Rõ ràng, với Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian nhàn rỗi không chỉ đắm mìnhhưởng lạc trước thiên nhiên, mà trong những thời khắc ấy nhà Nho vẫn có nhữngkhía cạnh tích cực, trăn trở và suy tư tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
TRƯƠNG THỊ BÍCH LỆ
• •
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
• • • •
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2Bình Định - Năm 2020 TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
TRƯƠNG THỊ BÍCH LỆ
• •
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 8220121
Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ NGỌC HOA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nguyên cứu nêu trong luận văn là trung thực và khôngtrùng lặp với các đề tài khác của các tác giả đã được công bố ở Việt Nam
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung đề tài
Trang 4MỤC LỤC
• • LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 16
1.1 Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại 16
1.1.1 Giới thuyết chung về cảm thức thời gian 16
1.1.2 Diễn tiến biểu hiện cảm thức thời gian trong sáng tác thơ trung đại 21 1.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian nhà thơ trong BVQNTT 30
1.2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thời đại chi phối cảm quan thẩm mỹ nhà thơ 30 1.2.2 Sự ảnh hưởng cảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước 33
1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm với tập thơ Nôm 39
1.3.1 Vài nét về hình thức thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 39
1.3.2 Bạch Vân quốc ngữ thi tập 42
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2 CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 48
Trang 52.1 Các kiểu thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 48
2.1.1 Thời gian vũ trụ tuần hoàn 48
2.1.2 Thời gian xã hội - “thế thái nhân tình” 55
2.1.3 Thời gian tâm lý với suy cảm cá nhân 61
2.2 Ứng xử của nhà thơ trước các kiểu thời gian 65
2.2.1 Thích thảng ưu du trong buổi nhàn cư 65
2.2.2 Nghiệm suy từ thế thái nhân tình 73
2.2.3 Triết luận trước nhân sinh biến cải 77
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 84
3.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 84
3.1.1 Nghệ thuật dùng điển và thi liệu Hán học trong thơ Nôm 84
3.1.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giản dị chất phác 90
3.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu đối lập trong thơ 97
3.2.1 Nghệ thuật tổ chức hình ảnh đối lập 97
3.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang nghĩa đối lập
102 3.2.3 Nghệ thuật xây dựng câu thơ theo kết cấu đối lập
104 Tiểu kết Chương 3
109 KẾT LUẬN
111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
115
Trang 81
Trang 9Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn
(chủ biên) Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (Tập 1) nhận định: “Trong 95 năm
của cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ thực sự làm quan có 8 năm ( ) Khi dùi màikinh sử, lúc ở ẩn, khi ra làm quan, lúc mở trường dạy học, ông tiếp xúc nhiều vớinhững con người, những cảnh đời khác nhau Thật ít người có được một cuộc đờitừng trải như Nguyễn Bỉnh Khiêm” [63; 169] Chính cuộc đời từng trải ấy đã tạo nên
ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết vô cùng rộng lớn và sâu sắc Vốn kiến thứcuyên bác có được từ sách vở kết hợp với vốn sống phong phú từng trải việc đời, việcngười được đúc kết tạo nên những vần thơ mang sắc màu thời gian đậm chất thế sựmang triết lý uyên thâm
Cũng như các nhà nho trung đại khác, việc ẩn cư để “minh triết bảo thân”,Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những tháng ngày “nhàn”, “tiên”, “Thân nhàn, phúc lạiđược về nhàn”, “Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng”, “Vô sự thì hơn nữa ngọc vang” Ngay trong lời tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc bạch: “Tôi mỗi lúc rỗi, cơn hứng đếnthường ngâm vịnh hoặc ca ngợi thắng cảnh của núi sông; hoặc vui về dáng xinh củahoa trúc; hoặc tức cảnh mà ngụ ý; hoặc mượn việc mà tự thuật đều ghi lấy chí củamình” [61; 400] Dù có nói thẳng quan niệm “về nhàn”, nhà thơ vẫn khó vô ưu trước
thế cuộc Bạch Vân am thi tập là tập thơ mang nặng ưu tư về những nỗi niềm của tác
giả qua các chặng đường đời Dù Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận ra thế cuộc đảo điên biếnthiên khó đỡ, ông tìm về “non xanh, nguyệt bạc” làm một dật dân “bảo toàn minhtriết”, nhưng thẳm sâu trong lòng nhà Nho trí thức vẫn không nguôi nỗi niềm canhcánh với đời Nhận xét về điều này, Vũ Khâm Lân cho rằng: “Tuy ở nhà bốn mươi tưnăm mà lòng không ngày nào quên đời, ưu thời mến tục đều lộ trong thơ” Con ngườinhàn dật, tự tại trong Tuyết Giang phu tử vì thế vẫn chưa thoát khỏi học thuyết Nhogiáo, vẫn chưa ra ngoài quan niệm “hành-tàng”, “xuất-xử”, “nguy bang bất nhập,loạn bang bất cư” để hòa mình vào thế giới của Lão Trang” [61; 131-136]
Lê Trọng Khánh - Lê Anh Trà trong một nghiên cứu về tính triết lý trong thơNôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra tính “sâu sắc mà vẫn cụ thể và xác thực” Trong
bài viết Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ triết lý, tác giả trân trọng khi phát hiện quan
2
Trang 10niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Tính chất nhàn tản của Nguyễn BỉnhKhiêm thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích kỷ và hoàn toàn hưởng lạc, tưtưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía cạnh tích cực, phù hợp với tưtưởng hành đạo của Nho giáo Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một lối phản ứngcủa tầng lớp nho sĩ bất lực trước thời cuộc lúc bấy giờ, phản ứng bằng hình thức tiêucực, nhưng vẫn bao hàm một nội dung đấu tranh bằng phương pháp theo lẽ tự nhiên”[22; 247] Rõ ràng, với Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian nhàn rỗi không chỉ đắm mìnhhưởng lạc trước thiên nhiên, mà trong những thời khắc ấy nhà Nho vẫn có nhữngkhía cạnh tích cực, trăn trở và suy tư trước biến thiên thế cuộc.
Nghiên cứu trên nhiều phương diện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể kể đến công trình: Nguyễn Bỉnh Khiêm - Về tác gia và
tác phẩm (Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu) Công trình bao
quát một nguồn tài liệu nghiên cứu về Trạng Trình họ Nguyễn khá đầy đặn Bao gồmrất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều lĩnh vựckhác nhau, các nhà nghiên cứu hướng về tư tưởng, nhân cách, về sáng tạo nghệ thuật,
về triết nhân đặc sắc của thế kỷ XVI, về thơ ca quan phương lẫn bình dân bình dị của
nhà Nho chính thống chuẩn mực Trạng Trình Trong lời giới thiệu về Sức sống của
thơ ca và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả đã nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm
là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn BỉnhKhiêm đã tìm về với “cái vụng”, “cái thuyết” mà theo quan niệm của Nho gia, đãđược điều chỉnh bởi quan niệm của đạo Lão, mới là bản chất tự nhiên của sự vật.Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn BỉnhKhiêm - Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rấthiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại”[61; 48] Cái chất “tự tại, giản phác, hồnnhiên, lạc quan, khỏe khoắn” ấy đã làm nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm rất riêng, rấtphong thái triết nhân điềm tĩnh ung dung đi qua thời gian đầy thăng trầm của nonmột thế kỷ lịch sử biến động
Phân tích thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm để đi tìm tâm sự của nhà thơ là khía cạnhđược nhiều nhà nghiên cứu khai thác Qua phân tích một số bài thơ “Nhàn” của
3
Trang 11Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn với “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”, Bùi Duy Tânnhận ra thời điểm khắc khoải của chủ thể trữ tình xuyên suốt chủ thể ấy là mộtNguyễn Bỉnh Khiêm chán ghét thói đời gian xảo, đường hoạn lộ đầy hệ lụy và nhàthơ tìm về cuộc sống nông thôn thuần phát, thích thảng an nhàn và cuộc sống đạmbạc nơi thôn quê đầy lạc thú Tác giả chỉ ra thời gian nhàn rỗi của người nghệ sĩ mẫncảm Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ông đọc sách, ngâm thơ, uống rượu, tưới cúc, vun thông,hâm chè, trở lửa trong cảnh nước biếc non xanh, trăng trong gió mát, dưới bóngrâm cổ thụ hay trời thu khí mát, bên bờ tre quê hay bên luống hoa đẹp, nhà thơ đềuthấy tâm tình thoải mái” [61; 342] Hiện hữu trong thơ, rõ ràng không hẳn chỉ lànhững sinh hoạt tiêu dao thưởng ngoạn của một ẩn cư, mà đó còn là tâm sự, là nỗiniềm, là các trạng huống xen lẫn những ưu tư thế sự trước những khoảnh khắc thờigian thư thái mà nhà thơ đặt mình thảnh thơi tận hưởng.
Nghiên cứu trên một số bình diện về ngôn ngữ, hình ảnh, đề tài của Bạch
Vân quốc ngữ thi tập, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét đặc sắc, nét riêng về nghệ
thuật của tập thơ Nôm Trong bài viết Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả Trần
Thị Băng Thanh nhận xét: “Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộcbạch, tỏ bày chí hướng, khát vọng ấy của mình trong thơ Nôm Song, nếu nhưNguyễn Trãi đi từ nhiều đề tài vịnh cây cỏ, tự thán, thuật hứng, trần tình, mạnthuật.để rốt lại nói lên hoài bão chí hướng của mình thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại theomột quá trình ngược lại Ông chỉ làm thơ ngôn chí, nhưng từ đó mà bao gồm tất cả,thể hiện tất cả, có tấm lòng yêu đời, yêu người, giận thương, răn dạy, khuyên nhủ.(.)Dường như Nguyễn Trãi cô đơn hơn, còn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều bè bạn hơn Từ
Quốc âm thi tập đến Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thơ Nôm đã hình thành một số nét
đặc sắc về nghệ thuật bút pháp tả thực” [61; 565]
Giới thiệu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới hình thức chữ viết, Đinh GiaKhánh đã có nhận xét về cách biểu hiện thời gian trong thi tập của nhà thơ: “Nhưngmỗi khi muốn vui chơi giải trí, hoặc buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặcnhận thức riêng tư, tức là không có dụng ý lấy văn để “chở đạo” là chủ yếu, thì tácgiả lại hay viết bằng thơ chữ Nôm” [21; 87] Như vậy, chọn hình thức diễn đạt bằng
4
Trang 12chữ Nôm diễn tả các cảm xúc tâm trạng theo thời gian mang tính thế sự, NguyễnBỉnh Khiêm không hẳn dụng ý dùng văn chương để “chở đạo”, tự thân sự kết hợp tàihoa nhuần nhị giữa hai phạm trù uyên bác và bình dân, triết lý và trữ tình, thơ nóichí, thơ đạo lý của ông trở thành một lối thơ triết học mang đậm màu sắc thế sự nhânsinh.
