Nghiên cứu cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là nghiên cứu sự tương quan giữa cái “tôi” của người nghệ sĩ với dòng chảy thời gian, giữa con người cá nhân trước các chặng
Trang 1TRƯƠNG THỊ BÍCH LỆ
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Bình Định - Năm 2020
Trang 2TRƯƠNG THỊ BÍCH LỆ
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ NGỌC HOA
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nguyên cứu nêu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác của các tác giả đã được công bố ở Việt Nam
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung đề tài
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu 14
5 Cấu trúc luận văn 15
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 16
1.1 Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại 16
1.1.1 Giới thuyết chung về cảm thức thời gian 16
1.1.2 Diễn tiến biểu hiện cảm thức thời gian trong sáng tác thơ trung đại 21
1.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian nhà thơ trong BVQNTT 30
1.2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thời đại chi phối cảm quan thẩm mỹ nhà thơ 30 1.2.2 Sự ảnh hưởng cảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước 33
1.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm với tập thơ Nôm 39
1.3.1 Vài nét về hình thức thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 39
1.3.2 Bạch Vân quốc ngữ thi tập 42
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2 CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 48
2.1 Các kiểu thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 48
2.1.1 Thời gian vũ trụ tuần hoàn 48
2.1.2 Thời gian xã hội - “thế thái nhân tình” 55
Trang 52.2.1 Thích thảng ưu du trong buổi nhàn cư 65
2.2.2 Nghiệm suy từ thế thái nhân tình 73
2.2.3 Triết luận trước nhân sinh biến cải 77
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 84
3.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm 84
3.1.1 Nghệ thuật dùng điển và thi liệu Hán học trong thơ Nôm 84
3.1.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giản dị chất phác 90
3.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu đối lập trong thơ 97
3.2.1 Nghệ thuật tổ chức hình ảnh đối lập 97
3.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang nghĩa đối lập 102
3.2.3 Nghệ thuật xây dựng câu thơ theo kết cấu đối lập 104
Tiểu kết Chương 3 109
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 6- Bạch Vân quốc ngữ thi tập : BVQNTT
- Ức Trai thi tập : ƯTTT
- Quốc âm thi tập : QÂTT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) nổi bật trong lịch sử nước nhà trên tư cách
là một nhà văn hóa lớn, một trí thức dân tộc nổi tiếng ở thế kỷ XVI Tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gần suốt cả thế kỷ XVI – thế kỷ với nhiều biến động chính trị lớn lao, trong lịch sử đất nước Ông là một chính khách có uy tín,
là bậc hiền triết, nhà tiên tri, người thầy, người mà các vua chúa đương thời luôn kính trọng tôn là bậc phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm còn được tôn vinh là người thông minh, biết rộng hiểu sâu - ông Trạng Trình tinh thông lý học Ông là bậc thầy có uy vọng rất lớn, học trò ông nhiều người sau này rất nổi tiếng (Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung…) Song, nổi bật, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhắc đến nhiều là một nhà thơ với những thi tập đặc sắc được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Xét ở sự nghiệp văn chương, ông có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học dân tộc Tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện qua cuộc đời và thơ văn của ông không đơn giản Nhiều người cho rằng, tư tưởng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là “nhàn”, vô sự với chủ trương “minh triết bảo thân”; Có người lại nhận ra ẩn tình nặng lòng ưu ái đậm chất triết lý của thi nhân trên những trang thơ… Muốn hiểu tư tưởng, tình cảm của Tuyết Giang phu tử trước mọi thời biến, hẳn phải nhìn vào hoàn cảnh lịch sử thời đại ông đang sống với tất cả mối liên hệ chung riêng được gửi gắm trong sự nghiệp văn chương đặc sắc của tiền nhân
Hơn năm thế kỷ qua, nhiều hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều phương diện chưa hề vơi cạn Người nghệ sĩ mẫn cảm, triết nhân giữa cuộc đời, nhà Nho chính thống ấy đã gửi lại hậu thế bao điều
vinh quang cũng như những góc khuất chứa đầy cảm xúc qua Bạch Vân quốc ngữ thi
tập Thi tập viết bằng chữ Nôm được Trạng Trình ghi lại các trạng huống cảm xúc,
những ưu tư, suy nghiệm về thế sự nhân tâm trên mỗi chặng đường đời với những mốc thời gian, không gian sinh hoạt của mình Như những viên ngọc sáng ngời theo
Trang 8năm tháng, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn thấm đượm tâm hồn, tình cảm và cả
những suy tư triết lý có giá trị vĩnh cửu với mọi thời đại
1.2 Trong sáng tác nghệ thuật, yếu tố không gian, thời gian là phương tiện thiết yếu để thi nhân xây dựng thế giới nghệ thuật của mình Tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ khó có thể bỏ qua bình diện thời gian với các cung bậc cảm xúc, nhận thức về thời cuộc được thể hiện khá rõ hoặc được “ẩn tàng” trong từng tác phẩm Là thành tố quan trọng trong hệ thống thi pháp của sáng tác nghệ thuật nói chung, văn học trung đại Việt Nam nói riêng, thành tố không - thời gian hiện hữu trong tác phẩm như một lẽ đương nhiên Yếu tố thời gian mang tính quan niệm, nhận thức và là sự chiếu ứng toàn bộ tiềm lực tinh thần của con người trong tác phẩm Đó là mô hình thế giới độc lập mang tính chủ quan và ý nghĩa tượng trưng của tác giả thể hiện Đó còn là mô hình hóa các mối liên hệ về thời gian cuộc đời, không gian xã hội, đạo đức, về trật tự thế giới đặt trong sự lựa chọn chủ ý của người nghệ sĩ Trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không ngoại lệ Là một tác gia văn học trung đại, cuộc đời lại gắn với nhiều “mốc” thời điểm lịch sử đầy biến động, thi nhân, triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm không quên ghi dấu từng chặng đường đời đi qua bằng những trang thơ nhuốm đầy suy ngẫm
Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI) đã ghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học – thời đại Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) trước đó và thời đại Nguyễn Du (thế kỷ XVII) sau này Nghiên cứu về người nghệ sĩ, về triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều phương diện đã được đặt ra từ trước đến nay không
hề ít Song, tìm hiểu cảm xúc, nhận thức của người nghệ sĩ mẫn cảm, lắng sâu thế
sự, thấm đẫm triết lý nhân sinh thể hiện trong thơ quốc ngữ để hiểu sâu sắc hơn từng trạng huống cảm xúc của nhà thơ qua từng thời điểm khác nhau trong cuộc đời
là vấn đề còn nhiều thú vị để khám phá, tìm hiểu Nghiên cứu cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là nghiên cứu sự tương quan giữa cái “tôi” của người nghệ sĩ với dòng chảy thời gian, giữa con người cá nhân trước các chặng đường lịch sử thời đại đặt ra trong suốt cuộc đời của nhà thơ Tìm hiểu cảm thức
Trang 9thời gian trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, một mặt nhận diện vai trò ý nghĩa các
