau:

- Phương pháp th ng kê - phân loại: được dùng khi khảo sát nguồn tư liệu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: nhằm lầm sáng tỏ t ng luận điểm t

đó khái quát thành các luận điểm cơ bản

6 Ý n h kho họ và thực tiễn

Trang 8

Khóa luận góp phần đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật ẩn dụ về tình yêu trong thơ của Nguyễn Bính trên phương diện của ngôn ngữ và phong cách học, đây là một hướng tiếp cận hoàn toàn mới mẻ

Việc nghiên cứu đề tài dưới một góc độ hoàn toàn mới mẻ về phương thức ẩn dụ, việc sử dụng các hình ảnh ẩn dụ - đ i tượng biểu thị nghĩa biểu trưng trong thơ tình của Nguyễn Bính phần nào sẽ giúp ta có cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm và hiểu sâu hơn về phong cách nghệ thuật của tác giả Khóa luận có ý nghĩa đưa đến một nguồn tư liệu tham khảo theo hướng nghiên cứu mới mà t trước đến nay chưa t ng có

Trang 9

PH N NỘI DUNG Chươn : CƠ S LÍ THUYẾT 1.1 Kh n ệm ẩn dụ

Trong văn học Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam nói riêng việc

sử dụng các biện pháp tu t luôn có một vị trí quan trọng không thể thiếu trong đời s ng văn học Việc sử dụng các biện pháp tu t không những giúp cho việc thể hiện chủ đề, nội dung một cách dễ dàng mà còn có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng nên giá trị nghệ thuật cho mỗi tác phẩm Việc sử dụng các biện pháp tu t giúp cho quá trình diễn đạt thêm bay bổng, hàm xúc, gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, người nghe

Phép tu t v n được hiểu là việc sử dụng ngôn t đã được trau chu t, gọt rũa, có các hình ảnh bóng bẩy làm cho lời văn, lời thơ hay hơn, giàu giá trị biểu đạt hơn

Trong thơ ca đã có rất nhiều các biện pháp tu t được sử dụng như: nhân hóa, so sánh, nói quá, chơi chữ, điệp ngữ, hoán dụ, liệt kê Mỗi phép tu

t thì đều mang lại những dụng ý nghệ thuật và hiệu quả nghệ thuật khác nhau Ngoài ra trong s các biện pháp tu t t nói trên ta còn phải kể đến phép

ẩn dụ - một biện pháp tu t có tác động không nhỏ góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật đặc sắc cho nhiều tác phẩm thơ có giá trị trong nền thơ ca dân tộc

Ở Việt Nam đã có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến ẩn dụ và các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về ẩn dụ đã cho rằng cần phải xem xét lí thuyết về ẩn dụ trên hai góc độ

Thứ nhất: Ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của các đơn vị t vựng Ở góc độ này khi dựa vào m i quan hệ tương đồng giữa sự vật, hiện tượng và đ i tượng thì ẩn dụ là đ i tượng nghiên cứu của t vựng học Phép ẩn dụ không chỉ được thể hiện ở một t , một câu mà có thể ẩn

dụ được sử dụng làm khung chiếu vật cho cả một đoạn văn, một khổ thơ hay

cả một bài thơ

Trang 10

Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ trong và ngoài nước cho đến nay thường xem ẩn dụ là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay những nét gi ng nhau nào đó Tiếng Hy Lạp

“Metaphor” lúc đầu có nghĩa là chuyển t chỗ này sang một chỗ khác, tức có nghĩa là “chuyển đổi”

Tác giả Đỗ Hữu Châu lý giải hiện tượng ẩn dụ bằng cơ chế chuyển đổi trường nghĩa t vựng Ông quan niệm “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác, giữa chúng có m i quan hệ tương đồng” [3,54]

dựa vào sự gi ng nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [6,162]

Nguyễn Văn Tu nêu ra định nghĩa: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên gọi của một sự vật khác theo m i quan hệ gián tiếp Mu n hiểu được

m i quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà t biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy

mà ta thấy m i quan hệ giữa các vật khác nhau” [14,159]

Tác giả Hữu Đạt cũng nhấn mạnh: “Ẩn dụ là một l i so sánh dựa trên

sự gi ng nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đ i tượng Nhưng khác với l i so sánh dùng l i song song hai phần

đ i tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh…” [5,143]

Có thể thấy các nhà ngôn ngữ học Việt Nam phần nào nhìn nhận về ẩn

dụ như là một phương thức chuyển nghĩa cơ bản của t Qua nhiều bài viết của mình tác giả Hữu Đạt đều khẳng định ẩn dụ chính là một sự so sánh ngầm Tương tự Nguyễn Đức Tồn cho rằng: Bản chất của phép ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển địa điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này, sang sự vật hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng

Trang 11

Cả Hữu Đạt và Nguyễn Đức Tồn đều chỉ ra rằng bản chất của ẩn dụ chính là một phép so sánh ngầm Về thực chất chỉ có sự đồng nhất, hoặc tương đồng hoàn toàn thì người ta mới có thể sử dụng cái này để thay thế cho cái khác được

Quan niệm thứ hai xem ẩn dụ là một biện pháp tu t nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Ở góc độ này thì ẩn dụ được xem là đ i tượng nghiên cứu của phong cách học, vì vậy nó được khảo sát ở những ngữ cảnh cụ thể gắn liền với những văn bản Ẩn dụ xuất hiện rất phong phú và đa dạng, không chỉ xuất hiện trong thơ văn mà nó xuất hiện trong mọi mặt của đời s ng xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng Bởi vậy ẩn dụ được xem là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ngôn ngữ

và khả năng nhận thức của con người về thế giới khách quan

Giáo sư Đinh Trọng Lạc cho rằng “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang

ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay gi ng nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A” [9,52]

Còn Cù Đình Tú thì phát biểu rằng: “Ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đ i tượng này dùng để biểu thị đ i tượng kia trên cơ sở

m i quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đ i tượng” [16,179]

Tác giả Hữu Đạt nói kỹ hơn: “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng

ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu t hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Như vậy thực chất của phép ẩn dụ là dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy của ngôn ngữ dân tộc” [5,302]

Ở khoá luận này tôi đưa ra cách hiểu về ẩn dụ theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu: Ẩn dụ chính là phép tu t trong đó dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu hiện cho sự vật, hiện tượng khác khi mà giữa 2 sự vật, hiện tượng đó có những nét tương đồng dựa trên một cơ sở liên tưởng nào đó

Trang 12

hay nói cách khác ẩn dụ chính là sự so sánh ngầm Giá trị chủ yếu của ẩn dụ

là biểu cảm, nó được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ và đặc biệt là trong các tác phẩm văn học

C k ểu ẩn dụ

Trong tiếng Việt đã có rất nhiều cách phân loại ẩn dụ dựa trên các cơ sở khác nhau nên đã dẫn đến các kiểu ẩn dụ khác nhau Dưới đây là ý kiến của

một s tác giả với những cách phân loại tiêu biểu:

Tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra các kiểu ẩn dụ

+ Ẩn dụ hình thức: là ẩn dụ mà nó có được dựa trên sự gi ng nhau về hình thức giữa các sự vật

Ví dụ: ẩn dụ t “chân” trong chân trời, chân mây,…; ẩn dụ t “mũi” trong mũi tàu, mũi thuyền, mũi dao, mũi chân,…; t “cánh” trong cánh cung, cánh quân, cánh quạt, cánh tủ là những ẩn dụ chỉ hình thức

+ Ẩn dụ cách thức: là ẩn dụ mà dựa vào sự gi ng nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng

Ví dụ: ăn quả nhớ kẻ trồng cây…

+ Ẩn dụ chức năng: Là những ẩn dụ dựa vào sự gi ng nhau về chức năng giữa các sự vật

Ví dụ: cửa sông, cửa r ng, cửa biển…

+ Ẩn dụ kết quả: là ẩn dụ mà nó dựa vào sự gi ng nhau về tác động của các

sự vật đ i với con người Trong ẩn dụ kết quả có một loại ẩn dụ được chú ý đặc biệt đó là ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác hay những “cảm giác” của trí tuệ, tình cảm

Ví dụ: chua, ngọt, mặn, cay, chát là những cảm giác của vị giác được dùng

để gọi các cảm giác thính giác như nói chua ngoa, lời nói ngọt ngào, nói lời cay đắng