Nghiên cứu về nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi, Lã Nhâm Thìn đã chỉ ra sự
kết hợp nhuần nhị giữa các cặp phạm trù đối lập “triết lý và trữ tình, uyên bác vàbình dị” Tác giả nhấn mạnh: “Thơ Trạng Trình tác động mạnh tới lý trí, tới nhậnthức người đọc bằng phương pháp đối lập Thơ triết lý nhưng không khô khan; Nhàthơ diễn đạt những vấn đề của tư tưởng, của luận lý lô gic bằng những hình tượngnghệ thuật cụ thể, sinh động” [63; 179] Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông lýhọc, mẫn cảm với đời, sống gần gũi với đời sống dân thường, chan hòa với thiênnhiên vạn vật, suy tư thế cuộc đã gửi cảm xúc của của mình vào thi tập chữ Nôm mộtcách hài hòa phù hợp với từng trạng huống cảm xúc Đọc thơ ông, chúng ta bắt gặpnhững chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về thời cuộc mang tính suy luận triết học,những nguyên lý tư tưởng, có hiện tượng, có bản chất, có nguyên nhân và kết quả
“Vị nọ, thức kia.; nhân vì, ấy bởi ”
Trong lời Giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tác gia và tác phẩm, tác
giả Trần Thị Băng Thanh - Vũ Thanh đã nhận xét khá xác đáng về chất thơ và cuộcđời Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Cùng với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du., Nguyễn BỉnhKhiêm là đỉnh cao về thi ca thời trung đại (.) Thơ ông như một khu rừng thâmnghiêm linh thiêng và thách thức sự kiếm tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người trí thứctrong thơ và là nhà thơ giàu tri thức, uyên bác trong nhiều trường hợp không dễ tạođược sự hài hòa giữa chất thơ và triết luận”[61; 7] Rõ ràng, trong thơ ông có chất thơ
và triết luận Bởi, nó được đúc rút từ chính con người uyên bác, thâm thúy trước mọi
lẽ biến cải thế nhân của Trạng Trình họ Nguyễn
Sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được đánh giá là một thành tựulớn trong nền nghệ thuật thơ văn trung đại Việt Nam Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mangtính mở đầu cho một dòng thơ văn giàu tính triết lý, tư duy lý trí - thế sự, bước đầu
5
Trang 13chạm chân vào hiện thực và hơn hết, thơ Trạng Trình đã mô tả xã hội dưới góc nhìnđời tư và đời thường qua cảm nhận của một triết nhân sâu sắc trước nhân tình thếcuộc Nghiên cứu ở góc độ đóng góp trong sáng tác nghệ thuật thơ bằng chữ Quốcngữ (chữ Nôm) của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn nhận định: “Nguyễn BỉnhKhiêm là người mở ra hướng mới cho sự nghiệp thơ ca của mình: tư duy thế sự ( )
Ở đây trí tuệ và tâm hồn dân tộc đã tiến đến một trình độ khái quát tư duy nghệ thuậtcao hơn: văn học tiếp cận những bình diện cuộc sống, những mâu thuẫn nội bộ dântộc qua những vần thơ trữ tình có giá trị tự thuật cá tính và tự sự xã hội rất sinh động
cụ thể” [61; 112]
Như vậy, sau Nguyễn Trãi một thế kỷ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp nối và vậndụng tiếng nói đậm đà bản sắc dân tộc để sáng tác thơ nhằm gửi vào đó những xúccảm, đời sống xã hội của người Việt bằng ngôn ngữ Việt Thơ ông được xem làngười
kế thừa và phát triển được ca tụng là “Cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế kỷ”
Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều bình diện từ trước đến nay vẫnchưa hề vơi cạn Những nhận định về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều góc độ khácnhau, nhất là những nghiên cứu về các phương diện thi pháp học sẽ là nguồn tài liệu
hỗ trợ, gợi dẫn cần thiết để chúng tôi tham khảo, tìm hiểu nghiên cứu về cảm hứng
thời gian của thi nhân biểu hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập Chúng tôi cố gắng
đưa ra những nhận xét có tính khái quát đối với vấn đề cần khảo sát để giúp ngườiđọc thấy được một số phương diện của tập thơ Nôm đã được tìm hiểu, khai thác.Những nhận định, đánh giá từ các công trình trên sẽ là những gợi dẫn cần thiết chochúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề liên quan đến cảm thức thời gian trong thơ NômNguyễn Bỉnh Khiêm
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho đời nhiều thành tựu đáng quý, trong đó có
Bạch Vân quốc ngữ thi tập (BVQNTT) được viết bằng chữ Nôm (gồm khoảng 170
bài thơ), đã xác nhận ông là một thi hào thực thụ trong làng thơ ca trung đại ViệtNam Tư tưởng, tình cảm và tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm được phản ánh một
6
Trang 14cách sinh động qua tập thơ Nôm Cả cuộc đời 95 tuổi (1491 - 1585) gắn liền suốt thế
kỷ XVI với những quãng thời gian đầy biến cố trong lịch sử xã hội Việt Nam luôn có
ý nghĩa đặc biệt với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Sống trọn gần một thế kỷ gắntừng chặng đường đời với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc và những bi kịchcuộc đời đã hun đúc trong ông những tầm cao trí nhãn để lại cho hậu thế “cây đạithụ rợp bóng” trong làng văn chương trung đại Việt Nam
Trong thế giới nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời gian được cảmnhận, ý thức một cách hệ thống dưới nhiều dạng thức khác nhau biểu hiện nhữngtrạng huống cảm xúc khác nhau trong từng chặng đường đời của chính nhà thơ Đềtài chúng tôi tập trung nghiên cứu về các biểu hiện cảm thức thời gian trong
BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những phương thức nghệ thuật thể hiện các
kiểu thời gian trong nhận thức và cảm xúc của nhà thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những công trình nghiên cứu thơ Nôm NguyễnBỉnh Khiêm, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, tổng kết các bình diện thời gian nghệ thuật
được thể hiện trong BVQNTT Đồng thời, thông qua phân tích các giá trị nội dung,
nghệ thuật biểu hiện cảm thức thời gian của nhà thơ, luận văn góp phần hiểu thêm vềtâm hồn, tư tưởng tình cảm và những đóng góp đặc sắc đậm tính triết lý trong sángtạo nghệ thuật của tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lĩnh vực văn chương
Văn bản khảo sát: Chúng tôi khảo sát văn bản thơ Nôm từ sách “Thơ vănNguyễn Bỉnh Khiêm”, Đinh Gia Khánh giới thiệu, Hồ Như Sơn biên soạn phần thơNôm (chọn 161 bài), Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, 340 trang Đinh Gia Khánh và BùiDuy Tân biên soạn phần thơ văn chữ Hán (chọn 93 bài thơ, 3 bài văn)
Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu của phạm vi đề tài đặt ra, chúng tôi chọnkhảo sát 161 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giới thiệu của tácgiả với những lời nhận xét chung khá thuyết phục về nội dung tư tưởng và nghệ thuậtthơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có thể xem đây là cuốn sách có những kiến giải hợp lý,
khoa học và tập hợp đầy đủ các bài thơ trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn
Bỉnh Khiêm
7
Trang 15Những trích dẫn về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong luận văn này đều đượctrích dẫn từ công trình trên Người viết thừa hưởng thành quả của những người đitrước và không sáng tạo gì thêm về phiên âm dịch nghĩa của văn bản.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này được sử dụng để tập
hợp và thống kê được số lượng những câu thơ, bài thơ có biểu hiện trực tiếp hoặcgián tiếp yếu tố thời gian và cảm nhận thời gian của tác giả
- Phương pháp thống kê miêu tả: Sau khi xác định được những câu thơ, bài
thơ có biểu hiện yếu tố thời gian, chúng tôi tiến hành mô tả sự biểu hiện ấy nhằm làm
rõ đặc trưng thời gian, biểu hiện các ý nghĩa thời gian của nhà thơ
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng trong việc so sánh
thơ chữ Nôm của các tác gia trung đại khác trước và sau Nguyễn Bỉnh Khiêm(Nguyễn Trãi; Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến ) Mục đích của việc so sánh là nhằmphát hiện sự sáng tạo độc đáo, phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn Bỉnh Khiêmtrong sáng tác văn chương trên hai chiều hướng thơ bác học chữ Hán và thơ bình dânchữ Nôm
Bên cạnh các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các thao tácphân tích, tổng hợp để giải quyết vấn đề Thao tác phân tích được sử dụng khi mô tảloại hình thơ nhằm làm rõ những biểu hiện đặc trưng nhất của các biểu hiện thời giantrong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trên đây là một số phương pháp, thao tác chủ yếu được sử dụng linh hoạttrong luận văn Việc nêu ra có tính tách bạch của các phương pháp được sử dụng trênchỉ phục vụ cho đối tượng nghiên cứu Bởi, phần lớn các phương pháp được sử dụngđan xen nhau khi trình bày, lý giải từng đối tượng cụ thể nhằm mục đích giải quyếtnhững yêu cầu luận văn đặt ra
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luậnvăn kết cấu theo 3 chương:
8
Trang 16Chương 1: Cơ sở hình thành cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chương 2: Các kiểu cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chương 3: Phương thức thể hiện cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
9
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN
TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1.1 Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại
1.1.1 Giới thuyết chung về cảm thức thời gian
Thời gian là một đại lượng tồn tại khách quan, được vận hành theo một quytrình bất biến: sáng đến trưa, ngày qua đêm, tháng đến năm, mùa, vụ Con ngườiquen tri giác thời gian như trật tự vốn có của nó; tri giác thời gian theo kiểu tuyếntính và in vào nhận thức, lời nói hàng ngày như: trước - sau, tiền - hậu, đầu - đuôi,thủy - chung Thời gian không phải là yếu tố duy nhất hé mở đời sống thế giới tâmhồn con người Bên cạnh thời gian bao giờ cũng tồn tại một không gian nhất định Sựtồn tại của con người hiển nhiên không thể được đặt ngoài vòng thời gian và khoảngkhông gian nhất định Thời gian hiện hữu đó luôn dung chứa thế giới con người vớicác hiện tượng tự nhiên, xã hội Không một ai có thể đứng ngoài bước đi của thờigian; không một ai không có đôi lần nhìn thời gian trôi theo cảm nhận cá nhân chậmhay nhanh, dài hay ngắn, từ đó bản thân cảm nhận dòng đời trôi qua ngắn ngủi hayđằng đẵng Đó chính là ý thức trước dòng chảy thời gian theo cảm xúc chủ quan và
nó trở thành một hiện tượng mang tính phổ quát trong hiện thực cũng như trong sángtác nghệ thuật Việc xem xét đánh giá những biểu hiện nhận thức trước các dòngchảy thời gian được chuyển hóa trong cảm xúc ý thức của chủ thể trữ tình qua sángtác nghệ thuật thực sự có ý nghĩa không kém phần quan trọng khi muốn phát họahoàn chỉnh chân dung của người nghệ sĩ
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt: “Thời gian là một phạm trù triết học,
cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có sự vậthiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới cótính xác định”[84; 52] Theo đó, danh từ “thời gian” được hiểu là một đại lượng tồntại khách quan quan trọng của mọi vật chất, mọi sự vật hiện tượng trong cuộc sống
Có thể khẳng định, mọi sự vật hiện tượng không thể tồn tại ngoài thời gian Sử dụng
Trang 18yếu tố thời gian để lý giải nhiều khía cạnh khác nhau của con người, cuộc đời đượcxem là một phương tiện cần thiết Không chỉ là đại lượng trôi đi theo chiều tuyếntính giản đơn để chỉ dòng chảy cuộc đời đi qua, thời gian với các “chiều kích” quákhứ, hiện tại, tương lai đều có thể trở thành những cảm nhận khác nhau ở từng tâmtrạng của mỗi cá nhân.