kiểu thời gian biểu hiện trong thơ ca trung đại nói chung, thi phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng; Mặt khác qua đó, góp phần khẳng định quan niệm, tư tưởng và tâm hồn tình cảm của nhà thơ trong từng thời đoạn lịch sử cụ thể Tiếp cận và lý giải các bình diện thời gian gắn với những cảm thức của nhà thơ được biểu hiện trong thi tập cũng là cách góp thêm cái nhìn đa chiều về tư tưởng, tình cảm người nghệ sĩ, nhà Nho và triết nhân Trạng Trình Điều này cũng có nghĩa góp phần gợi ra cách hiểu và thẩm bình thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đồng thời mở rộng liên hệ mối quan hệ với thơ ca trung đại nói chung, nghiên cứu và giảng dạy thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng Tìm hiểu các dạng cảm thức thời gian được biểu hiện trong thi tập sẽ là những căn cứ góp phần hoàn chỉnh chân dung triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đề tài: Cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm của chúng tôi
được thực hiện, xuất phát từ những lý do trên
2 Lịch sử vấn đề
Trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có giá trị lớn trên nhiều phương diện Trong nhiều thế kỷ - nhất là từ đầu thế kỷ XX trở đi, thơ văn của ông đã trở thành mối quan tâm của nhiều người, các công trình nghiên cứu thơ văn Nguyễn Bình Khiêm cũng ngày càng nhiều hơn Các công trình đó đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến thân thế, sự nghiệp, giá trị văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm Riêng vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu cảm thức thời gian biểu hiện trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm thường được các tác giả nhắc đến hoặc gợi ra như một sự bổ sung liên quan đến các vấn đề nghiên cứu khác Trong phạm vi tư liệu hiện có, chúng tôi lược thuật như sau
Bàn chuyên sâu về vấn đề cảm thức thời gian trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chưa có một công trình chuyên biệt nào dành riêng để khảo sát, nghiên cứu Song, điểm qua các thành tố thời gian và không gian nghệ thuật, nơi lưu giữ tồn chứa những giá trị tinh thần của tác phẩm vốn được coi là một biểu hiện quan trọng trong thi pháp thường được các nhà nghiên cứu quan tâm, lưu ý
Trang 10Nhắc đến ý nghĩa của các giá trị thời gian được biểu hiện trong thơ ca trung
đại, trong công trình Văn học trung đại Việt Nam, tác giả Lê Trí Viễn (Chủ biên)
cũng đã đề cập đến cách hiểu thời gian thời trung đại Tác giả lí giải những điểm khác biệt trong nhận thức và cảm xúc của con người trung đại so với con người hiện đại Tác giả phát hiện những biểu hiện của thời gian trong văn học trung đại với
những kiến giải: “Thời gian tuyến tính trôi chảy không ngừng, một qua không trở
lại (…) và là “thời gian chu kỳ đi rồi quay trở lại chứ không đi mất” [77; 19] Thời
gian trong văn chương trung đại còn là “thời gian không trống rỗng trừu tượng mà
chất chứa một nội dung cụ thể (…) Thời gian nhuốm màu thiêng liêng và đạo đức”
[77; 19] Tác giả nhấn mạnh thời gian chu kì có tác động mạnh mẽ và sâu sắc hơn đến
cảm quan của con người, đó là: “Ý thức về thời gian chu kì sâu hơn và có sức xóa mờ
thời gian tuyến tính” [77; 20] Tuy không được tách ra thành một chương riêng biệt,
song, cơ bản tác giả Lê Trí Viễn đã giúp người đọc nhận thức và lí giải được những biểu hiện cơ bản về các “kiểu” thời gian trong văn học trung đại Từ vấn đề được tác giả đặt ra và lý giải, chúng tôi xem là những gợi dẫn cần thiết để đi vào nghiên cứu cảm thức thời gian của một tác gia cụ thể - tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nghiên cứu sâu về các yếu tố thi pháp văn học trung đại, trong công trình Thi
pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử đã dành sự quan tâm về các kiểu
thời gian trong thơ trung đại nói chung với các nội dung: “Mô hình chung của thời
gian; Thời gian vũ trụ bất biến; Thời gian con người” [49; 193] Cụ thể, về thời gian trong thơ trung đại, tác giả đã xác định các khái niệm: Thời gian vũ trụ bất biến
trong thơ từ thế kỉ X- XVII: Vô thời gian trong thơ Thiền - loại thời gian “Bất biến,
thường trụ, bởi vì không sinh không diệt”[49; 197]; Cũng theo tác giả, thời gian lịch
sử trong thơ tương quan với thời gian vũ trụ - kiểu thời gian được không gian hóa với “tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấu tích” [49; 204]; Và cuối cùng là thời gian con người với nỗi buồn thương u uất cá nhân… Dẫn chứng cho dòng chảy thời gian bất biến, tĩnh tại trong thơ nhà Nho, tác giả dẫn giải: “Trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian vũ trụ là một niềm mơ ước (…) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thể hiện một quan niệm vũ trụ tự nhiên, nhưng ông thiên về tính biến
Trang 11dịch vĩnh hằng” [49; 201] Việc xác lập các mô hình thời gian, các kiểu thời gian trong thơ thời trung đại phần nào giúp người đọc có thêm nhận thức về lý thuyết chung thời gian nghệ thuật trong thơ trung đại Việt Nam
Nghiên cứu về diễn tiến thơ trữ tình của một thời đại cụ thể, Phạm Hùng với
bài viết Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần (TCVH, Số 4/1983) (in lại trong Công trình Trên hành trình văn học trung đại), đã chỉ ra diễn biến các dòng chảy
thời gian theo các xúc cảm của thi nhân đời Trần Tác giả nhận định: “Thời gian là những cảm xúc thơ về một quá khứ vô cùng vinh quang và đầy chiến thắng, cảm xúc trữ tình của các thi sĩ cũng gặp nhau trong sự hồi tưởng chiến công của cha ông trên dòng sông Bạch Đằng” [16] (…) Đến thời vãn Trần, “Thời gian được phản ánh
co giãn theo tâm trạng con người, niềm vui lại qua nhanh mà nỗi buồn sao đằng đẵng” Thi nhân thời Trần có những cách cảm nhận dòng chảy thời gian khác nhau, thơ Trần Nguyên Đán thời gian “buồn bã, nặng nề vô vị như cuộc đời trôi”, người nghệ sĩ có lúc “giật mình cảm thấy thời gian trôi đi nhanh quá, cả thời gian tuổi tác cuộc đời rồi cũng trôi đi không trở lại”… Trong thơ Nguyễn Tử Thành, thời gian trôi trong dòng cảm xúc tiếc nuối bâng khuâng: “nghe tiếng thời gian đang tan theo những giọt mưa đêm xuân trong một sự nuối tiếc đến tuyệt vọng” [16; 166 - 171]… Như vậy, trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, cảm thức thời gian ở mỗi nhà thơ thời Trần đã
có những cảm quan, cảm xúc khác nhau phụ thuộc vào quan niệm, tư tưởng và đặc biệt là cảm hứng từ chính cuộc đời của mỗi cá nhân người nghệ sĩ
Đi vào nghiên cứu một tác gia, tác phẩm cụ thể, công trình nghiên cứu, Luận
án Thi pháp thơ Nôm Nguyễn Trãi (2002) của tác giả Hoàng Thị Thu Thủy đề cập
đến vấn đề thời gian trong thơ Nguyễn Trãi chiếm vị trí là một luận điểm Góp phần phát họa chân dung Nguyễn Trãi, tác giả Hoàng Thị Thu Thủy đã khảo sát các yếu
tố nghệ thuật trong đó có thời gian Tác giả định danh thành những kiểu thời gian:
Thời gian quá khứ với đặc điểm: “Đời người có những quãng thời gian có ý nghĩa
đặc biệt gắn với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc , cho nên hoài niệm quá
khứ cũng là nét chung của con người” [69; 66]; Thời gian mang tâm sự đời thường
với khuynh hướng cá nhân: “Đó là kiểu thời gian đầy dư vị buồn tiếc, xót xa, thiếu
Trang 12ấm áp và vắng vẻ”;… Nghiên cứu từ góc độ thi pháp thơ Nôm, tác giả chứng minh