Theo Nguyễn Đức Tồn thì tác giả này cho rằng có 2 loại ẩn dụ dựa trên

cơ sở sau:

+ Thứ nhất: Khi hai biểu vật có cùng nét nghĩa nào đó như nhau nên được tư duy đồng nhất hoá với nhau nhưng chỉ có một biểu vật đã có gọi tên

Trang 13

Ẩn dụ loại này được c định hoá trong hệ th ng ngôn ngữ, được dựa vào t điển và được toàn dân sử dụng được gọi là ẩn dụ định danh (hay ẩn dụ t vựng)

+ Thứ hai: Khi hai biểu vật có cùng nét nào đó như nhau, đều v n đã có tên gọi riêng nhưng trên cơ sở tư duy liên tưởng đồng nhất hoá chúng có thể lấy tên gọi của sự vật này thay thế lâm thời cho tên gọi của sự vật kia Ẩn dụ loại này được sử dụng như một biên pháp tu t nhằm là tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt Những ẩn dụ này được gọi là ẩn dụ lâm thời và thường mang ý nghĩa biểu trưng

Theo đó: Ẩn dụ t vựng là phương thức phát triển nghĩa mới của t , trong đó nghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa t vựng ổn định chứ không lâm thời Như vậy ẩn dụ t vựng có chức năng t vựng hoá là chủ yếu Nhìn chung ẩn dụ t vựng là sự chuyển nghĩa mang tính chất xã hội, ổn định và c định Những hiện tượng chuyển nghĩa này được cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ th a nhận và sử dụng như nhau

dụng phổ biến và rộng rãi đó là ẩn dụ tu t Ẩn dụ tu t được sử dụng rộng rãi

và phổ biến trong thơ ca dân gian, nó gắn liền với phong cách thời đại và phong cách dân tộc

rằng có các kiểu ẩn dụ sau đây:

+ Ẩn dụ hình thức: ví dụ mũi là một bộ phận của con người có đặc điểm nhọn, có phần nhô ra Vì thế phần đất nhô ra cũng được gọi là “mũi đất”, phần nhô ra của thuyền cũng gọi là “mũi thuyền”

+ Ẩn dụ chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác

Ví dụ: “Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu” (Ông đồ - Vũ Đình Liên)

+ Ẩn dụ dựa trên sự gi ng nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó

Ví dụ: Tình cảm khô khan, lời nói ngon ngọt

Trang 14

+ Ẩn dụ chức năng: Ví dụ: “bến” trong bến xe, bến đò, bến sông… tất cả các

t này đều thể hiện một chức năng gi ng nhau là nơi mà các phương tiện giao thông d ng đỗ, hành khách và hàng hóa lên xu ng

+ Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài Ví dụ: Người phụ nữ đẹp được ví là Điêu Thuyền, Tây Thi, Dương Quý Phi

+ Ẩn dụ màu sắc: ví dụ: màu da trời - màu xanh như da trời; màu cánh sen - màu hồng như màu của cánh sen; màu c m - màu xanh như màu của c m + Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người: ví dụ: Chó con của mẹ, con cún con của anh…

+ Ẩn dụ t cụ thể đến tr u tượng: ví dụ: hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bên trong của quả được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một vấn đề

Tác giả Hữu Đạt trong cu n “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” - Nhà xuất bản Đại học Qu c Gia (2000) cho rằng: Trong thực tế ngôn ngữ chúng ta thường gặp các kiểu ẩn dụ khác nhau và cụ thể có 3 kiểu loại sau đây Ẩn dụ nhân hoá, ẩn dụ tượng trưng và ẩn dụ ngụ ngôn

Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà gọi ẩn dụ nhân hoá là kiểu ẩn dụ được xây dựng dựa trên m i quan hệ giữa người với vật Cụ thể đó

là phép ẩn dụ được hình thành dựa trên cơ chế chuyển nghĩa giữa trường về con người và trường về sự vật Theo đó ẩn dụ nhân hoá bao gồm 2 quan hệ biện chứng đó là:

+ Gán cho con người những hành động cảm nghĩ như đồ vật

+ Gán cho đồ vật những hành động, cảm nghĩ gi ng con người

Gái chính chuyên lấy được chín chồng

Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi

(Ca dao)

Tác giả Hữu Đạt coi “Ẩn dụ tượng trưng là ẩn dụ được dùng đi, dùng lại nhiều lần trở thành các hình ảnh có giá trị hình tượng Chẳng hạn người ta thường dùng hình tượng

+ “Mai”, “lan”, “cúc”, “trúc” để biểu thị vẻ đẹp cao quý, thanh tao

Trang 15

+ “Thân cò”, “cái kiến”, để biểu thị cho s phận con người nông dân nhỏ bé trong xã hội

+ “Râu hùm”, “hàm én”, “mày ngài”… biểu thị cho vẻ đẹp và nét mặt người quâm tử

+ “Thắt đáy lưng ong” là hình ảnh để biểu thị cho dáng vẻ yêu kiều của người con gái đẹp

- Ẩn dụ ngụ ngôn: Đây là loại ẩn dụ dùng cách nói để nêu ra những giá trị, giáo lý về đạo đức về cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội Một s tác giả gọi đó là phúng dụ Ẩn dụ ngụ ngôn là những triết lý nhân sinh đã được đúc rút t nghìn năm

Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một s nhà nghiên cứu ngôn ngữ Quan niệm và cách phân loại về ẩn dụ tu t của các nhà ngôn ngữ học được trình bày theo những cách khác nhau không hề mâu thuẫn, đ i lập mà chúng

bổ sung cho nhau đem lại những cách hiểu th ng nhất và đầy đủ nhất về ẩn dụ

tu t

Theo quan điểm về phân loại ần dụ của tác giả Nguyễn Đức Tồn Trong khoá luận này chúng tôi chỉ khảo sát những hình ảnh ẩn dụ tu t

Cụ thể đặc điểm của ẩn dụ tu t :

- Phân biệt ẩn dụ tu t với ẩn dụ t vựng

Ẩn dụ t vựng là ẩn dụ nghĩa chuyển đã được c định hóa trong hệ

th ng ngôn ngữ, được đưa vào trong t điển và được toàn dân sử dụng

Trang 16

Còn ẩn dụ tu t thi mang tính sáng tạo riêng, nó được dùng với nghĩa

ngữ cảnh, cách chuyển đổi tên gọi lâm thời hay những cách dùng tiếng Việt

có tính cá nhân Ẩn dụ loại này được sử dụng như một biện pháp tu t nhằm

tăng sức gợi hình gợi cảm và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt

Ví dụ:

Dù ai n i ngả n i nghiêng

ng ta vẫn vững như iềng ba chân

Trong câu thơ t “chân” trong cụm t kiềng ba chân, nét nghĩa vị trí

cu i cùng của chân (người) được giữ lại Nét nghĩa này đã được c định hóa

trong nghĩa của t trên Do vậy mọi người có thể sử dụng và sử dụng trong

mọi ngữ cảnh khi cần thiết

- Phân biệt ẩn dụ tu t với so sánh tu t

Trong cu n 99 phương tiện và biện pháp tu t tiếng Việt, Đinh Trọng

Lạc đã khẳng định: “So sánh tu t là cách đ i chiếu hai đ i tượng khác loại

của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có cùng

một nét gi ng nhau nào đó nhằm diễn tả một l i tri giác mới về đ i tượng”

[9,154] Về bản chất, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa trên sự gi ng nhau

giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau Tuy nhiên cần phải phân

biệt ẩn dụ tu t với so sánh tu t

Sự gi ng nhau giữa ẩn dụ tu t và so sánh tu t chính là cách liên tưởng

để rút ra được nét tương đồng giữa hai đ i tượng khác loại Nét tương đồng

này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu t cũng như so sánh tu t

Tuy nhiên giữa chúng lại có những điểm khác nhau rõ rệt So sánh tu t

có cấu tạo gồm hai ghế là đ i tượng được so sánh và đ i tượng được dùng để

so sánh Ẩn dụ là so sánh ngầm, suy nghĩ tình cảm trong ẩn dụ được thể hiện

gián tiếp Nếu như so sánh là cụ thể hóa nhận thức và tình cảm đ i với đ i

tượng thì Ẩn dụ là phương pháp chuyển nghĩa thông qua sự vật cụ thể lại khái

quát hơn, tr u tượng hóa một vấn đề nào đó, đồng thời đưa ra một hệ th ng

nhất mới của hình tượng nghệ thuật, tạo nên những trường nghĩa mới

- Phân biệt ẩn dụ tu t với hoán dụ

Trang 17

Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đ i tượng để gọi tên chính đ i tượng đó