Cảm thức là cách con người nhận thức, đánh giá xem xét một vấn đề trongcuộc sống bằng con mắt chủ quan, bằng cảm nhận của chính mình chứ không phảicủa ai khác Với ý nghĩa đó, có thể hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong vănchương nghệ thuật nói chung, trong thơ nói riêng là thời gian khách quan mang tínhchủ quan Thời gian ấy khi đi vào tác phẩm nghệ thuật đã được đi qua “bộ lọc” cảmxúc và nhận thức chủ quan của cá nhân người nghệ sĩ Người ta có thể thấy, thời gian
đi nhanh như thoi đưa hoặc chậm trôi qua đến nỗi như nghìn thu “Ngày vui ngắnchẳng tày gang” hoặc “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” khi chủ thể trữ tình mangnặng tâm tư trước thời gian khách quan Dòng thời gian trôi chảy nhanh chậm phụthuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm lý của người cảm nhận Con người thông qua cáchcảm nhận về thời gian để trình bày quan niệm, sự hiểu biết, đánh giá của mình vềcuộc đời, về cái đã qua, đang đến và cái sắp đến
Thời gian trong sáng tác nghệ thuật được cảm nhận không chỉ bằng các đạilượng vật lý thông thường như giây, phút, ngày, tháng, năm mà còn bằng “đong đầy”chính cảm xúc mang rất rõ yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ Thời gian không còn
là một khái niệm trừu tượng mà có khi tồn tại dưới dạng cụ thể như hương vị, màusắc, vật thể hiện hữu trong nhiều chiều kích khác nhau Với những sáng tác củatruyện cổ dân gian, tác giả dân gian thường xây dựng câu chuyện theo dòng chảythời gian tuyến tính, sắp xếp kết cấu truyện theo một trật tự nhất định theo dòng chảyđời người: sinh ra, bắt đầu (quá khứ), diễn biến, hành trạng (hiện tại) rồi đến kết cục,kết quả (tương lai); Trong ca dao, thời gian phiếm chỉ được tác giả dân gian vận dụngtheo mô tuýp “ngày ngày”, “chiều chiều”, “đêm đêm”, “Chiều chiều ra đứng ngõsau; Chiều chiều lại nhớ chiều chiều” để diễn tả cảm xúc chung mang tính cộngđồng của chủ thể trữ tình
Trang 19Trong sáng tác nghệ thuật cá nhân, thời gian thể hiện diễn biến theo quy trìnhtâm lý con người Thời gian trong cảm thức của con người như một cơ thể sống vớicác trạng thái cảm xúc phong phú đa dạng, phức tạp được mở rộng các đường biênvới các chiều kích để đánh dấu thời khắc đặc biệt trong cuộc sống của cá nhân hoặcthời đại Thời gian luôn tồn tại khách quan, nhưng đối với mỗi cá nhân, thời gian lạimang màu sắc, dấu ấn riêng biệt chủ quan của từng cá thể Cũng là dòng thời giantrôi chảy, nhưng ở mỗi người nghệ sĩ cảm nhận bằng cảm quan với những nhận thức
và quan niệm riêng in dấu ấn cá nhân rất rõ Đứng trước vũ trụ bao la, người nghệ sĩmẫn cảm, suy nghiệm cảm nhận được sự vô hạn của không gian và sự hữu hạn củakiếp người; Có lúc người nghệ sĩ nhận ra sự trôi chảy vĩnh viễn của thời gian để kịphoài niệm về những chặng đường mình đã đi qua; Cũng có khi bằng sự trải nghiệmcủa bản thân trong dòng chảy thời gian vật lý, người nghệ sĩ cảm nhận thời giantrong ưu tư khắc khoải trước những biến cải thế nhân
Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là một hình tượng thẩm mỹ sinh độngchứ không khô cứng Nó không đơn giản chỉ là sự cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo củacác giác quan mà còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng chínhtâm trạng của tác giả Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có một ranh giớiphân biệt với thời gian vật lí tuyến tính, nhưng không dễ thấy Thời gian ấy có thể dàihay ngắn, trôi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào tâm tư tình cảm của nhà thơ, tùythuộc vào sự cảm nhận của chủ thể sáng tạo Thời gian nghệ thuật biểu hiện trong thơchịu sự chi phối từ cảm thức thẩm mỹ và thế giới thẩm mỹ của con người thời đại.Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng cóthể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ bằng hồi tưởng Các lớp thời gian có khi đanbện, xoắn xít với nhau, cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mối liên hệthời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm Vậy nên, hẳn nhiên, trong dòng chảythời gian, mỗi chủ thể có cách cảm thụ thế giới riêng mang dấu ấn cảm xúc cá nhân
Do được cảm nhận bằng tâm trạng nên thời gian trong thơ có cách thể hiện riêngkhông giống với thời gian vật lí bên ngoài Nó có sự giãn cách, giãn cách từ thời gianvật lí bên ngoài để được tự nhiên đi vào thơ Ngoài nghĩa thực vốn có, thời gian còn
Trang 20mang ý nghĩa biểu trưng Chính giá trị biểu trưng này làm cho thời gian trong thơmang được rất nhiều xúc cảm và nhận thức của người nghệ sĩ Khi người nghệ sĩnhắc đến lượng thời gian “kim cổ” cũng có nghĩa cảm xúc, ý thức của người nghệ sĩđang đứng ở hai chiều cảm thức về dòng chảy cuộc đời xưa và nay trong sự hoàiniệm quá khứ hoặc hiện hữu của thời gian ngừng trôi, bất biến trước thời gian lịch
sử, vĩnh hằng Thi nhân Nguyễn Trãi từng ưu tư trước sông nước mênh mông khi đốiứng với phận người hữu hạn: “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc/ Anh hùng hữu hận
diệp tiêu tiêu” (ƯTTT) Dòng chảy thời gian trong tác phẩm cũng biến đổi linh hoạt,
từ điểm nhìn hiện tại có thể ngược về quá khứ, thậm chí trở về thời Bàn Cổ khaithiên Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến “đời Nghiêu Thuấn” hay “thuở Tấn, Tùy”:
“No lòng ấm cật đời Nghiêu Thuấn/ Gối vác nằm sương thuở Tấn, Tùy” cũng cónghĩa nhà thơ muốn nhắc đến một xã hội lý tưởng, một thời đại đầy mơ ước vua sángtôi hiền hay những buổi binh đao loạn lạc
Chính nhờ sức mạnh biểu hiện đa dạng, phong phú của ngôn ngữ, các dạngthức thời gian đã giúp các thi phẩm lưu lại dấu ấn về cảm thức thời gian một cáchsâu sắc sinh động hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác Thời gian biểu hiện khôngchỉ là một mảnh vỡ về hình khối, màu sắc hay âm thanh mà với một dung lượngngôn từ ít ỏi, nó có thể tái hiện những biến cố lớn lao của một đời người hay một thờiđại cụ thể Đọc những câu thơ: “Thập niên phiêu chuyển thán bềnh bồng; Tam thập
niên tiền hồ hải thú; Thập niên thanh ngọc chức hồ băng” (ƯTTT) của Nguyễn Trãi,
chúng ta nhận ra sự tổng kết nỗi niềm của nhà thơ trong từng chặng đường “mườinăm” nổi trôi, ẩn nhẫn chờ thời; ba mươi năm phỉ chí hải hồ; mười năm “quan thanhngọc” trong tiếng lòng chua chát nơi chốn quan trường Như vậy, thời gian trong thơ
ca có những nhịp điệu, sắc độ riêng để nhà thơ bộc bạch những xúc cảm vui buồn,suy tư cá nhân gắn với dòng chảy thời cuộc
Bằng hình tượng nghệ thuật, thời gian đi vào thơ có thể “co dãn” theo cảmnhận chủ thể sáng tác Nhà thơ có thể cho thời gian trôi nhanh đi bằng cách dồn nénlàm cho khoảng một thời gian dài chỉ “trôi qua” qua một câu thơ ngắn mà hiện hữu
cả thời cuộc bể dâu Khi Nguyễn Bình Khiêm suy ngẫm: Được thời thân thích chen
Trang 21chân đến/ Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi (Bài 49 - BVQNTT), nghĩa của “thời” và
“thế” đã trở thành thời cuộc trong sự biến thiên của dòng chảy thời gian, nghĩa làtriết nhân đang suy nghiệm đến thói đời đen bạc ở con người trong dòng chảy nhânsinh nặng màu nhiễu nhương của thế cuộc
Thế giới tự nhiên không phải là sự tồn tại vật chất lạnh lùng khô cứng, không
có mối quan hệ với con người mà ngược lại nó tồn tại trong sự thấm đẫm tinh thần vàtình cảm của con người Những thời khắc của vạn vật ngày, đêm, tuần, tháng, bốnmùa, hay thời khắc cuộc đời con người đều có thể gửi gắm vào thơ để bày tỏ tìnhcảm thân thiết, hay đôi khi xa cách thì mượn thơ để ngụ ý tình ai oán Conngười cảm nhận thời gian bằng nhịp đi của bốn mùa, của cỏ hoa, cây lá, của tuầntrăng, con nước Chính những hình ảnh như vậy đi vào văn chương, được xem làtín hiệu thẩm mỹ chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa thế giới tự nhiên và con người.Mọi hoạt động của con người không thể tách rời với thiên nhiên Thiên nhiên là bạn,