cho sự tồn tại của yếu tố thời gian xuất hiện trong thơ tiếng Việt buổi đầu với nhận
xét: “Thời gian nghệ thuật trong Quốc âm thi tập vừa mang đặc trưng chung của
thời gian nghệ thuật thời trung đại, vừa mang dấu ấn riêng của phong cách thơ Nguyễn Trãi, phong cách của một thi nhân "lo đời" "đau đời", "ẩn ức" trước thế sự [69] Nhận xét của tác giả được xem là những gợi dẫn cần thiết để chúng tôi nghiên cứu về khía cạnh cảm thức thời gian trong sáng tác của một tác gia trung đại Việt Nam sau Nguyễn Trãi một thế kỷ, cụ thể là Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nghiên cứu ở khía cạnh khác của Bạch Vân quốc ngữ thi tập với các hình
thức diễn đạt về những ngày tháng ẩn dật của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Văn
Tấn với bài viết Bạch Vân quốc ngữ thi tập các hình thức diễn đạt về sự ẩn dật
(TCKH Đại Học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Số 7 (73) năm 2015), đã nhấn mạnh: “Trong thời gian hưu trí ở quê nhà Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn gián tiếp dự bàn tham gia trực tiếp vào chính sự” (…) “Trong thời gian ở ẩn tại Trung Am, thi nhân luôn thể hiện mình là một ẩn sĩ thanh cao, hòa mình vào thiên nhiên lấy thiên nhiên làm môi trường sống đích thực của mình” [57; 63] Như vậy, trong quãng thời gian nào, lúc tham chính hay ẩn cư, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn “luôn thể hiện mình là một
ẩn sĩ thanh cao” Rõ ràng, ở nhiều thời điểm khác nhau trong cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm có những cảm nhận về dòng chảy thời gian khác nhau với những suy nghiệm đậm tính triết lý trước biến cải nhân sinh
Nghiên cứu Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm trên phương diện tiếp nối thành
tựu thơ Tiếng Việt dân tộc, trong bài viết Luận về Nguyễn Bỉnh Khiêm (qua thơ
Nôm), tác giả Hà Như Chi cho rằng: “Nguyễn Bỉnh Khiêm khôn ngoan và từng trải
Một người sinh ra trong buổi hỗn loạn, đã có ý ở ẩn trước khi ra làm quan, đến hơn
40 tuổi mới chen chân vào hoạn lộ, tất cũng đã suy nghĩ nhiều về việc thế người đời, đắn đo về lẽ tới lui và chú trọng về đường cư xử với người” (…) Đối với cụ, sau khi đã suy nghiệm nhàn là chủ đích của cuộc đời, sống nhàn mới đáng sống, cụ tìm đến nhàn như một nhà hiền triết tìm đến chân lý Cái nhàn của cụ không phải là cái nhàn bất đắc chí mà là cái nhàn làm cho người ta toại chí đến cực điểm” [60;
Trang 13470] Như vậy, khác với Nguyễn Trãi trước đó một thế kỷ, từng có những quãng thời gian nhập thế và xuất thế mang đầy bi kịch “xuất dùng dằng xử day dứt”, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhập thế hay xuất thế đều rất “minh bạch”, rất “sòng phẳng”
Cùng cái nhìn về thái độ xuất xử “minh bạch” và “sòng phẳng” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm trước thế cuộc thể hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi, Phạm Thế Ngũ nhấn mạnh: “Trong đạo thống Nho gia, cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm như vậy thật
minh bạch, sòng phẳng Gặp thời gặp chúa, thì ra trị nước, yên dân Khi hoàn cảnh không cho phép thì lui về ẩn thân hành thiện Ngồi ở triều đường dám nói thẳng không sợ lụy thân Về hương đảng khuyến khích điều lành, nêu gương đạo đức Làm quan thì ngựa xe hầu đón, về làm dân thì áo vải cơm rau Mà ra hay về, lên hay xuống đều thảng thích vô tâm” [60; 499] Như vậy, trong cả thi tập, nhà Nho Nguyễn Bình Khiêm đã gửi vào những dòng thơ các cung bậc cảm xúc theo dòng đời đầy “biến cải” của thế cuộc
Nghiên cứu Bạch Vân quốc ngữ thi từ góc độ cảm hứng của nhà thơ, với bài viết Cảm hứng thế sự trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Thanh Lê nhận