Ẩn dụ tu t và hoán dụ tu t đều có những tính chất gi ng nhau rút gọn lời nói và tạo hình, vay mượn ngôn ngữ để làm giàu ngôn ngữ mang vào ngôn ngữ những yếu t lạ, tạo bất ngờ, gây cảm xúc

Ẩn dụ tu t và hoán dụ tu t có điểm khác nhau: ẩn dụ tu t được xây dựng trên cơ sở liên tưởng tương đồng còn hoán dụ lại dùng cái quan hệ tất yếu để kết hợp những yếu t có cùng với nhau một mẫu s chung thành một

Mỗi khi học nghĩa của một t , chúng ta đều học bằng cách liên tưởng

t với những cái mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động, hoặc thuộc tính mà t đó làm tên gọi cho nó) Mặt khác, nghĩa của t cùng được học thông qua hoặc liên quan với vô vàn tình hu ng giao tiếp ngôn ngữ

mà t đó được sử dụng

Ví dụ: ta thấy một cái cây bất kì chẳng hạn, ta hỏi đó là cái gì và được trả lời

đó là là cái cây Dần dần, nay với cây này, mai với cây khác, ta liên hội được

t CÂY của tiếng Việt với chúng Thế rồi, bước tiếp theo nữa, ta dùng được

t "cây" trong các phát ngôn như trồng cây, chặt cây, tưới cây, cây đổ, cây cau, cây hoa và tiến tới hiểu cây là loài thực vật, có thân, rễ, lá, hoặc hoa, quả Vậy là ta đã hiểu được nghĩa của t CÂY

Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của t như sau: Nghĩa của t là nội dung tinh thần mà t biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân t Trong s đó có những nhân t nằm ngoài ngôn ngữ và

Trang 18

những nhân t nằm trong ngôn ngữ Nhân t ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng Nhân t trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ th ng (cấu trúc) của ngôn ngữ

Nghĩa của t là nội dung (quan hệ, sự vật, tính chất, hoạt động…) mà

t biểu thị Học t , quan trọng nhất là tìm hiểu nghĩa của t

Có thể giải thích nghĩa của t bằng hai cách như sau: Trình bày khái niệm mà t biểu thị và đưa ra những t đồng nghĩa hoăc trái nghĩa với t cần giải thích

Nghĩa của t chỉ có thể được hiểu đúng khi người nói, người viết dùng

t đúng âm, đúng chính tả Do đó, khi nói, khi viết phải dùng t đúng âm, đúng chính tả để người nghe, người đọc hiểu đúng nghĩa của t

1.3.2 Từ nhiều n ĩa v iện tượng chuyển n ĩa của từ

1.3.2.1 nhiều nghĩa

Trong t vựng, có những t chỉ có một nghĩa ví dụ như bươn, hiền,

điềm tĩnh, c giáo, b đ i… Tuy nhiên, phổ biến hơn cả vẫn là những t nhiều

nghĩa Các t đơn thường nhiều nghĩa hơn các t phức Thí dụ: máy, làm, dắt,

ăn… là những t có nhiều nghĩa, nhưng máy bay, máy tiện, máy m c, máy hàn… máy m c, máy m …, làm duyên, làm b …, dắt dẫn, dắt díu… là những

t chỉ có một nghĩa

Cùng một hình thức ngữ âm của t có thể ứng với nhiều phạm vi sự

vật, hiện tượng hác nhau và c quan hệ gắn b chặt chẽ với nhau được gọi

là hiện tượng nhiều nghĩa t vựng

ân loại c c n ĩa tron từ nhiều n ĩa

a Căn cứ vào quan điểm lịch đại (tiêu chí thời gian): ta có thể phân nghĩa của

t nhiều nghĩa ra làm hai loại đó là: nghĩa g c và nghĩa phái sinh

- Nghĩa g c là nghĩa có trước hay nghĩa đầu tiên, còn được gọi là nghĩa t nguyên

- Nghĩa phái sinh là nghĩa xuất hiện sau, được hình thành trên cơ sở nghĩa

g c

Trang 19

b Căn cứ vào quan điểm đồng đại (cách dùng hiện nay): C thể chia nghĩa

của t nhiều nghĩa thành nghĩa cơ bản và nghĩa phụ

- Nghĩa cơ bản hay nghĩa chính là nghĩa biểu vật mà những người trong một cộng đồng ngôn ngữ thường sử dụng nhất đ i với một t nào đấy khi nó đứng một mình và ít lệ thuộc vào ngữ cảnh hơn cả Nghĩa chính thường là cơ sở để giải thích nghĩa phụ

- Nghĩa phụ là nghĩa được phát triển t một nét nghĩa nào đó của nghĩa chính Ðấy là nghĩa lệ thuộc vào văn cảnh, do đó mu n hiểu rõ được nó phải dựa vào văn cảnh

Mối quan hệ giữa c c n ĩa tron từ nhiều n ĩa

Phân biệt hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật và nhiều nghĩa biểu niệm

a Hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật

Ví dụ:

MŨI: 1 Bộ phận của cơ quan hô hấp

2 Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi súng, mũi dao

3 Phần trước của tàu, thuyền: mũi tàu, mũi thuyền

4 Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà mau

5 Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có cái mũi rất thính

6 Đơn vị quân đội: Mũi quân bên trái

CHẠY: 1 Dời vị trí, di chuyển bằng chân với t c độ cao: Chạy 100m

2 Làm cho vật khác dời chỗ: Chạy thóc vào nhà khi trời mưa

3 Kiếm những cái cần thiết: Chạy trường Chạy điểm

4 Tr n chạy: Chạy lũ Chạy loạn

5 Dạng hoạt động: quạt chạy Xe chạy

Trang 20

6 Điều khiển: bác tài xế chạy 5 chuyến một ngày

7 Hoạt động được nhờ nhiên liệu: Xe chạy điện

8 Sắp xếp các vật theo đường thẳng: Chạy một đường thật thẳng

quanh hàng rào

9 (Bệnh tật) chuyển chỗ trong cơ thể: Tế bào ung thư chạy vào gan

rồi

10 Đút lót để lo việc: Chạy chân giám đ c xí nghiệp

11 Làm cho quân cờ dời chỗ: Chạy pháo đi không thì xe nó chén mất

12 Hoạt động t t: quán rất chạy Hàng cá bán chạy

13 Hoạt động trên tuyến đường: Xe chạy tuyến Hà Nội – Lào Cai CHÍN: 1 Quả, cây đã đến thời kì phát triển cao nhất: Quả chín; Lúa chín

2 Nấu thức ăn đến lúc ăn được: rau chín; đậu chín; trứng chín

2 ứng với thức ăn, ứng 3 ứng với việc xử lí vật liệu qua nhiệt, chín 4 ứng với

hoạt động trí tuệ, chín 5 ứng với các kĩ năng, chín 6 ứng với những mâu thuẫn trong xã hội, chín 7 ứng với những biểu hiện bên ngoài của trạng thái tâm lí

Như thế, căn cứ để xác định tính nhiều nghĩa biểu vật là các phạm vi, lĩnh vực

sự vật, hiện tượng thực tế khách quan ứng với t Có những điểm cần lưu ý sau đây:

- Có những nghĩa biểu vật đã c định và có những nghĩa biểu vật xuất hiện

trong ngôn bản, không c định như nghĩa “chủ nghĩa xã hội” của t xuân

Trang 21

hoặc nghĩa “thành tựu chiến thắng” của t hoa Chúng ta gọi hiện tượng nhiều nghĩa c định là hiện tượng nhiều nghĩa ng n ngữ, hiện tượng nhiều nghĩa chưa c định là hiện tượng nhiều nghĩa lời n i

- Nói căn cứ để tách các nghĩa biểu vật là phạm vi sự vật, hiện tượng khác nhau, ứng với t , nhưng trong thực tế, việc xác đinh ranh giới thật dứt khoát giữa các nghĩa biểu vật không dễ dàng Khả năng của một t biểu thị sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là vô hạn, chúng ta chỉ quen với một s