là chứng nhân cho những khoảnh khắc “hỉ, nộ, ái, ố” của cuộc đời con người Tìm
hiểu về thời gian nghệ thuật trong văn học cũng là một cách để giải mã những bí ẩngiữa con người với tự nhiên trong sự hài hòa mật thiết
Thời gian nghệ thuật trong văn học nói chung, trong sáng tác thơ trung đại nóiriêng không đơn giản là việc xác định những khoảnh khắc, những thời điểm diễn tiến
sự việc mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể hiện quan niệm, nhận
thức và cảm xúc của tác giả trước dòng chảy thời gian Theo Từ điển thuật ngữ văn
học, định nghĩa: “Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong
thế giới (.) Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trongtừng thời kỳ lịch sử, trong từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độcđáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới” [36; 273] Trongthế giới nghệ thuật, thời gian, không gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu
có tính tiêu đề được dấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm Từ đó, cho thấy đặcđiểm tư duy của tác giả thể hiện trong tác phẩm khá rõ Phạm trù thời gian nghệ thuậtcung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũngnhư nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử Thế giới nghệ thuật
Trang 22cùng các chiều kích của dòng chảy thời gian biểu hiện trong sáng tác của người nghệ
sĩ được khám phá cũng có nghĩa là góp phần nhận diện tâm hồn, tư tưởng tình cảm
và phong cách người nghệ sĩ “ẩn tàng” trong tác phẩm ở từng thời đại khác nhau
1.1.2 Diễn tiến biểu hiện cảm thức thời gian trong sáng tác thơ trung đại
Thời gian có những ý nghĩa, chức năng nhất định trong việc thực hiện vai trònghệ thuật của mình Thời gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất vớithời gian vật lí Bản thân thời gian vật lí tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của nókhông phụ thuộc vào ý thức của con người Thời gian vật lí chỉ trở thành thời giannghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và qua đó thể hiện cách cảm, cách nghĩcủa nhà văn về thế giới, trình bày quan niệm nhân sinh, thể hiện thái độ sống trướccuộc đời Thời gian thể hiện trong thế giới nghệ thuật mang tính chủ quan ở cáchcảm nhận, miêu tả của tác giả Ở đây, tác giả toàn quyền sử dụng, tái hiện thời giantheo nhu cầu và mục đích của riêng mình mà không gặp cản trở nào Thời gian nghệthuật là một hiện tượng ước lệ trong thế giới nghệ thuật; một phạm trù trừu tượngtrong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết qua sự vận động, biến đổi của chuỗi cáchiện tượng, sự kiện diễn ra qua “bộ lọc” lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong văn học trung đại, Trần Đình Sử dẫn giải,thời gian trong văn học trung đại được nhìn nhận dưới hai khía cạnh cơ bản Thờigian luôn gắn liền với cảm hứng lịch sử Nhà nghiên cứu nhận định, thời gian thểhiện trong sáng tác thơ ca trung đại thường là những biểu hiện nghĩ suy về thời cuộc,
về dân tộc, những triết lý về lẽ thịnh suy của thời đại Tác giả chỉ ra, thời gian biểu
hiện dưới hai bình diện đối lập: thời gian vũ trụ trôi chảy vĩnh hằng và thời gian đời
người ngắn ngủi chóng vánh Thời trung đại, thì tương lai là phạm trù ít được quan
tâm Thời gian thường hóa vào không gian Thời gian hướng con người chú ý về quákhứ vì nó trôi nhanh, bốn mùa đến rồi đi vẫn là bốn mùa ấy Một mặt trăng trên trời
có thể chiếu muôn nơi và mọi thời điểm cả quá khứ, cả tương lai, thống nhất mọi sựtrong một thời gian bất biến, vũ trụ Ví như trong thơ Thiền, thời gian là một loại “vôthời gian”, bất biến thường trụ vì nó không sinh, không diệt Thời gian được hiểu nhưdòng chảy trôi xuôi, bất biến, không tự sinh và không tự mất
Trang 23Như đã biết, thơ ca trung đại buổi đầu là sáng tác của các nhà sư, về sau là cácnhà Nho Người xưa phụ thuộc vào thiên nhiên, bởi thiên nhiên là quy chuẩn của cáiđẹp, nên họ dễ dàng đồng nhất hóa thế giới thiên nhiên với thế giới con người Họgiải thích các hiện tượng mà họ thấy được bằng quy luật vận động của thế giới tựnhiên Ví như, sự xuất hiện của sao chổi được xem là tín hiệu về xã hội loạn lạc haynhật, nguyệt thực xuất hiện là dấu hiệu của vua chúa băng hà, Thơ ca trung đại có
xu hướng bất tử hóa thời gian lịch sử gắn với những chiến công hiển hách trong côngcuộc chống ngoại xâm vĩ đại Thời gian lịch sử trong thơ thời Trần phần lớn được thểhiện theo kiểu thời gian không gian hóa, tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấutích, đền đài lịch sử Trong thơ, các dấu tích lịch sử được cảm nhận cũng như tồn tạitrong hiện tại trong không gian Phạm Ngũ Lão từng nhắc đến chí nam nhi trước tiềnnhân Khổng Minh: “Công danh nam tử còn vương nợ/ Luống thẹn tai nghe chuyện
Vũ Hầu” (Thuật hoài) Đó là cách bày tỏ chí khí bằng việc đặt mình vào thời điểm
như là người cùng thời để bày tỏ Cùng với cách diễn đạt theo thời gian lịch sử, ĐặngDung từng nhắc đến “đồ điếu” tích Hàn Tín câu cá và Phàn Khoái làm thịt chó:
“Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Cảm hoài) Nói
chuyện về người xưa mà không hề thấy chuyện của xa xưa, chỉ thấy tâm trạng, nỗiniềm của người anh hùng lỡ vận đương cuộc Cũng với cách nhìn thời gian chiếu ứngvới lịch sử, nhà vua Trần Minh Tông đứng trước dòng sông Bạch Đằng hiển hiệntrong ánh chiều màu đỏ ối, thời khắc hiện tại đã ngưng đọng trong thời khắc lịch sửchiến trận với dòng sông đỏ màu máu của một thời chiến trận: “Nước dòng sông
chiếu bóng mặt trời đỏ ối/ Tưởng máu người chết trận chưa khô” (Bạch Đằng giang).
Lịch sử hiện ra trong cảm thức của đấng minh quân như một niềm tự hào về chiếncông hiển hách hay một bài học lịch sử đắc giá trường tồn trước dòng chảy cuộc đời.Trong niềm vui dạt dào cùng với niềm kiêu hãnh tự hào về non sông đất nước, vềlịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, vị tướng tài ba Trần Quang Khải hân hoan hàosảng trên đường Phò vua về Kinh:
Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy
Trang 24nghìn thu.
(Tụng giá hoàn kinh sư - Bản dịch của Trần Trọng Kim)
“Vạn cổ thử giang san”! Non nước ấy nghìn thu thực sự là cảm khái hân hoan
tự hào trước giang san thái bình của một vị tướng tài Vạn cổ - “Nghìn thu” là thờigian vĩnh hằng bất biến, nó được gắn liền với không gian hóa gắn với những chiến
công hiển hách, với tên tuổi những trận đánh oanh liệt Chương Dương, Hàm Tử của
lịch sử cha ông, biểu trưng cho tinh thần dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ, một giá trị vữngbền luôn được huy động bởi hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc
Thời gian không chỉ đọng lại ở những thời điểm vang danh chiến công oanhliệt, thời gian còn cảm nhận qua những ưu tư trước sự suy vi của thời cuộc Đó làthời gian hoài niệm, suy tư trước sự biến thiên của thời cuộc mang nỗi niềm tiếc nhớ
về một quá khứ vàng son, trăn trở đau đáu của những con người trí thức muốn đượccống hiến, muốn được trọn dâng cuộc đời cho xã tắc nhưng bất lực chỉ biết nhìn lịch
sử xoay vần biến đổi đành chịu bất lực trước sự suy thoái của lịch sử Mặc dù thơtrung đại chủ yếu đề cập đến những vấn đề lớn lao của thời đại, nhưng bản chất thơ
ca là sự bộc lộ thế giới nội tâm, nội cảm Đứng trước không gian, thời gian vô tận,đối diện với thế giới khách quan, con người trung đại nhận ra sự nhỏ bé, hữu hạntrong cái bao la trường cửu của thời gian vũ trụ Chu Văn An cảm hứng trước vẻ đẹpthanh nhã trong một thời khắc tĩnh tại ở núi Chí Linh đã nhận ra sự ngưng đọng củathời gian:
Núi xanh muôn lớp họa bình che Ác xề soi lên rạng nửa khe Bụi rậm đường sâu người vắng vẻ Trong mây chim khách gọi le
te Trong cảnh sắc thời gian người ngừng trôi.