định thi tập: “Tập thơ là “bức tranh tự thuật” về cuộc sống nhà nho thanh bần; Đồng thời kết hợp giữa cảm nhận về cuộc sống bản thân và cuộc sống của tầng lớp
“đương thời”, với cách nhìn sâu sắc của con mắt triết gia, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng
đã vẽ lại “bức tranh tự sự về thế thái nhân tình” rất chân thực [60;572]
Nghiên cứu ở khía cạnh bóng dáng con người nhàn dật trong thơ Nôm
Đường luật, trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Ngọc Hòa với bài viết Con người
nhàn dật, tự tại trong thơ Nôm Đường luật (Tạp Chí Khoa Học, Đại học Huế, tập
72A, số 3, năm 2012), đã dẫn ra các chặng đường đời nhiều biến động mà chính bản thân đã thơ đã trải qua với nhiều trạng huống cảm xúc Tác giả nhận định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhập thế khi chế độ phong kiến bước dần vào con đường suy tàn (…)
Ra làm quan với triều đình nhà Mạc, không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm không thấy những khó khăn trước mắt, nhưng ông vẫn tin vào sự phục hưng của chế độ, vào tài
“phù nghiêng đỡ lệch” của mình, để rồi cuối cùng phải ngậm ngùi “Giúp nước thương dân chưa thỏa lòng ta hồi trước Băn khoăn rất thẹn già không có tài”
Trang 14[12; 131-136] Tài “phù nghiêng đỡ lệch” của Trạng Trình thì đã rõ, thẹn vì mình
“không có tài” như đã thán chỉ là cách nói “ưu tư” trước thế cuộc Đó là cách nói, cách ngẫm về nhân tình thế thái với đủ mùi vị “mặn, nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi”
(Thói đời) của thời đại mà ông đang hiện diện
Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn
(chủ biên) Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (Tập 1) nhận định: “Trong 95
năm của cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ thực sự làm quan có 8 năm (…) Khi dùi mài kinh sử, lúc ở ẩn, khi ra làm quan, lúc mở trường dạy học, ông tiếp xúc nhiều với những con người, những cảnh đời khác nhau Thật ít người có được một cuộc đời từng trải như Nguyễn Bỉnh Khiêm” [63; 169] Chính cuộc đời từng trải ấy
đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết vô cùng rộng lớn và sâu sắc Vốn kiến thức uyên bác có được từ sách vở kết hợp với vốn sống phong phú từng trải việc đời, việc người được đúc kết tạo nên những vần thơ mang sắc màu thời gian đậm chất thế sự mang triết lý uyên thâm
Cũng như các nhà nho trung đại khác, việc ẩn cư để “minh triết bảo thân”, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những tháng ngày “nhàn”, “tiên”, “Thân nhàn, phúc lại được về nhàn”, “Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng”, “Vô sự thì hơn nữa ngọc vàng”… Ngay trong lời tựa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc bạch: “Tôi mỗi lúc rỗi, cơn hứng đến thường ngâm vịnh hoặc ca ngợi thắng cảnh của núi sông; hoặc vui về dáng xinh của hoa trúc; hoặc tức cảnh mà ngụ ý; hoặc mượn việc mà tự thuật đều ghi lấy chí của mình” [61; 400] Dù có nói thẳng quan niệm “về nhàn”, nhà thơ vẫn
khó vô ưu trước thế cuộc Bạch Vân am thi tập là tập thơ mang nặng ưu tư về những
nỗi niềm của tác giả qua các chặng đường đời Dù Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận ra thế cuộc đảo điên biến thiên khó đỡ, ông tìm về “non xanh, nguyệt bạc” làm một dật dân “bảo toàn minh triết”, nhưng thẳm sâu trong lòng nhà Nho trí thức vẫn không nguôi nỗi niềm canh cánh với đời Nhận xét về điều này, Vũ Khâm Lân cho rằng:
“Tuy ở nhà bốn mươi tư năm mà lòng không ngày nào quên đời, ưu thời mến tục đều lộ trong thơ” Con người nhàn dật, tự tại trong Tuyết Giang phu tử vì thế vẫn chưa thoát khỏi học thuyết Nho giáo, vẫn chưa ra ngoài quan niệm “hành-tàng”,