ý nghĩa biểu vật thường gặp mà thôi

b Hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm

Các nét nghĩa, nhất là các nét nghĩa phạm trù của ba ý nghĩa mà t

đứng diễn đạt là rất khác nhau Mỗi ý nghĩa là một cấu trúc biểu niệm tương

đ i độc lập với nhau Chúng ta nói t đứng là một t có nhiều nghĩa biểu

niệm

Sau đây là những căn cứ để xác định tính nhiều nghĩa biểu niệm của t :

1 Ý nghĩa t loại khác nhau và đi kèm với chúng là các đặc điểm ngữ pháp khác nhau Một hình thức ngữ âm có thể hoạt động trong bao nhiêu đặc điểm ngữ pháp và có bao nhiêu ý nghĩa t loại khác nhau thì có bấy nhiêu ý nghĩa biểu niệm

Ví dụ: Các t thịt, muối có hai ý nghĩa biểu niệm vì có đặc điểm ngữ

pháp của danh t chất liệu và của động t hoạt động

THỊT: 1 (Sự vật: chất liệu) (lấy t cơ thể động vật)…

2 (Hoạt động) (tác động đến X, X là động vật) (để lấy thịt làm thực

phẩm): Thịt một con gà

Trang 22

MU I: 1 (Sự vật: chất liệu) (lấy t nước biển b c hơi) (có vị mặn…): Một

kilo muối

2 (Hoạt động) (tác động đến X, X là các thực phẩm tươi) (làm cho X lên men hoặc không bị hư th i trong một thời gian) (với mu i làm nguyên

liệu): Muối cà, muối cải

2 Đặc điểm ngữ pháp và đi kèm với chúng là các ý nghĩa ngữ pháp của các

t loại nhỏ trong một t loại lớn Một hình thức ngữ âm, tuy cùng thuộc một t loại lớn nhưng có thể hoạt động trong những đặc điểm ngữ pháp khác nhau của các tiểu loại trong t loại lớn đó thì cũng là một t có nhiều nghĩa biểu hiện

Như nghĩa 1 và 2 của t đứng Cả hai nghĩa này tuy cùng thuộc t loại

là động t , nhưng nghĩa của t đứng 1 có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp chỉ “hoạt động làm cho mình ở tư thế” và nghĩa của t đứng 2 có đặc

điểm ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp của các t chỉ hoạt động “hoạt động làm cho mình dời chỗ - d ng lại” Do đó, chúng là hai nghĩa biểu niệm

Hai căn cứ tách nghĩa biểu niệm trên đây thực ra là những hệ quả được suy ra t m i quan hệ chặt chẽ, quy định lẫn nhau giữa ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa ngữ pháp Chính vì ý nghĩa biểu niệm có quan hệ với ý nghĩa ngữ pháp chúng ta mới có thể lấy các đặc điểm ngữ pháp của các t loại và của các tiểu loại trong một t loại lớn làm những dấu hiệu hình thức để tách các nghĩa biểu niệm trong một t

Tuy nhiên, đây không phải là một việc dễ dàng, bởi vì, cho đến nay ngôn ngữ học về Việt Nam chưa phát hiện hết những cái gọi là đặc điểm ngữ pháp của t Bởi vậy, cần có thêm căn cứ thứ ba sau đây:

3 Tính đồng nhất giữa các nghĩa biểu niệm được tách ra trong một t với ý nghĩa biểu niệm các t khác Căn cứ này cũng là hệ quả của những điều đã nói về cái chung và cái riêng trong cấu trúc biểu niệm của các t Nghĩa là: chúng ta chỉ tách một ý nghĩa nào đó của t thành một ý nghĩa biểu niệm tương đ i độc lập với các ý nghĩa biểu niệm khác chỉ khi nào ý nghĩa biểu

Trang 23

niệm đƣợc tách ra có cấu trúc biểu niệm chung với một s t khác trong t vựng

Thực ra căn cứ này đã đƣợc vận dụng khi tách nghĩa biểu niệm theo hai

căn cứ 1 và 2 Nhƣ chúng ta tách nghĩa của t đứng thành ba nghĩa biểu niệm bởi vì nghĩa biểu niệm 1 có cấu trúc biểu niệm chung với các t ngồi, nằm,

lom hom… tức là các t chỉ tƣ thế; nghĩa biểu niệm 2 có cấu trúc biểu niệm

chung với các t : chạy, nhảy… d ng, ng ng… tức là những t chỉ hoạt động dời chỗ - d ng lại; nghĩa biểu niệm 3 có cấu trúc biểu niệm chung với thẳng,

lệch, nghiêng, vẹo… tức những t chỉ đặc điểm

Căn cứ này có tác dụng lớn khi những đặc điểm ngữ pháp có thể hình thức hóa không còn rõ ràng nữa

Ví dụ: Chúng ta có thể tách nghĩa của động t “che” thành hai nghĩa biểu niệm:

CHE: 1 (Hoạt động) (tác động đến X) (để bảo vệ X) (ch ng tác động khác của vật bên ngoài)

2 (Hoạt động) (tác động đến X) (để hạn chế tác động của X đến một vật khác cần bảo vệ)

vì nghĩa biểu niệm 1, có cấu trúc biểu niệm chung với các động t phủ, bịt,

đậy… bảo vệ; nghĩa biểu niệm 2, có cấu trúc biểu niệm chung với ngăn, cản, chống… chống trả…

Cũng nhƣ vậy, chúng ta tách nghĩa của động t “tập” thành hai nghĩa

biểu niệm:

T P: 1 (Hoạt động) (A tự làm cho A) (nhận đƣợc kiến thức, kĩ năng)

2 (Hoạt động) (tác động đến X) (làm cho X nhận đƣợc kiến thức,

kĩ năng)

bởi vì nghĩa biểu niệm 1 chung với nghĩa biểu niệm của học, học tập, bắt

chước…; nghĩa biểu niệm 2 chung với nghĩa biểu niệm của dạy, chỉ vẽ, dạy bảo, giáo dục, th ng báo…

Nhờ sự đ i chiếu với những t có chung cấu trúc biểu niệm nhƣ thế mà chúng ta phát hiện đƣợc những sự khác biệt về nghĩa tinh vi ở các t

Trang 24

Ví dụ: Để biết được nghĩa của t rối là như thế nào chúng ta phải đ i chiếu nó với các t bối rối, rối ren, trật tự, hỗn đ n… Đ i chiếu với t bối rối chúng ta kết luận nghĩa biểu niệm thứ nhất của rối chỉ một trạng thái nội tâm

Đ i chiếu với các t còn lại chúng ta kết luận rằng rối có ý nghĩa biểu niệm

thứ hai chỉ trạng thái, tình trạng của sự vật, của công việc… Tình trạng đó khi tác động đến con người thì gây ra trạng thái trí tuệ “r i”

Những t cùng cấu trúc biểu niệm được đưa ra để đ i chiếu khi tách

nghĩa biểu niệm phải là những điển hình cho cái cấu trúc biểu niệm đó

Ví dụ: Các t phủ, bịt… bảo vệ là điển hình cho cấu trúc biểu niệm (tác

động đến X) (để bảo vệ X), là vì danh t chỉ đ i tượng đứng sau chúng đều

chỉ “sự vật được bảo vệ” (như phủ lên mặt, bịt miệng chén, bảo vệ tài sản

c ng c ng) chứ không chỉ đ i tượng gây ra tác động cần hạn chế Ngược lại

các t ngăn, cản, chống… lại điển hình cho các cấu trúc biểu niệm “tác động

đến X, để hạn chế tác động của X”, vì danh t đ i tượng đứng sau chúng đều chỉ sự vật xảy ra tác động (hay chỉ bản thân tác động cần hạn chế), chứ không

phải là sự vật cần được bảo vệ (như ngăn ánh sáng, cản sức tấn c ng, chống

dịch…)

Việc xác lập được những t điển hình cho một cấu trúc biểu niệm có thể xem là một căn cứ khách quan, có tính hình thức làm cho việc tách các nghĩa biểu niệm khác nhau trong một t có độ tin cậy cao, không chủ quan, tùy tiện

c M i quan hệ giữa hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật và hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm

Qua xem xét các ví dụ về hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật và nhiều nghĩa biểu niệm ở trên, có thể thấy s lượng ý nghĩa biểu niệm ít hơn s lượng ý nghĩa biểu vật Có nhiều t chỉ có một cấu trúc biểu niệm song có nhiều ý nghĩa biểu vật

Các nghĩa biểu vật trong một t nhiều nghĩa thường chia thành t ng nhóm, mỗi nhóm thường xoay quanh một cấu trúc biểu niệm nào đó

Trang 25

Ví dụ: T đứng như đã thấy có ba cấu trúc biểu niệm Với cấu trúc nghĩa biểu niệm 1 có các nghĩa biểu vật trong “đứng đầu danh sách”, “đứng

trong hàng ngũ”… Với cấu trúc biểu niệm 2 (d ng lại) có các nghĩa biểu vật

trong “đứng gió”, “đứng bóng”, “nước đứng”, “đứng tuổi”… Với nghĩa biểu

niệm 3 (không nghiêng lệch) có các ý nghĩa biểu vật khác nhau trong “cột

chôn đứng”, “cổ áo cắt đứng”, đứng đắn”

Các ý nghĩa biểu vật trong nhóm quanh một cấu trúc biểu niệm trung tâm thường phát triển trên cơ sở một hoặc một vài nét nghĩa nào đó trong cấu trúc biểu niệm trung tâm đó

Các ý nghĩa khác nhau của một t lập nên một hệ th ng ngữ nghĩa trong lòng một t nhiều nghĩa Nhờ các nét nghĩa cơ sở tạo nên sự th ng nhất giữa các ý nghĩa biểu vật mà chúng ta hiểu sâu sắc hơn những sự tinh tế về nghĩa trong các t T “đứng tuổi” được giải thích:

ĐỨNG TUỔI: Nói người ta đã quá tuổi thanh xuân mà chưa đến tuổi già

Giải thích như thế đúng với mặt biểu vật thuần túy mà chưa thấy được

sự thú vị trong sự thể nghiệm tế nhị thực tê khách quan của người Việt Đứng

tuổi h ng biểu thị số lượng tuổi m t cách đơn giản mà như đã n i, hàm ý giai đoạn của m t quá trình (Quá trình sinh lí, quá trình tâm lí, tính cách, tài

năng… của con người đã ổn định, không còn những biến động lớn hơn nữa.)

1.3.2.2 Sự chuyển biến ý nghĩa của t

Hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của t

1.3.2.2.1 Nguyên nhân

Sự chuyển biến ý nghĩa của t xảy ra do rất nhiều nguyên nhân cả trực tiếp và gián tiếp, cả bên trong lẫn bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ng ng của thực tế khác quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tựơng kiêng cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ th ng ngôn ngữ, Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng hơn cả là nhu cầu giao tiếp của con người Những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu t buộc ngôn ngữ phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những sự vật, hiện tượng cùng những nhận

Trang 26

thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa Thay đổi ý nghĩa của t có sẵn, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, s ng động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời nhu cầu của giao tiếp

1.3.2.2.2 Các dạng chuyển biến ý nghĩa

Nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, khó nhận biết hay khẳng định nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của t

Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theo kiểu móc xích: nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa S1, t S1 chuyển sang S2, t

S2 chuyển sang nghĩa S3 v v… Như ở t thẻ Nghĩa đầu tiên là “mảnh tre, gỗ

dùng để viết chữ” (khi chưa phát minh ra giấy) Nghĩa này chuyển sang hai nghĩa khác “đồ dùng trong nghề mê tín” (trong “xin thẻ ở đền”) và nghĩa

“mảnh xương, ngà ghi chức tước mà các quan đeo ở ngực” Đến nay, nó có nghĩa “giấy chứng nhận tư cách thành viên của một tổ chức nào đấy” trong

“thẻ h i viên”, “thẻ đảng viên”…

b Dạng toả ra

Phần lớn các trường hợp của t chuyển biến theo kiểu “tỏa ra” nghĩa là

các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện

Những nghĩa biểu vật của t mũi, t chạy… dẫn ở trên chuyển biến

theo phương thức “tỏa ra”

M i liên hệ giữa nghĩa đầu tiên với những nghĩa xuất hiện sau có khi còn thấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở Song có khi m i liên hệ này đã bị đứt quãng

Trang 27

Lúc này t v n là một nhưng đã tách thành hai t đồng âm Như trường hợp

đinh với nghĩa “một loại nhọn” và đinh với nghĩa “cái đinh để đóng” cũng là

“Tâm hồn tôi” (1940) Năm 1943, Nguyễn Bính vào Nam Bộ, đến năm 1944 được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ “Cây đàn tì bà” Trong su t những năm kháng chiến ch ng Pháp ác liệt Nguyễn Bính năng nổ tham gia hoạt động ở Nam Bộ Nhà thơ giữ nhiều chức vụ như: phụ trách Hội Văn nghệ Cứu qu c tỉnh Rạch Giá, Phó chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Giá, sau làm ở Ban Văn nghệ Phòng Tuyên huấn Quân khu Tám Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1956 làm chủ bút tuần báo Trăm hoa Đầu năm 1964, Nguyễn Bính về công tác ở Ty văn hoá Nam Hà (cũ) Nguyễn Bính đột ngột mất vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ (tức ngày 20/01/1966) khi đến thăm một người bạn tại xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định

Đến năm 2000 Nguyễn Bính đã được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt II

Trang 28

Trong hơn 30 năm hoạt động nghệ thuật với các vai trò làm thơ, viết kịch, viết truyện với một âm điệu giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo ra một gương mặt riêng trong văn học hiện đại Việt Nam

1.4.2 Sự nghiệp

Trong su t sự nghiệp sáng tác văn học của mình Nguyễn Bính đã để lại một s lượng tác phẩm vô cùng đồ sộ Độc giả biết đến thơ Nguyễn Bính với những tác phẩm tiêu biểu như:

- Lỡ bước sang ngang (thơ)

- Tâm hồn tôi (thơ)

- Người con gái ở lầu hoa (thơ)

- Không nhan sắc (truyện)

- Hương c nhân (thơ)

- Mười hai bến nước (thơ)

- Gửi người vợ Miền Nam (thơ)

- Đêm sao sáng (thơ)

- Trả ta về (thơ)

- Đồng Tháp Mười (thơ)

Và một s tác phẩm khác:

- Truyện thơ: Cây đàn ỳ Bà (1944), r ng b ng cờ bay (1957), Tiếng

trống đêm xuân (1958), C gái Ba ư (1943)

- Truyện: Ngậm miệng (1940), Thạch xương bồ, Kh ng đất cằm dùi (1944),

Sang máu (1947)

- Các tập thơ: M t nghìn cửa sổ (1941), Mây ần (1942), Tập thơ yêu

nước, S ng biển cỏ, Ông lão mài gươm (1947), răng ia đã đứng ngang đầu, Những d ng tâm huyết, M ng Đảng ra đời (1953), Nước giếng thơi (1957), ình nghĩa đ i ta (1960)

- Kịch thơ: B ng giai nhân (Viết chung với Yên Lan – 1942), Nguyễn rãi

(1943)

- Kịch bản chèo: C Son (1961), Người lái đ s ng Vị (1964)

- Lý luận sáng tác: Cách làm thơ lục bát (1955)

Trang 29

Có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với gần 20 tập thơ trong đó có một s

truyện thơ, kịch thơ và trường ca Nguyễn Bính là cây bút đã sớm quen thuộc

với độc giả ở Việt Nam Trong những năm 30 của thế kỉ 20 “làng Thơ mới”

của Việt Nam xuất hiện tên tuổi của Nguyễn Bính, ông là một tài năng với

giọng điệu thơ riêng biệt, khó trộn lẫn và đã rất nhanh chóng chiếm được tình

cảm của đại bộ phận người đọc

Trời mưa ướt áo làm gì?

Năm mười bảy tuổi chị đi lấy chồng

Người ta pháo đỏ rượu hồng

Mà trên hồn chị m t v ng hoa tang

Lần đầu chị bước sang ngang Tuổi son s ng nước đ giang chưa tường

Ở nhà em nhớ mẹ thương

Ba gian trống, m t mảnh vườn xác xơ

Mẹ ngồi bên cửi xe tơ Thời thường nhắc: "- Chị mày giờ ra sao?"