(Cảm hứng núi Chí Linh)
Thời gian hiện hữu trong thơ ca ngoài mang nghĩa diễn tiến của dòng chảycòn là hình ảnh thể hiện cái hữu hạn của đời người trong cuộc sống Người nghệ sĩmượn hình ảnh thời gian trong nhiều chiều kích khác nhau để diễn tả tính chất tồn tạicủa cá nhân, cá thể của kiếp người Thi nhân không quên khẳng định sự tồn tại conngười trước thời cuộc, trước vòng xoáy của thế sự Bản chất của thơ ca là “khởi phát
Trang 25từ tình” Người nghệ sĩ vốn rất mẫn cảm với cuộc đời Đối diện với thế giới kháchquan, người xưa thường thấy mình thật nhỏ bé giữa không gian rộng lớn, bao la KhiNguyễn Trãi ngẫm suy: “Kim cổ vô cùng và anh hùng hữu hạn” là tiền nhân đã nhận
ra sự tồn tại hữu hạn của đời người trước vô hạn của vũ trụ để khẳng định tính chấttồn tại của cá nhân, cá thể con người trước vũ trụ
Kéo dài gần mười thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong tính quyphạm chặt chẽ Song, sáng tác nghệ thuật là tiếng lòng của người nghệ sĩ vốn mangyếu tính cá nhân nên trong những khuôn phép chuẩn phạm của nghệ thuật vẫn bật lênnhững sáng tạo cá nhân nhất định Thời trung đại, phần lớn các nhà Nho cũng lànhững người nghệ sĩ luôn biết cân bằng tĩnh tại đời sống tinh thần Lúc ở triều quanthì dấn thân nhập cuộc với cả tấc lòng, khi “sóng gió” thất thường lại tìm về “hạcrừng vượn núi” an nhiên với thái độ chấp nhận và bình thản Tức là người nghệ sĩnhà Nho đã tìm về thời gian sinh hoạt đời thường với những thú vui nhàn tản Ngườinghệ sĩ khi đã đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối của tâm hồn, quên hết nỗi ám ảnhcủa cái chóng vánh kiếp người, sống an nhiên tự tại với những thú vui thanh nhã.Nguyễn Trãi đến với: “đêm hớp nguyệt”, “ngày xem hoa”, “đêm xem bóng nguyệt”,
“ngày nhàn mở sách” “ngày xuân chấm câu” ; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm lạitìm về: “Khúc văn thơ đọc đời Nghiêu Thuấn/ Khúc thái bình nhờ chúa Vũ Thang”
(Bài 90 - BVQNTT), “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Bài 32 - BVQNTT) ; Nguyễn Khuyến sau những đau đáu với thời cuộc “Năm canh
máu chảy đêm hè vắng/ Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ” cũng tự tìm về “vườn
Bùi chốn cũ” với tam khúc thu ca: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm Đó chính là thời
gian sinh hoạt đời thường, gắn với bao thế sự diễn ra đi vào trong tâm trạng xúc cảmcủa mỗi nhà Nho nghệ sĩ khi muốn làm một dật dân, đặt mình ngoài thế cuộc
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng dù ở thời kỳ nào, trung đại hay hiện đạicũng đều tồn tại bản ngã, tồn tại con người cá nhân, cá thể Chỉ có điều, tùy vào quanđiểm, tư tưởng của từng thời đại lịch sử có những quy phạm nhất định Ở xã hội hiệnđại tự do, cởi mở hơn về những quy phạm sáng tác, người nghệ sĩ có một thế giớinghệ thuật thông thoáng để tự do sáng tạo, cái tôi trữ tình có thể “vùng vẫy”những
Trang 26cung bậc cảm xúc của mình Xã hội phong kiến thời trung đại có những đặc trưngquy định nghiêm ngặt, chuẩn mực, lề lối kinh điển trong sáng tác nghệ thuật khiếnngười nghệ sĩ dù muốn “bung tỏa” không phải là dễ Do đó, trên cái nền yêu cầuchung, họ phải tuân chuẩn theo những khuôn định bắt buộc Song, nghệ thuật lạiluôn gắn với yêu cầu sáng tạo Điều đáng quý là mặc dù chịu sự chi phối của các đặctính quy phạm, chuẩn mực, tâm hồn nghệ sĩ các thế kỷ thời trung đại vẫn có những
“phi chuẩn” phá cách; biết yêu, say, rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộcsống và con người; biết sống bằng những cảm xúc riêng tư từ trong thẳm sâu con timmình Ngoài những lúc hướng về “khuôn vàng thước ngọc”, người nghệ sĩ vẫn tự tìmcho mình một con đường sáng tạo, lưu lại dấu ấn để cái tôi cá nhân, cá thể lên tiếng.Tuân chuẩn theo hệ thống thi pháp trung đại, người nghệ sĩ thời trung đại vẫn khôngngừng sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã để khắc họa “cái tôi” trong dòngchảy thời gian qua những tìm tòi, thể nghiệm sáng tạo cá nhân Vì thế, sự phá cách,vượt chuẩn trong sáng tạo nghệ thuật cũng là lẽ đương nhiên trong sáng tác thơ cathời trung đại
Nếu lấy những quy tắc, điển phạm trong mỹ học phong kiến làm tâm thì cóthể xem có hai dòng văn học “hướng tâm” và “ly tâm” cùng tồn tại trong mười thế kỷtrung đại Việt Nam “Dòng văn học hướng tâm” hướng về con người cộng đồng, conngười quân quốc mang lí tưởng “trí quân trạch dân”, mang khát vọng xây dựngmột xã hội Nghiêu Thuấn và “Dòng văn học ly tâm” gắn với hình ảnh con người cánhân có dịp bứt phá, quẫy đạp bằng một cái tôi mạnh mẽ, phóng khoáng Lịch sử vănhọc Việt Nam đã chứng minh khi “Dòng văn học ly tâm” phát triển mạnh mẽ về sau(từ thế kỷ 16 trở về sau) thì tiếng nói nghệ thuật đích thực nở rộ với sự xuất hiệnnhững tác gia văn học lớn mang đậm ý thức cá nhân gắn cái tôi khá rõ Những kiệttác thơ ca để đời của những nhà Nho uyên bác như Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến phần lớn được sáng tạo trong những giây phút
ly tâm của tâm hồn họ Những trạng huống bức xúc, những cảnh ngộ dễ khơi gợiniềm trắc ẩn trong tâm hồn nghệ sĩ sẽ là lúc bột khởi những rung động nghệ thuậtđích thực, từ đó khởi động bao suy cảm cá nhân
Trang 27Văn học trung đại ở các thế kỷ về sau, cảm thức trước thời gian đã đượcngười nghệ sĩ chiêm nghiệm, suy tư Họ ý thức “phận người” trước thực tế; họ cảmsuy tuổi tác, sự sống và cái chết trước thời gian; họ nhận ra sự bất lực của con ngườitrước dòng chảy thế cuộc Từ đó, người nghệ sĩ hướng cảm xúc về ý thức cá nhân vớicuộc đời khá mạnh Những khái niệm: “tiếc xuân”, “thương thân”, “tiếc thân”, tiếctuổi trẻ chóng tàn trước dòng thời gian vô tình trôi chảy đã được đề cập nhiều trongnguồn thi hứng của các nhà Nho trung đại Thời gian mang xúc cảm cá nhân làm nảy
sinh các dạng đề thơ: Thương xuân, Tiếc xuân, Tiếc cảnh, Tự tình, Thuật hứng.; Các chủ đề để nhà thơ bộc bạch nuối tiếc như: sinh không gặp thời, nhân sinh như mộng,
trần như mộng, mơ giấc Hòe an, (“Đời mấy tuổi thanh niên”, “đầu bạc tuổi già”,
“Quốc thù chưa trả đầu đã bạc”, “Tiếc thiếu niên qua”, “Tiếc xuân”, “Nhìn xem phúquý tựa chiêm bao” ) Cảm hứng này thể hiện khá rõ trong thơ Trần Nguyên Đán,Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Càng về sau, thơ ca trung đại đã đánh dấu bước chuyển mình rực rỡ về ý thức
cá nhân trong sáng tác ở các thế kỷ sau, khi mà ý thức cá nhân trong văn học đượckhẳng định ở bình diện ý thức về sự tồn tại cá thể, cá nhân rất rõ trước không gian,thời gian Khi xã hội đã có nhiều biến đổi, giá trị vật chất đã được thừa nhận
và hơi “đồng tiền” đã bén mùi trong cuộc sống Nguyễn Bỉnh Khiêm từng nhận ra sựbiến cải thế nhân trước thời gian “biến cải”: “Thế gian biến cải vũng nên đồi” với cácsắc màu mùi vị của thế nhân nếm trải: “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” Theo đó,các giá trị đạo đức, ứng xử của con người cũng theo sự đổi thay của thời gian màbiến đổi để nâng lên thành một khái quát triết lý “thói đời” về lẽ “còn/ hết”, “khôn/dại”, “được/ thua”, về giá trị con người và của cải đầy chua chát: “Còn tiền còn bạccòn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”; “ Mới hay rằng của nặng hơn người”(Nguyễn Bỉnh Khiêm) Đến thế kỷ sau, trong dòng suy cảm thời gian là một chuỗitàn tạ, phôi pha, chóng vánh, đại thi hào Nguyễn Du cảm nhận được sự nhỏ nhoi củacon người trước thời gian: “Gió thu xế bóng lòng quá rộng/ Nước chảy mây bay
nghiệp bá mờ” (Trông vời nước Sở) Bao trùm trong kiếp nhân sinh “trăm năm trong
cõi người” là một cảm thức không gian buồn quạnh, thời gian tàn tạ, phôi pha Đối
Trang 28với Nguyễn Du các đơn vị đo thời gian như năm, tháng, ngày, trăm năm, nghìn thu.
không chỉ là biểu hiện dòng chảy thời gian tuyến tính mà còn mang ý nghĩa sâu sắc
là sự đổi thay nhanh chóng, thê lương bao trùm cả không gian tàn tạ trong tâm cảmnhà thơ
Cảm quan thời gian của thi nhân thể hiện trong sáng tác thi ca đã có nhiềuthay đổi, diễn tiến hướng sâu vào những suy cảm cá nhân nghiêng về thân phận kiếpngười giữa dòng đời thế cuộc Khác với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du thường đặt thờigian trong sự “hối đầu”, “ngoảnh lại” trong nỗi niềm tiếc nhớ, nhà Nho NguyễnCông Trứ thay đổi thái độ cảm nhận trước dòng chảy thời gian, ông coi trọng thờihiện tại và quan niệm tận hưởng những gì đang hiện hữu trong kiếp nhân sinh:
“Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày” Ông tìm cách làm chủ thời gian, hiểu sự huyễn
hoặc của đời người qua cảm nhận cái nợ trần ai - Nợ phong lưu: “Năng đắc kỉ thời khai khẩu tiếu/ Cư chư toàn phụ thử quang âm” (dịch nghĩa: Dễ được mấy lần mở
miệng cười/ Lần lữa là phụ với thời giờ) Nhà Nho đề cao giá trị của sự hưởng thụ
tức thời Thời gian trong cảm nhận của ông thường đóng khung ở thì hiện tại, ông hô
hào đừng “lần lữa” với thời gian: Chơi xuân kẻo hết xuân đi.
Từ thế kỷ XVIII trở đi ý thức về cái tôi cá nhân càng phát triển mạnh mẽ.Đặng Trần Côn để người chinh phụ khắc khoải nhìn thời gian trôi: “Nghĩ mệnh bạc,tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng”, để rồi khát vọng về ý thức sống hạnhphúc trên thế tục “kiếp này” được vươn lên mạnh mẽ, quyết liệt:
Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
(Chinh phụ ngâm)
Thương thân, tiếc thân, xót thân “Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”, lo sợtuổi xuân chóng tàn, Hồ Xuân Hương, sau nhiều lần “Tự tình” trong những đêm thâu
“Trơ cái hồng nhan với nước non”, nữ sĩ đa truân này không chỉ ưu tư trước thời gian
mà tìm cách “kéo” dòng chảy hiện tại đang trôi qua một cách bất lực vì lo sợ tuổi
xuân chóng tàn: “Tài tử văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom” (Tự tình
-Hồ Xuân Hương').
Trang 29Yếu tố cảm thụ cá nhân đã làm cho thời gian trong thơ đa dạng và biến đổi rõnét Đến thế kỷ XIX, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương đã định hình cảm thức thờigian gắn với cái tôi cá nhân rất rõ “Cái tôi” trữ tình mang nỗi buồn đau nhân thế,khắc khoải với đời của Nguyễn Khuyến đã thể hiện sâu sắc trong những vần thơmang nỗi niềm cô đơn trước thời gian đến nao lòng Một mình than thở, một mìnhngắm trăng, một mình uống rượu, ngắm hoa trong đêm vắng , Nguyễn Khuyến nhưtrút cả tâm trạng của mình vào thơ Có bi kịch nào hơn khi chính mình cũng khôngcòn nhận ra mình trước thời gian: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/ Ngàn năm
bay hạc, tớ là ai ?” (Muộn) Còn cô đơn nào hơn khi giữa dòng đời trôi chảy, “ta”
chẳng nhận ra ta - “tớ là ai”! Cười cợt vào thói đời, chửi mắng vào xã hội đánh mấtđạo lý, giễu cợt vào loại người “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê” , Ông Tú thành
Nam - Trần Tế Xương vẫn không giấu được tiếng lòng “day dứt” về thời cuộc: Có
đất nào như đất ấy không? Còn biết chất vấn, tự vấn., là con người còn biết lắng
nghe và quan tâm theo dõi cuộc đời Tú Xương vừa được cất lên tiếng cười chua chát
đã buông tiếng thở dài não nuột của nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc bỉ bôi Bêncạnh một con người tưởng như bất cần, ngông ngạo, ông Tú vẫn luôn sâu lắng nhữngcảm xúc trữ tình da diết trược hiện thực cuộc sống với mảng màu tăm tối Ăn chơiđủng đỉnh: “giày Tây anh vận, ô Tây anh cầm” vậy mà lắm lúc Ông Tú cũng trăn trởsuy tư về một hiện thực dòng chảy thời gian không lối thoát:
Đêm sao đêm mãi tối mò mò, Đêm đến bao giờ mới sáng cho.