(Lỡ bước sang ngang) Nguyễn Bính xuất hiện trên văn đàn và “trình làng” bằng bài “Mưa

xuân” vào năm 1936, và tiếp n i mạch thơ ấy nhà thơ đã cho ra những bài thơ

như: Chân quê, C lái đ , C gái hái mơ, ương tư, Người hàng x m, Hoa

với rượu, Lỡ bước sang ngang,… Trong sợ nghiệp sáng tác của mình Nguyễn

Bính luôn thể hiện là một trong những cây bút sung sức nhất chỉ trong một

khoảng thời gian ngắn ông đã cho ra đời những tập thơ gây được tiếng vang,

trong đó có nhưng tập thơ nổi tiếng như: Lỡ bước sang ngang và Mười hai

bến nước…

Hồn thơ Nguyễn Bính là một hồn thơ đằm thắm được tưới mát bởi

hình ảnh của mái đình, bến nước, con đò, hương thơm của đồng nội hoa cỏ,

những giọt mồ hôi và nước mắt, những lam lũ thường nhật của ch n làng quê

Mang nặng tình yêu với quê hương đất nước Nguyễn Bính đã hang hái tham

gia cách mạng, sẵn sang xung phong vào tuyến lửa ác liệt nhất để phục vụ tổ

Trang 30

qu c T sau Cách mạng, Nguyễn Bính vẫn sáng tác đều đặn Độc giả biết

đến ông qua bài thơ dài Gửi vợ miền Nam (1955) và tập thơ Đêm sao sáng

(1962)

Mỗi vần thơ Nguyễn Bính không những đẹp mà còn có sức lôi cu n lạ

kỳ Ngôn t trong thơ ông không cầu kỳ, hoa mỹ nhưng đổi lại lại rất đỗi sâu sắc, giản dị và gắn bó với con người, cảnh vật làng quê Việt Nam Đọc mỗi vần thơ của Nguyễn Bính ta thấy khơi gợi trong tâm tưởng của mỗi con người

về tình yêu quê hương đất nước sâu nặng Là một người yêu thơ văn và nhất

là lại dành một thứ tình cảm đặc biệt cho thơ của Nguyễn Bính nhà phê bình văn học Đoàn Hương đã nói về cái đẹp trong thơ Nguyễn Bính: “Thơ Nguyễn Bính đã và sẽ tồn tại với quy luật giản dị của văn học dân gian Sự lớn lao trong bóng dáng thơ ca của ông trên văn đàn lại hiện hữu t những điều đơn giản nhất của cuộc s ng Thơ ca mãi mãi là cái đỉnh cao nổi tiếng ấy, cao hơn tất cả các ngọn núi Alpơ, nằm lăn trong cỏ, trước chân ta, đến độ chỉ cần cúi

xu ng một chút là ta có thể nhìn thấy nó và nhặt nó lên” Và câu nói nổi tiếng của nhà thơ Nga Paxtecnắc phải chăng cũng chính là nói về thơ Nguyễn Bính:

“Những vần thơ giản dị của ông cứ tồn tại và s ng đời s ng riêng của nó Nó tồn tại như lẽ tự nhiên của cuộc đời v n tồn tại vậy”

Các nhà phê bình văn học gọi ông là nhà thơ của hồn quê, nhà thơ chân quê, ca sĩ của đồng ruộng Bởi tấm lòng, tình cảm gắn bó máu thịt của ông với quê hương luôn hiện hữu trong những câu thơ, bài thơ đầy ắp những hình ảnh gần gũi, thân quen về cuộc s ng nơi thôn dã T lũy tre làng, giậu mùng tơi, giàn trầu, hàng cau liên phòng đến l i ngõ trải rơm, màu hoa đại, hương gạo tám thơm, men nồng rượu nếp… tất cả đều đẹp đẽ, nên thơ qua cái nhìn, cách nghĩ và cảm xúc của ông Trên nền những bức tranh quê tươi sáng, thơ mộng

ấy, cuộc s ng sinh hoạt của người thôn quê được ông khắc họa thật sinh động,

rõ nét Đến với thơ ông, người đọc như được s ng trong không gian văn hóa làng quê Bắc Bộ đậm đà bản sắc với những ngày Tết cổ truyền, hội làng, đám hát thâu đêm, những phong tục tập quán, trò chơi, nếp s ng xa xưa Đó là hương vị truyền th ng trong “Tết của mẹ tôi”:

Trang 31

Sáng nay mồng m t sớm tinh sương

Khi vẽ nên những cảnh quê, tình quê mộc mạc, thuần khiết, ngôn ngữ thơ ông cũng giản dị, tự nhiên như lời nói của người dân quê trong đời s ng dân dã, vậy mà vẫn làm chúng ta xao xuyến, bâng khuâng

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã thật chí lý khi cho rằng: “Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” Người đọc mọi lứa tuổi thuộc thơ Nguyễn Bính, bởi nhiều câu thơ của ông không chỉ gợi được cảnh quê mà còn diễn tả chân thành và xúc động hồn quê bình dị mà thiêng liêng, sâu nặng Có những bài thơ của ông đã trở thành bài hát ru con,

ru cháu, được các bà, các mẹ ngâm nga bên cánh võng để thổ lộ, giãi bày nỗi niềm của chính mình Nguyễn Bính yêu tha thiết quê hương nhưng cũng là người có nhiều năm tha hương trong cuộc đời Và như một lẽ tự nhiên, càng

xa cách, nỗi nhớ và tình yêu quê hương càng đau đáu, khắc khoải Nhiều bài thơ ông viết về những người mẹ quê nghèo, những người chị đảm đang, nhân hậu như một phần hình bóng quê hương lam lũ mà thắm đượm nghĩa tình Nhà thơ xót xa trước nỗi cô đơn của người mẹ:

X m ây bà lão lưng c ng

C hai con gái lấy chồng cả hai

Gi thu thở ngắn, than dài

Bà đem áo rét phơi ngoài cửa thưa

Giữa biết bao bóng người trên sân ga, nhà thơ vẫn nhìn thấu nỗi lòng

quặn thắt của người mẹ đưa tiễn con đi trấn ải xa: àu chạy lâu rồi bà vẫn

Trang 32

đứng/ ưng c ng đổ b ng xuống sân ga Ông sẻ chia nỗi niềm với người mẹ

gắng gượng vui lo cho con gái đi lấy chồng, để rồi khi còn lại một mình mới

vỡ òa những buồn tủi: Con ạ! Đêm nay mình mẹ h c/ Đêm đêm mình mẹ lại

đưa thoi Và nhà thơ khiến ta nhói lòng khi viết về chính cha mẹ mình:

Con đi mười mấy năm trời

M t thân bé bỏng, nửa đời gi sương

hày đ ng nhớ, mẹ đ ng thương Cầm như đồng kẽm, ngang đường bỏ rơi

Riêng ở lĩnh vực thơ tình, Nguyễn Bính cũng có một vị trí xứng đáng, một giọng thơ đặc biệt Đúng như nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét: “Ngòi bút Nguyễn Bính có biệt tài diễn tả những m i tình quê thơ và mộng” Ta bắt gặp trong thơ ông những m i tình trong sáng của trai, gái nơi thôn quê nảy nở

t những ngày hội xuân, những đêm hát chèo, những sinh hoạt đời thường với rất nhiều cung bậc cảm xúc Có những e ấp, ngại ngùng của cô gái quê v n quen s ng khép kín bên khung cửi:

ng thấy giăng tơ m t mối tình

Em ng ng thoi lại giữa tay xinh Hình như hai má em b ng đỏ

M t người chín nhớ, mười mong m t người

Gi mưa là bệnh của giời ương tư là bệnh của t i yêu nàng

Có những tiếc nu i khi tình yêu dang dở:

Trang 33

T ngày c đi lấy chồng Gớm sao c m t quãng đồng mà xa

Bờ rào cây bưởi h ng hoa Qua bên nhà, thấy bên nhà vắng teo

Và có cả những mãnh liệt, dâng trào như cảm xúc không thể kìm nén:

Hồn anh như hoa cỏ may/ M t chiều cả gi bám đầy áo em… Những tình

cảm yêu thương trong thơ Nguyễn Bính dù là tình yêu đôi lứa hay tình yêu dành cho cha mẹ, gia đình, làng xóm đều thể hiện sự chân thành của cảm xúc nên dễ đi vào lòng người