(Đêm dài)
Nhà Nho cuối kỳ với ý thức cá nhân mạnh mẽ trước thời cuộc “đen tối” đãday dứt khôn nguôi về sự bất lực của mình, trăn trở về một hiện thời biết bao giờ tươisáng
Cùng với không gian hiện hữu, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là “hìnhthức nội tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” Các kiểu thờigian qua “bộ lọc” xúc cảm và tri nhận của người nghệ sĩ đã được định hình thànhnhững cảm thức riêng trên cái nền chung của nghệ thuật thời trung đại Những kiểucảm nhận thời gian nghệ thuật trên xuất hiện trong thơ ca trung đại Việt Nam, chủ
Trang 30yếu trong thơ của các nhà Nho Thông qua một loại hình nghệ thuật ước lệ in đậmnét cảm nhận chủ quan của nhà thơ trước dòng chảy thời gian, cảm thức thời giancủa người nghệ sĩ tồn tại trong thơ thể hiện khá rõ Các hình ảnh nghệ thuật ấy được
đo bằng những thước đo khác nhau bằng sự suy nghiệm trước vũ trụ, nhân sinh, bằng
sự lặp lại đều đặn của các hoạt động đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ,chia tay mùa này, mùa khác, sự biến cải bể dâu đã tạo nên đặc trưng riêng trongtừng sáng tác qua cảm nhận của người nghệ sĩ ở những thời đại khác nhau Cảmnhận về thời gian của mỗi thi nhân không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vàotừng chặng đường đời, từng thời đại lịch sử biến động và cảm quan thẩm mỹ khácnhau của mỗi cá nhân Trong diễn tiến mười thế kỷ văn học trung đại Việt Nam, cảmthức thời gian trong sáng tác thơ ca của các thi nhân đã có nhiều chuyển biến Càng
về sau, ý thức về con người cá nhân trong dòng chảy nhân sinh của người nghệ sĩcàng thể hiện rõ nét
1.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian nhà thơ trong BVQNTT
1.2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thời đại chi phối cảm quan thẩm mỹ nhà thơ
Lịch sử dân tộc Việt Nam không thể phủ nhận vai trò đóng góp trên nhiều lĩnhvực và những thành tựu văn chương to lớn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi lại cho hậuthế Riêng ở lĩnh vực văn chương, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tên tuổi lớn của nềnvăn chương trung đại Việt Nam thế kỷ XVI, đồng thời là một trong những tác giatiêu biểu của văn học viết dưới thời phong kiến Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đãghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, là mộttrong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học - thời đại Nguyễn Trãi trước đó
và thời đại Nguyễn Du sau này
Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nhỏ rất thông minh, hiểu cả chính văn, kinh truyện,
có tài văn chương Văn tài học hạnh của cha mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc tới NguyễnBỉnh Khiêm Ngay từ khi còn nhỏ, môi trường giáo dục của ông cũng rất thuận lợi,đầy đủ và tốt đẹp Tiếc thay, thời đại xã hội với nhiều biến động đã không tạo điềukiện để Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể dốc hết tài năng và thực hiện hoài bão của mình.Thời đại đi tìm “minh chủ”, “chân chúa” để phụng sự những vua sáng, tôi hiền đã
Trang 31thuộc về thế kỉ XV, đã trở thành vấn đề của lịch sử Tuổi niên thiếu của Nguyễn BỉnhKhiêm ứng với thời kỳ cuối nhà Lê suy yếu Thực tế là những cuộc đấu tranh giànhquyền vị diễn ra gay gắt, triền miên Trước bối cảnh xã hội loạn lạc, kinh tế đình đốn,chính trị đầy biến động, phe phái hỗn loạn , Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư dạy học
và tiếp tục học Đầu thế kỷ XVI xã hội đầy loạn lạc Mâu thuẫn gay gắt giữa vua quan - dân thời Lê sơ dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân; mâu thuẫn trong nội
-bộ vua - quan dẫn đến chiến tranh phe phái giết hại lẫn nhau Các dân tộc thiểu số ởđầu nguồn Thái Nguyên, Tuyên Quang nổi dậy chống Triều Lê ở đầu thế kỷ XVI.Suốt thời gian này, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chỉ học, quan sát, chiêm nghiệm cuộcđời Mãi cho đến sau khi xảy ra cuộc “thay bậc đổi ngôi” năm 1527, Mạc Đăng Dungphế truất Lê Xuân, xưng vua, lập nên vương triều Mạc và sau ba năm nhường ngôicho con là Mạc Đăng Doanh, những năm về sau được xem là lúc thịnh vượng nhấtcủa triều Mạc dưới sự điều hành của ông vua Mạc Đăng Doanh và Thái thượnghoàng Mạc Đăng Dung, chính vào thời điểm này, Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết địnhnhập thế Ông ghi tên dự kỳ thi Hương năm Giáp Ngọ 1534, khi ở tuổi 44
Đi qua gần suốt thế kỷ XVI, thọ 95 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm gần như thamgia và chứng kiến mọi biến cố thời đại trong xã hội Việt Nam thế kỷ XVI Làm Thầydạy học, đậu Trạng nguyên thi thố với đời, làm quan chưa được tám năm, chán ngáncảnh quan trường dâng sớ xin chém 18 lộng thần không được, ông xin về trí sĩ tạiquê nhà, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ Có thể nói, cuộc đời ông đã trải qua nhiều sựbiến lịch sử, nhiều vị thế cao thấp khác nhau Chính những trải nghiệm trong từnggiai đoạn thăng trầm thế cuộc ấy đã giúp nhà Nho đúc rút được nhiều điều suynghiệm khái quát mang tính triết lý về nhân sinh thế sự với mọi sắc thái đen bạc của
“Thói đời”
Triều Mạc thay triều Lê mang đến nhiều thay đổi hàng loạt về tư tưởng, vănhóa, kinh tế xã hội Triều Mạc lên, một tầng lớp bình dân - dân chài mới leo lên ngôiquân chủ mới, vua quan mới và chưa đề xuất được hệ tư tưởng gì mới mẻ Chưa biếtlấy gì thay được Nho giáo tuy là nhà Mạc đã thấy được mô hình quân chủ Nho giáo
là bế tắc Nhà mạc đành dùng Nho nhưng không quá khắt khe với các hệ thống phi
Trang 32Nho như thời Lê sơ Tình hình tư tưởng trong triều ngoài nội đở “nghẹt thở” hơn thờiđộc tôn Nho giáo Lê sơ.
Về kinh tế, văn hóa thời Mạc có nhiều cách nhìn “phóng khoáng” hơn Khôngquá cứng nhắc theo Nho, nhà Mạc cũng không cứng nhắc “trọng nông ức thương”
Thương nghiệp nhà Mạc phát triển theo hướng mua bán, trao đổi, chợ búa, vùng
miền Tiền được đúc nhiều, chợ mở rộng sang các thị trấn vùng miền giáp ranh.
Thời đầu nhà Mạc, thủ công nghiệp được kích thích phát triển, nhất là nghề gốm sứ
Lò gốm sứ được khuyến khích mở nhiều trong nước và phục vụ cho xuất khẩu Vìthế, tầng lớp công thương cũng trở nên đông đảo và giàu có hơn trước Trần QuốcVượng khi nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóaViệt Nam thế kỷ XVI đã nhận định: “Nhiều đồ gốm thời Mạc có ghi niên hiệu sảnxuất, tên người đặt hàng, tên người sản xuất, nơi sản xuất phản ánh chừng nào sự tôn
trọng quyền con người, quyền cá nhân mang tính nhân văn tiền tư bản ( ) Rõ ràng,
đầu thời Mạc có an ninh và phát triển” [61; 81] Như vậy, với nhà Mạc, đã bắt đầu cónhững tiền đề vật chất và tinh thần cho một sự cải biến có thể là cơ bản cho xã hộiViệt Nam Vai trò của đồng tiền đã có tác dụng mạnh trong xã hội, làm đảo lộn nhiềugiá trị đạo đức văn hóa theo Nho giáo Với nhiều trải nghiệm trong chính cuộc thếđầy biến đổi đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết thực tiễn vô cùngrộng lớn, sâu sắc và rất uyên thâm Không chỉ có vốn kiến thức đồ sộ, uyên bác từkết quả của tháng năm sách vở nơi “Cửa Khổng sân Trình”, ông còn là người tàinăng nhiệt huyết biết lắng nghe, quan sát và chính kiến sâu sắc trên đường thực thi lítưởng Dù không có cái may mắn được đem hết tham gia sự nghiệp giải phóng dântộc và xây dựng đất nước, song ở ông luôn toát lên sự uyên bác thâm nghiêm của bậcđại sư bao người kính cẩn Ông là “vàng mười” trong cảnh đời đen bạc của xã hộiphong kiến thế kỷ XVI Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bức tranh hiện thực xã hộithời đồng tiền bắt đầu phát huy vai trò tác dụng lớn lên ngôi khá rõ ràng với mọi sắcthái cảm xúc của một triết nhân từng chiêm nghiệm Ông khẳng định chân giá trị của
thời đại: “Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười/ Có của thì hơn hết mọi lời” (Thơ Nôm,
Bài 74); và chua chát nhận ra: “Người của lấy cân ta thử nhắc/ Mới hay rằng của
Trang 33nặng hơn người”! Mọi sự đảo lộn trong thế cuộc, các giá trị luân thường đạo lý đãkhông còn được tôn trọng trước sức mạnh của đồng tiền: “Còn tiền còn bạc còn đệ
tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi” (Thơ Nôm, Bài 71) Ông không ngần ngại để kết luận: “Đồng xú nhật lưu tinh” (Hơi đồng ngày càng tanh) (Cảm hứng, tam bách cú).
Việc “xuất - xử”, ẩn cư hay ứng thí giúp đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn chủ động bảo
toàn danh tiết và chí khí Nhận thấy thời cuộc xã hội Hơi đồng ngày càng tanh, ông
trở lại quê nhà có điều kiện để sống cuộc đời thanh bạch giản dị Tuyết Giang phu tửtrước sau vẫn là bậc thầy cao khiết Việc ông khuyên bảo tập đoàn phong kiến nhưnhà Mạc hay Lê mục đích là tìm cách hòa hoãn những xung đột, tạm thời giảm bớtnhững đau khổ cho người dân Ông từng mơ nhiều về một xã hội “Dân NghiêuThuấn, vua Nghiêu Thuấn”, nhắc nhiều đến “Ngày Nghiêu Tháng Thuấn” là có lý do.Sách vở Thánh hiền cùng với tháng ngày sống gần gũi với nhân dân lao động đã in
đậm trong ông Nguyễn Bỉnh Khiêm từng viết: “Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ” (Cao
khiết ai là kẻ sĩ trong thiên hạ), câu thơ như lời tự hỏi, tự trả lời và tự khẳng định.
Những cuộc tranh giành ngôi vị, những cảnh loạn lạc đao binh, những ứng xử phânchia sang lièii của mọi “thói đời” trong xã hội gần như đã lộ diện Nhà NhoNguyễn Bỉnh Khiêm nhiều lần cất tiếng hỏi: “Đời nào phải Đường Ngu vũ trụ”,
“Non sông nào thuở bình thời” Những câu hỏi đặt ra là một sự chiêm nghiệm thờibiến “đời nào”, “nào thuở” như một sự day dứt khôn nguôi về thế cuộc Nguyễn BỉnhKhiêm sống và hoạt động trong thời đại có nhiều biến động của lịch sử Việt Nam.Chính trong bối cảnh lịch sử - xã hội này đã tác động mạnh đến cảm quan sáng tácnghệ thuật của ông Cả cuộc đời, lớn lên, sống và làm việc dưới các triều đại, chứngkiến xã hội trải qua mọi biến thiên, đổi thay, nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi lạiquãng đường đời đã qua bằng những vần thơ đầy suy nghiệm mang tư duy lý tính
1.2.2 Sự ảnh hưởng cảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước
Thế kỉ XVI ghi nhận bước phát triển của thơ Nôm Đường luật với Bạch Vân
quốc ngữ thi tập (BVQNTT) của Nguyễn Bỉnh Khiêm So sánh với hai tác phẩm thơ
Nôm Đường luật thế kỉ XV (QÂTT của Nguyễn Trãi và Hồng Đức QÂTT), quy mô số lượng của BVQNTT không bằng Nhưng không vì thế mà dung lượng phản ánh của
Trang 34tác phẩm BVQNTT bị hạn chế Đến BVQNTT, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đường luật được nâng lên một tầm cao mới Đề tài, chủ đề dân tộc trong BVQNTT
không đậm nét như trong thơ Nôm thế kỉ XV Nổi bật trong thơ Nôm của NguyễnBỉnh Khiêm là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội Tư duy thế sự, tính chấttriết lí trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông gần “triết”
và xa “thơ” hơn so với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Mặt khác, chất thế sự trong thơ đã đưa BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận cuộc sống vừa cụ thể, sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn Ở BVQNTT, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã
phát họa hiện thực cuộc sống đa dạng với các nghịch cảnh chua chát của thế sự nhânsinh trong dòng biến cải của cuộc thế nhân tình
Dùng thơ Nôm Đường luật để trào phúng, manh nha có từ Nguyễn Trãi Đến
Hồng Đức quốc âm thi tập, hiện tượng này rõ nét hơn Tới Nguyễn Bỉnh Khiêm,
chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳng định Bên cạnh hìnhảnh một nhà Nho đạo đức mực thước, một triết gia lớn của thời đại, một bậc thầy đầy
uy vọng, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mang bóng dáng thư thái thanh nhàn của một dậtdân thích thảng nhìn thứ cuộc ưu du Điều này in đậm trong sáng tác nghệ thuật củaông khá rõ Thể hiện trong những vần thơ chữ Hán là cảm hứng chứa chan những
“Cảm tác” sâu lắng của nhà Nho “ưu thời mẫn thế” trước thời đại đầy biến động, ở
BVQNTT lại ăm ắp những nghịch cảnh chua chát của “Thói đời” đen bạc giữa chốn
nhân sinh hỗn loạn Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong những vần thơ Nôm, NguyễnTrãi cũng đã nhiều lần nhắc đến “thế tục”, “cõi trần” trong cảm hứng của nhà Nhocanh cánh tấc lòng son về ơn vua nợ nước: “Một tấc lòng son còn nhớ chúa/ Đêm
ngày cuồn cuộn nước triều đông”(QÂTT) Trong thơ tiếng Việt Nguyễn Trãi, “thế tục” được nhắc đến sẽ là cảnh quê, núi quê, người quê với tất cả những hình ảnh
gần gũi, thân thuộc, bình dị Sự xuất hiện hình ảnh bức tranh Việt Nam nơi thôn dãtrong thơ Quốc âm góp phần làm nên nét độc đáo cho thơ ca cổ điển Trong bứctranh thôn dã đậm màu dân tộc ấy, ta bắt gặp hình ảnh thiên nhiên đặc sắc của nôngthôn Việt Nam Nói như Lã Nhâm Thìn: “Có thể tìm thấy một cuốn bách khoa toànthư về cây cỏ, muông thú, sản vật của thiên nhiên Việt Nam hết sức dân tộc và dân
Trang 35dã Những vật nhỏ mọn và bình thường như bè rau muống, luống mùng, lảnh mồngtơi, cây núc nác, con niềng niễng, củ ấu, củ khoai, hạt kê, hạt đậu, con đòng đong ”[62; 64] Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, thế tục được biểu hiện trong thơ Nôm rõ hơn qua
sự hiện diện màu sắc, hơi hướng “thinh thỉnh” của đồng tiền và đời sống vật chất đãlàm biến đổi mọi giá trị đạo đức con người
Những hình ảnh lảnh mùng tơi, bè rau muống, vị núc nác vốn rất xa cách
với đời sống quý tộc, nhưng lại vô cùng gần gũi, thân thiết với nếp sống bình dân đãnghiễm nhiên đi vào địa hạt sang trọng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Khi ông đã
“lánh mình” khỏi chốn “hồng trần”, thực thụ “tiêu sái lòng ngoài thế”, về với CônSơn, thì dường như những “người bạn” bình dị nơi hương đồng cỏ nội mới thực sự
về bên thi nhân, bầu bạn cùng thi nhân trong mọi cảnh ngộ Những hình ảnh bình dânbình dị đi vào thơ Nôm đầy cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Trãi đã mở đường chonhững cảm hứng sáng tác tạm rời xa “đời sống quý tộc” với những “long-ly- quy-phượng” hay “tùng cúc, trúc mai” để đi vào địa hạt làng quê với tháng ngày dân dãcho Nguyễn Bỉnh Khiêm khá rõ Trong gần 170 bài thơ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã dựng lại bức tranh thôn dã Việt Nam thế kỷ XVI có sự ảnh hưởng dòng cảm hứngthế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước
Mỗi nhà thơ, trước tiên là con người của một đất nước, một vùng quê cụ thể
Do vậy, dấu ấn về phong cảnh quê hương, về văn hoá, về phong tục tập quán, vềnhân tình thế thái đều được phản ánh trong tác phẩm của họ Với Nguyễn Trãi, điềunày càng thể hiện rõ trong thơ ông Vẻ đẹp đầy ắp sức sống của thiên nhiên đất nước
từ cuộc sống cứ tràn vào thơ ông, mang đủ sắc thái sống động, có sinh khí, thể hiện
một vẻ đẹp tự nhiên, ấn tượng: Thuyền ươm lúc nhúc thuyền đậu bãi/ Hàu chất so le
khóm cuối làng (Ngôn chí - bài 8) Sức tưởng tượng của Nguyễn Trãi thật kỳ diệu,
phóng khoáng Thi nhân thường có cách nhìn thú vị, biến cái bất động thành cái
động: Thuyền đậu ngoài bãi nhiều như những con tằm lúc nhúc, những xóm làng trong hình khối so le như vỏ hàu xếp chen nhau Cách nói thật giản dị, nôm na như
cách nói, cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Việt Nam quen với đồng ruộng,với sông nước, với dâu tằm Đó là cảm thức nông nghiệp cổ truyền của dân tộc đã
Trang 36thấm sâu trong huyết mạch Nguyễn Trãi, để rồi cứ thế hiển hiện trên những trangthơ Cùng với thiên nhiên, những nét bình dị của đời sống con người cũng có mặttrong thơ Nôm Nguyễn Trãi Đó là những “con lều mọn mọn”, là “hài cỏ đẹp”, là “áobô”, là “bữa ăn dưa muối”, là “một ao niềng niễng”, là “cái quýt choè”, là “ta”, là
“ông này” đủng đỉnh Sự xuất hiện của những hình ảnh như vậy đã làm cho hệthống thi liệu về con người và cuộc sống thế tục trong thơ Nguyễn Trãi thêm phầnphong phú, đa dạng Một mặt, nó làm rõ quan niệm, cảm hứng của nhà thơ đã mangsắc màu lý tính nghiêng về cuộc sống thế tục; Mặt khác, nó mang đến lãnh địa vănchương vốn được xem là cao nhã những sáng tạo có tính bứt phá hướng về cuộc sốngdân dã đời thường để hình thành một vẻ đẹp riêng cho thơ Nguyễn Trãi
Ở đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã vượt qua mọi rào cản không phân biệt đẳng cấpquý tộc hay bình dân, để hướng về những thứ hoa đồng cỏ nội, hẳn phải xuất phát từmột tâm hồn đẹp, tư tưởng tiến bộ để dần hình thành nên một quan niệm thẩm mỹđầy mới mẻ, mang màu sắc dân chủ, bình đẳng
Nguyễn Trãi đã đặt một cái mốc đáng ghi nhận, để các nhà thơ sau ông tiếpnối Sau Nguyễn Trãi, rất nhiều nhà thơ trung đại sáng tác bằng thơ Nôm Đường luật
đã “bổ sung” vào thơ mình nhiều chất liệu thơ gần gũi, bình dị lấy từ đời sống dân dãhằng ngày và dần dần đưa đến quan niệm mang màu sắc dân chủ về cái đẹp SauNguyễn Trãi, phải đợi đến nửa thế kỷ mới lại thấy thơ Tiếng Việt xuất hiện một cách
nở rộ với hội Tao Đàn có 28 hội viên, đích thân Lê Thánh Tông làm Tao Đàn nguyên
suý (1495) Hồng Đức quốc âm thi tập với 328 bài thơ tiếng Việt của nhiều tác giả là
cả một vườn hoa đánh dấu một bước quan trọng sự trưởng thành của văn học vàngôn ngữ dân tộc Trong đó, có nhiều bài thơ, câu thơ lấy từ chất liệu đời thườngtrong cuộc sống dân dã, bình dị: nhiều câu thơ có nhũng từ ngữ, hình ảnh rất dung dị:
Gọi vịt từ nghe ở ngọn tre, Mới hay tiết đã báo sang hè.
Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi, Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè
(Lại vịnh Nắng mùa hè)
Trang 37Sang thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp nối con đường mà Nguyễn Trãi đãtiên phong mở lối Nếu Nguyễn Trãi hướng ngòi bút về nơi dân dã, đến với cuộcsống thôn dân bằng cảm xúc yêu mến, trân trọng thì Nguyễn Bỉnh Khiêm miêu tảthôn quê bằng cái nhìn chiêm nghiệm tư duy lý tính về nhân sinh thế sự Sự hiện diệncủa nhà Nho Trạng Trình trong cuộc sống “bến”, “đèo” đã thực sự cho thấy có sự gắn
bó với cuộc sống thường nhật dân dã với một nhà Nho Những hình ảnh dân dã ấyđược đi vào thơ với sự cảm thông, gần gũi:
Cá tôm tối chác bên kia bến, Củi đuốc ngày mua mé nọ đèo.