Tài năng của nhà thơ Nguyễn Bính đã được ghi nhận, tôn vinh bằng những đánh giá đầy trân trọng của bạn thơ, các nhà phê bình văn học và chính xác hơn hết là lòng yêu mến của bạn đọc nhiều thế hệ Trải qua thời gian với biết bao thay đổi, những vần thơ của ông vẫn được nhắc đến bởi nó bồi đắp cho mỗi chúng ta lòng yêu thương, gợi nhắc chúng ta không quên quê hương, nguồn cội

Cái Tôi Thơ mới thường nghiêng về sự hả hê bởi được giải phóng khỏi cái Ta Nếu cô đơn, thì thường là khi phải đ i diện với vũ trụ mênh mông, khi không có một cái Tôi khác để gắn bó Nguyễn Bính khác Trước hết, về Nguyễn Bính mà nói bằng cô đơn, không ra Nguyễn Bính là nỗi đơn côi Khác nhau có một chữ, nhưng là hai hồn vía Không phải ngẫu nhiên mà mặc cảm chia lìa, mặc cảm bơ vơ lại bám riết lấy tâm tư Nguyễn Bính su t cả đời không chịu buông tha Nhìn đâu cũng thấy chia lìa: “Con sào đẩy sóng thuyền nan lìa bờ”, “Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn”, “Chán chường như lũ tàn quân lìa thành”, “Những cuộc chia lìa khởi tự đây”, “Anh em li tán lâu dần thành ra”, “Lìa cành theo gió lá luồn qua song”, “Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ” Nhìn đâu cũng thấy côi cút, đơn chiếc, vô định: “Hồn đơn chẳng có nơi nương tựa”, “Hồn đơn quằn quại xác gầy”, “Muôn vàn đơn chiếc đổ vào đầu tôi”, “Một người đi mấy mươi người nhớ thương”, “Ta đi nhưng biết về đâu chứ”, “Anh đi đó! Anh về đâu?”, “Nào biết về đâu kẻ ngước xuôi”, “Biết lạc về đâu lòng hỡi”

Trang 34

Nhưng, một khía cạnh rất đáng nói là: bi kịch của cái tôi kia không có tận cùng Sinh ra t cuộc tình đương giữa hồi dang dở giữa Đô thị và Thôn quê như thế, Nguyễn Bính đã c chạy theo tìm sự cưu mang của t ng phía, nhưng cả hai đều ch i bỏ, mỗi bên phụ phàng theo một cách riêng Thoạt đầu ánh sáng kinh thành huyễn hoặc, anh chàng chân quê đã tưởng có thể gửi mình vào đó, tìm thấy trong hứa hẹn của nó những vinh hoa Nhưng cu i

cùng, chỉ là phù hoa: Phồn hoa th i hết m ng huy hoàng / Sớm nay sực tỉnh

sầu đ thị Chán chường, chàng tìm lại ch n quê Nguyễn Bính về quê không

phải như Đào Uyên Minh “qui khứ lai t ” bởi quá chán ngán cảnh luồn cúi nơi trường đào mận Không phải như một nhà nho thành đạt và chán ngán, về quê theo lẽ xuất xử hành tàng, về ở ẩn lánh đời Mà cái Tôi Nguyễn Bính về quê như một người su t đời băn khoăn đi kiếm cách s ng cho mình, su t đời tìm kiếm công danh và chỗ đứng trong cái cuộc s ng văn minh đô thị Mà

cu i cùng tay trắng vẫn hoàn tay trắng

Công danh dở dang, duyên phận lỡ làng C hương ngỡ bình lặng muôn đời là thế cũng không dung được một kẻ đã ngập hẳn về thôn ổ mà chẳng thể rửa sạch khỏi lòng m i sầu đô thị ăn sâu Yêu lắm lắm những gì chân mộc của

c hương, nhưng giữa kẻ hồi hương và đất cũ đã có những ngăn cách vô hình không thể vượt qua:

Kh ng c n ai ở lại nhà Hỏi c n ai nữa? để hoa đầy vườn

răng đầy ngõ, gi đầy th n Anh về quê cũ c buồn h ng anh?

Một lần lỡ bước sang ngang là đơn côi vĩnh viễn Nguyễn Bính là cái lỡ

dở muôn đời ấy Nó là một bi kịch không biên giới

Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh, khi phê bình về Nguyễn Bính,

có viết: "Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước tôi chắc người đã làm những câu

ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ

đã có vô s những nhà thông thái nghiên cứu" Thật vậy! Nhiều bài thơ của Nguyễn Bính mang vần điệu ca dao và rất dễ nhớ Nguyễn Bính không dùng

Trang 35

chữ tr u tượng hay cầu kỳ để viết nên những vần thơ để đời, ông cũng không không dùng những triết lý cao siêu để nói lên những điều hiển nhiên trong cuộc s ng

Nguyễn Bính, nhà thơ được mệnh danh là nhà thơ của nông thôn, “chân quê” có phong cách thơ giản dị, gần gũi với đời s ng của những người nông dân chất phác, thật thà Nàng thơ của ông là những cô gái duyên thắm má đào,

e thẹn khi đề cập đến tình duyên, yêu thương không trọn vẹn, tương tư đến tận trời xanh cũng thấu Thơ Nguyễn Bính có cái tôi bình dị, viết về nông thôn, đến nỗi người đời gọi ông bằng một cái tên đặc biệt “thi sĩ chân quê” Cái tôi gần gũi, mộc mạc, đi vào đời s ng của những người nông dân, tình yêu trong thơ được thể hiện qua những vần thơ dịu dàng, đậm đà bản sắc dân tộc, đôi khi kết hợp một chút phá cách mới lạ của “cái yêu mới mẻ, hiện đại” của phương Tây, đã làm cho ông s ng mãi trong lòng những người yêu thơ tình, ghi dấu mãi vào kho tàng thi ca dân tộc một nhà thơ tài hoa, lãng tử

Trang 36

TIỂU KẾT

Ẩn dụ là một biện pháp nghệ thuật không quá xa lạ đ i với mỗi chúng

ta, nó đã được sử dụng rộng rãi trong văn học t xưa đến nay Ở trong chương

1 này chúng tôi đã tìm hiểu khái niệm ẩn dụ theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau, các kiểu ẩn dụ và hiện tượng chuyển nghĩa của t Và đặc biệt ở trong chương này tôi đã đi sâu vào tìm hiểu về nhà thơ Nguyễn Bính ở cả cuộc đời và sự nghiệp của ông Chương 1 này chính là chương nền tảng để nghiên cứu chương 2 và 3

Trang 37

hả mu n tận hưởng cuộc s ng

Còn Nguyễn Bính đến với công chúng gi ng như một “cô gái thôn quê” luôn mặn mà, kín đáo và đầy duyên dáng Đọc thơ ông người đọc sẽ thấy ở đó nét dung dị, đằm thắm mang đậm hương sắc dân tộc Chất trữ tình trong thơ Nguyễn Bính luôn sâu sắc, mặn mà và mộc mạc hợp với phong cách của người Á Đông, bởi vậy nó đã đi sâu vào tâm hồn của nhiều lớp người và chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc Ngoài phần ngôn ngữ bình dân

dễ hiểu dễ thuộc thơ Nguyễn Bính còn ghi điểm ở việc nhà thơ đã xây dựng được rất thành công các hình ảnh nghệ thuật và nhất là những hình ảnh ẩn dụ

Qua khảo sát cho thấy các hình ảnh ẩn dụ về tình yêu đôi lứa trong thơ Nguyễn Bính chiếm s lượng nhiều hơn cả, biện pháp ẩn dụ là biện pháp tu t được Nguyễn Bính sử dụng thường xuyên trong các bài thơ tình, nhờ đó mà nhà thơ đã thể hiện v a sâu sắc v a tinh tế các cảm xúc cũng như các cung bậc của tình yêu nhất là vào thời điểm mà tình yêu là thứ chỉ được bộc lộ một cách thầm kín, ý nhị mà thôi Chính vì tình yêu không được bộc lộ một cách trực tiếp nên các hình ảnh ẩn dụ về tình yêu đôi lứa trong thơ Nguyễn Bính được phát huy tác dụng một cách cao độ và triệt để nhờ đó mà những vần thơ ông đẹp đẽ và sâu sắc đến kì lạ