(Thơ Nôm - Bài 35)
Tiếp nối cảm hứng nghiêng về thế sự từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm lạibộc lộ cảm hứng thế sự theo chiều hướng được nâng cao Không khó để nhận thấy, ở
đó có sự gặp gỡ giữa những vần thơ đậm màu sắc triết lí với một tư duy lý tính tỉnh
táo, sắc sảo Tính chất triết lí trong BVQNTT mang đặc trưng nổi bật, quán xuyến thể hiện trên nhiều bình diện nội dung: Triết lí hành đạo, triết lí thế sự, triết lí nhàn
dật Tư tưởng nhàn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là một quan niệm triết lí nhân
sinh vừa có gốc gác ở Nho-Phật-Lão, vừa nảy sinh từ sự chiêm nghiệm đời sốngchính trị, xã hội lúc đương thời Phong vị riêng của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là
ở tính chất triết lí đó Mỗi bài thơ của ông thường gắn với những ý tứ về lẽ biến dịch,
lẽ tương sinh, tương khắc, một quan niệm nhân sinh.Từ sự hiểu biết về triết lí, kếthợp với những suy tư và sự thể nghiệm triết đó trong đời sống xã hội, ông đã tìm ramột đáp số: trong dòng chảy cuộc đời, người biết sống là người biết tuân theo lẽ tựnhiên, vui với đạo đời, biết số mệnh, an nhiên tự tại, lấy “nhàn” làm quan niệm nhânsinh thì yên ổn, thanh thản, có lạc thú, lánh xa thế tục nhiễu nhương, thói đời đenbạc
Trong nhiều bài thơ Quốc âm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện con ngườigiàu lí trí, lịch lãm, biết thích nghi một cách hợp lí nhất để sống an nhiên, vững vàngtrong thời loạn Nguyễn Bỉnh Khiêm dường như biết giới hạn, biết kìm giữ đến mứctrung tính mọi sự phơi bày tâm trạng, biểu lộ cảm xúc để quan sát thật khách quan,
Trang 38đầy đủ mọi thế thái nhân tình để nghiệm ra những điều tưởng như chân lí Chínhhình thức biểu đạt ấy cùng với giọng thơ điềm tĩnh ung dung góp phần đem lại màusắc riêng biệt cho cảm hứng thế sự đậm chất tư duy lý tính trong thơ Nguyễn BỉnhKhiêm Trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện nhiều các quan hệ ứng xửnghiêng về thế cuộc của “thế thái nhân tình” mà trong thơ Nôm Nguyễn Trãi thực sựchỉ mới điểm qua trong các dạng thức đối lập “ta” với “lòng người” “miệng thế”.Tiếp nối các biểu hiện này, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhấn mạnh điều “tự tại”, tức là mình
tự đối diện với mình, làm chủ được mình Nguyễn Bỉnh Khiêm rất có nhã hứng khinhắc đến “tự tại” Tự tại là một thuật ngữ Phật giáo có liên quan đến triết lí tự do cánhân Am hiểu triết lí nhà Phật, thấm thía đạo lý Khổng Nho và Lão Trang, NguyễnBỉnh Khiêm biết tùy ngộ an nhiên tìm thấy lẽ sống phù hợp với mình Ông hướngmình đến triết lí sống ấy, biến nó thành một thứ đạo sống cho riêng mình: “Am quán
ngày nhàn, rỗi mọi việc/ Dầu ai tự tại, mặc dầu ta”(Bài 16) Với tư duy lý tính trong
sáng tác thơ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm không bộc bạch trực tiếp những xúc độngmãnh liệt hay những phẫn uất cá nhân Ông cũng không dễ dãi bày tỏ những yêu ghétcháy bỏng, những tiếc nhớ day dứt như trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Ở NguyễnBỉnh Khiêm luôn thoát lộ một phong thái chủ động, từ tốn, chừng mực, ung dungngẫm ngợi và đưa đến những suy tư giàu màu sắc triết lí Phong thái ấy chỉ có ở mộttriết nhân thông hiểu mọi biến dịch của thời thế, sâu sắc trong việc xuyên vượt cái bềngoài của sự vật, của lòng người để nhận diện, chiếm lĩnh chân lí ẩn chứa bên trongtừng sự vật hiện tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm đủng đỉnh, ung dung, Trạng Trình cứ ưu
du thích thảng Triết lí sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lánh đời, trốnđời, mà là một cách sống lạc quan, khỏe khoắn, chủ động trước mọi biến cải cuộc đờitrong phong thái ung dung tự tại đậm chất minh triết Chính quan niệm sống đạt đến
ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm khó có thể lẫn với bất kì một tácgia trung đại khác
Nguyễn Bỉnh khiêm làm thơ vào thời điểm thơ Việt Nam Hán - Nôm đã cómột hành trình năm thế kỷ Các thể loại có gốc gác từ Trung Hoa đã được tiếp thụ vàvận dụng thành thạo; thơ Nôm đã phát triển đỉnh cao Nguyễn Trãi, thể thơ “trường
Trang 39đoản” tuy chưa thành một thể loại ổn định nhưng xem ra cũng đã hình thành đượcmột số quy tắc khả dĩ tạo được sự khu biệt với thể luận của Trung Quốc NguyễnBỉnh Khiêm sáng tác thơ trong điều kiện thực tiễn văn học như vậy được xem làthuận lợi Nhưng văn học cũng như mọi sự vật trong đời sống, khi đã đạt đến độ viênmãn thì bản thân nó lại nảy yêu cầu cải tiến, đổi thay có bước phát triển mới ThơNôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có phong cách giống với thơ Nôm Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm chủ yếu trong thời kỳ ẩn dật tại quê nhà là làng Trung Am, cũng nhưNguyễn Trãi làm thơ Nôm chủ yếu trong thời kì về trí sĩ ở Côn Sơn Có thể, chưa hẳnNguyễn Bỉnh Khiêm đã tự giác đi tìm những thay đổi cho nghệ thuật thơ, nhưng thơNôm của ông quả thực đã có những ảnh hưởng từ nguồn cảm hứng thế tục, chất liệuthơ Nôm của thế kỷ trước Điều này đã tạo nên nhiều nét độc đáo riêng, in đậm dấu
ấn của một phong cách cá nhân trong thơ thế sự mang tư duy lý tính của một triết
nhân Trạng Trình trong suốt thế kỷ đầy tao loạn Theo tài liệu nghiên cứu về Bạch
Vân quốc ngữ thi tập - giá trị hình thức và nội dung, tác giả Nguyễn Quân nhận định:
“ Trước Trạng Trình có Tế Văn hầu Nguyễn Trãi, một cây bút đại thụ trứ danh trongvăn học sử Việt, đồng thời cũng là một đệ nhất của bậc khai quốc công thần ở đời LêThái Tổ Bình sinh, Nguyễn Trãi cũng có lúc ở ẩn cầu nhàn và có những bài thơ, câuthơ Nôm mở lối cho Nguyễn Bỉnh Khiêm (.) Cho nên, bảo thơ Nguyễn Bỉnh Khiêmchịu ảnh hưởng rất sâu đậm của thơ Nguyễn Trãi thật không phải là ngoa” [61; 514].Như vậy, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu những ảnh hưởng nhất định từ thơ Nôm
ở thế kỷ trước, đặc biệt là ảnh hưởng “rất sâu đậm” từ thơ Nôm Nguyễn Trãi trên cáchình thức lẫn chủ đề, cảm hứng
1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm với tập thơ Nôm
1.3.1 Vài nét về hình thức thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Bạch Vân quốc ngữ thi tập là tập thơ chữ Nôm dược Nguyễn Bỉnh Khiêm
sáng tác chủ yếu trong thời gian ở ẩn tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay thuộ c
Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng) Bạch Vân quốc ngữ thi tập còn được gọi Trình
quốc công Bạch Vân thi tập gồm hơn 161 bài làm theo thể thơ Đường luật và thất
ngôn xen lẫn lục ngôn, không có đề mục cụ thể, chỉ ghi số thứ tự Tất cả đều không
Trang 40có tiêu đề, nhưng xét chung, các bài thơ xoay quanh một số chủ đề lớn như chủ đềtriết lí giáo huấn, chủ đề thế sự ngoài ra còn có một số đề tài nhất định: sự suy tàncủa đạo đức phong kiến, cuộc đời nhàn dật, phong cảnh thiên nhiên, ý nghĩ về bổnphận với vua tôi với sơn hà xã tắc,
Cảm hứng lớn nhất trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh khiêm
đó luôn là cảm hứng thế sự, nếu chỉ xét ở thơ Nôm Đường luật thì từ Quốc Âm thi
tập của Nguyễn Trãi, cảm hứng thế sự và tư duy lý tính trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh
Khiêm được bộc lộ trong thơ ngày càng sâu sắc hơn, những vấn đề thế sự được phảnánh đã gần sát hơn với cuộc sống vốn mang nhiều ẩn ức của nhà nho Bằng con mắttinh đời để quan sát mọi sự vật hiện tượng và dùng tư duy lý tính để nghiệm suynhận xét, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho thấy được bao nét riêng biệt trong thực tế xãhội thời ông sống để từ đó khái quát thành những nhận xét sâu sắc mang tính triết líđộc đáo Thơ thế sự đến Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự chuyển biến từ “thế tục” quatình cảm, cảm xúc cá nhân, tư duy lý tính để trở thành những vấn đề thế sự mang tínhkhái quát, tính quy luật của muôn đời Nói cách khác, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ trữtình thế tục, mang cảm hứng thế sự với tư duy lý tính và đặt trong quy luật chuyểnhóa giữa các mặt đối lập để luận bàn về thế cuộc đương thời Trần Đình Hượu nghiên
cứu Triết lí và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc
chắn có hứng thú với Dịch lý Ông hay nhắc đến sự biến đổi, chuyển hóa của hai mặt
đối lập: Vũng nọ - doi kia; Khôn ngoan - dại dột; bĩ cực - thái lai; đông hết - xuân
sang ” [61; 123] Cách thể hiện các nội dung, chủ đề trong thơ Nôm được Nguyễn
Bỉnh Khiêm lựa chọn hình thức biểu đạt đặt trong kết cấu đối lập và hình thức câuthơ thất ngôn xen lục ngôn được kế thừa từ hình thức câu thơ thất ngôn chen lụcngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Trong tập thơ chữ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm vận dụng thuần thục các thể thơĐường luật song vẫn thực hiện những bước phá cách, mở rộng biên độ sáng tạo vềmặt hình thức bằng lối thơ Đường luật xen lục ngôn So sánh trong tổng số 161 bàithơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy số lượng bài thất ngôn pha lục ngônchiếm một tỉ lệ khá lớn: 97/161 (trên 60%) Sự phá cách hình thức câu thơ thất ngôn