Với việc sử dụng một cách linh hoạt những hình ảnh ẩn dụ trang thơ Nguyễn Bính dường như đã trở thành nhịp cầu n i nói hộ tấm lòng của những tâm hồn đang yêu, kín đáo thầm lặng, mà cũng không kém phần e ấp

Trang 38

Nơi này chán vạn oa tươi

Để yên t i i đ ng mời t i lên

M t đi làm nở hoa sen

M t cười làm rụng n n ìn oa mai

Hương thơm như thể hoa nhài

Những m i t đậm làm p ai oa đ o Nõn nà như thể hoa cau

hân hình yểu điệu ra m u oa lan

(Lòng yêu đương)

ng thấy i n tơ một mối tìn

Em ng ng thoi lại giữa tay xinh Hình như hai má em ửng đỏ

Để thể hiện tình yêu một cách chân thành, sâu sắc, kín đáo nhà thơ

Nguyễn Bính đã sử dụng hàng loạt những hình ảnh ẩn dụ hoa, sen, phai hoa

đào, màu hoa lan, bướm trắng, cau th n Đoài, giầu h ng, chuyện bướm xưa, giăng tơ m t mối tình đó là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc trong những

vần thơ của Nguyễn Bính khi nói về tình yêu đôi lứa Mượn những hình ảnh của sự vật hiện tượng để nói lên tiếng lòng của mình là một điều thường thấy

trong ca dao xưa như hình ảnh thuyền và bến trong hai câu thơ:

Thuyền về c nhớ bến chăng?

Bến thì m t dạ hăng hăng đợi thuyền

Trang 39

Thuyền, bến ở đây đều là những ẩn dụ để nói về tình yêu lứa đôi, về nỗi

nhớ của chàng trai dành cho cô gái phương xa cũng như khẳng định sự thủy chung son sắc trong tình yêu Đó là cách thể hiện tình cảm trong ca dao, còn với “thi sĩ của làng quê” cũng nói về nỗi nhớ của người đang yêu nhưng lại được ông thi vị hóa theo cách riêng của mình:

h n Đoài ngồi nhớ th n Đ ng

Cau t ôn Đo i nhớ giầu k ôn th n nào

Ở đây ta có thể thấy hình ảnh “cau thôn Đoài, giầu không” đều là những hình ảnh ẩn dụ để thể hiện tình yêu đôi lứa cũng như nỗi nhớ nhung da diết trong tình yêu Đó chính là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc gắn liền với đời

s ng sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân Việt Nam ta t hàng ngàn đời nay, nhà thơ đã rất khéo léo trong việc đưa các “chất liệu” của cảnh sắc và con người thôn quê vào thơ với những: “hàng cau, giàn trầu, bướm trắng, hoa đào, hoa sen…” khiến cho những vần thơ t đó mà cũng trở nên mộc mạc, gần gũi hơn bao giờ hết

Tình yêu là một thứ cảm xúc thật đặc biệt, nó được thể hiện bằng những cung bậc cảm xúc khác nhau của những con người đang yêu Có khi nó

là những nụ cười nhưng đôi khi cũng là những giọt nước mắt, có lúc nó là những giây phút khao khát, mong chờ mà chỉ cần nghĩ đến thôi con người ta cũng có thể vỡ òa trong hạnh phúc

Không ồn ào mà dịu êm, không dữ dội mà lặng lẽ, không mãnh liệt mà chân thành mộc mạc như tình yêu cửa người bình dân trong ca dao Đó chính

là tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, sâu lắng và không kém phần da diết, đã dệt nên khúc “Tương tư” cho muôn đời:

ương tư thức mấy đêm rồi Biết cho ai hỏi, hỏi người biết cho

Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa k uê c c bướm giang hồ gặp nhau

(Tương tư)

T “bệnh tương tư” chuyển dần thành nỗi nhớ:

Trang 40

Nhớ nhung trắn xo cả mâ trời

Trắn xo ồn tôi ai nhớ t i

Hoa cuối cùng xoan rồi rụng hết

ấy gì phảng phất được màu m i

(Chờ nhau)

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính mang màu nỗi nhớ, nó được thể hiện

bằng rất nhiều những hình ảnh ẩn dụ khác nhau Có khi là kẻ đầu s ng, kẻ

cuối s ng, hay nỗi nhớ được cụ thể hoá trắng xoá cả mây trời, trắng xoá hồn

t i, bên cạnh đó còn là những hình ảnh rất quen thuộc như hoa huê các bướm giang hồ… Nhà thơ đã khéo léo sử dụng những ẩn dụ để diễn tả nỗi

nhớ nhung của trái tim người đang yêu một cách rất sâu sắc Những hình ảnh

bến với đ , hoa với bướm là những hình ảnh luôn gắn kết rất đồng điệu với

nhau, chúng luôn ở trạng thái gần gũi, gắn bó không thể tách rời thế nhưng nay lại rơi vào hoàn cảnh phải xa cách nhau t đó mang nỗi nhớ mong Con

đò luôn phải gặp bến vì không có bến thì thuyền sẽ cứ mãi lênh đênh trên sông nước mà chẳng thể nào neo đậu, cũng gi ng như hoa và bướm luôn phải

song hành với nhau và không thể tách rời Dù là hoa huê các, hoa trong vườn kín cũng không thể ngăn được các bướm giang hồ, đó là sự gặp gỡ,

niềm mong ước của đôi lứa trong tình yêu

Có thể nói tình yêu luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho cuộc s ng của mỗi chúng ta, nó chính là thứ dư vị để tô hồng thêm cho cuộc s ng của mỗi con người Tình yêu gi ng như là một thứ phép tiên là s ng dậy những tâm hồn khô héo Ấy vậy mà ta lại bắt gặp trong những vần thơ của Nguyễn Bính

ít khi nào có sự gặp gỡ của đôi lứa yêu nhau mà tình cảm ấy nó chỉ thường

Ngày đăng: 07/07/2022, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đỗ Hữu Châu (Tập 2: 2007), Đại cương Ng n ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ng n ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[2]. Đỗ Hữu Châu (2005), Cơ sở ngữ dụng học (đọc Chương II, mục III), Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
[3]. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội [4]. Mai Ngọc Ch (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ng n ngữ học, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ", Nxb Giáo dục, Hà Nội [4]. Mai Ngọc Ch (2005), "Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ng n ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội [4]. Mai Ngọc Ch
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[5] Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Qu c gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Qu c gia
Năm: 2001
[6] Nguyễn Thiện Giáp (1998), vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[7]. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[8] Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1997), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[9]. Đinh Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tu t tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu t tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
[10]. Vũ Nho (2012), hơ và dạy học thơ, Nxb Đại học Thái Nguyên [11] Hoàng Kim Ngọc, Hoàng Trọng Phiến (2011), Ng n ngữ văn chương, Nxb Đại học Qu c gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hơ và dạy học thơ", Nxb Đại học Thái Nguyên [11] Hoàng Kim Ngọc, Hoàng Trọng Phiến (2011), "Ng n ngữ văn chương
Tác giả: Vũ Nho (2012), hơ và dạy học thơ, Nxb Đại học Thái Nguyên [11] Hoàng Kim Ngọc, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên [11] Hoàng Kim Ngọc
Năm: 2011
[12] Đào Thản (1998), T ng n ngữ chung đến ng n ngữ nghệ thuật, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ng n ngữ chung đến ng n ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1998
[13] Bùi Minh Toán (2001), Ng n ngữ với văn chương, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng n ngữ với văn chương
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2001
[14] Nguyễn Văn Tu (1960), Khái luận ng n ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái luận ng n ngữ học
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1960
[15] Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
[16] Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu t tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu t tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thân hình yểu điệu ra màu hoa lan - Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống ẩn dụ trong thơ nguyễn bính
h ân hình yểu điệu ra màu hoa lan (Trang 59)
các ẩn dụ về tình yêu khác Đặc biệt có nhiều hình ảnh ẩn dụ nhƣ: v…xuất - Đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống ẩn dụ trong thơ nguyễn bính
c ác ẩn dụ về tình yêu khác Đặc biệt có nhiều hình ảnh ẩn dụ nhƣ: v…xuất (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w