Trang 15“xuất-xử”, “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư” để hòa mình vào thế giới của Lão Trang” [61; 131-136]
Lê Trọng Khánh – Lê Anh Trà trong một nghiên cứu về tính triết lý trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra tính “sâu sắc mà vẫn cụ thể và xác thực” Trong
bài viết Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ triết lý, tác giả trân trọng khi phát hiện quan
niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Tính chất nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm thực chất không phải yếm thế, xu thời, ích kỷ và hoàn toàn hưởng lạc,… tư tưởng nhàn tản của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những khía cạnh tích cực, phù hợp với
tư tưởng hành đạo của Nho giáo Cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một lối phản ứng của tầng lớp nho sĩ bất lực trước thời cuộc lúc bấy giờ, phản ứng bằng hình thức tiêu cực, nhưng vẫn bao hàm một nội dung đấu tranh bằng phương pháp theo
lẽ tự nhiên” [22; 247] Rõ ràng, với Nguyễn Bỉnh Khiêm thời gian nhàn rỗi không chỉ đắm mình hưởng lạc trước thiên nhiên, mà trong những thời khắc ấy nhà Nho vẫn có những khía cạnh tích cực, trăn trở và suy tư trước biến thiên thế cuộc
Nghiên cứu trên nhiều phương diện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể kể đến công trình: Nguyễn Bỉnh Khiêm - Về tác gia và
tác phẩm (Trần Thị Băng Thanh-Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu) Công trình
bao quát một nguồn tài liệu nghiên cứu về Trạng Trình họ Nguyễn khá đầy đặn Bao gồm rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều lĩnh vực khác nhau, các nhà nghiên cứu hướng về tư tưởng, nhân cách, về sáng tạo nghệ thuật, về triết nhân đặc sắc của thế kỷ XVI, về thơ ca quan phương lẫn bình dân bình dị của nhà Nho chính thống chuẩn mực Trạng Trình… Trong lời giới thiệu
về Sức sống của thơ ca và tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả đã nhận định:
“Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có bản lĩnh, một trí giả Tìm đến với sự nhàn dật chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với “cái vụng”, “cái thuyết” mà theo quan niệm của Nho gia, đã được điều chỉnh bởi quan niệm của đạo Lão, mới là bản chất
tự nhiên của sự vật Chính quan niệm nhàn dật đạt tới ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm - Bạch Vân cư sĩ tự do, tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn, rất hiếm thấy trong làng thơ nhàn thời trung đại”[61; 48] Cái
Trang 16chất “tự tại, giản phác, hồn nhiên, lạc quan, khỏe khoắn” ấy đã làm nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm rất riêng, rất phong thái triết nhân điềm tĩnh ung dung đi qua thời gian đầy thăng trầm của non một thế kỷ lịch sử biến động
Phân tích thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm để đi tìm tâm sự của nhà thơ là khía cạnh được nhiều nhà nghiên cứu khai thác Qua phân tích một số bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn với “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi”, Bùi Duy Tân nhận ra thời điểm khắc khoải của chủ thể trữ tình xuyên suốt chủ thể ấy là một Nguyễn Bỉnh Khiêm chán ghét thói đời gian xảo, đường hoạn lộ đầy hệ lụy và nhà thơ tìm về cuộc sống nông thôn thuần phát, thích thảng an nhàn và cuộc sống đạm bạc nơi thôn quê đầy lạc thú Tác giả chỉ ra thời gian nhàn rỗi của người nghệ sĩ mẫn cảm Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ông đọc sách, ngâm thơ, uống rượu, tưới cúc, vun thông, hâm chè, trở lửa… trong cảnh nước biếc non xanh, trăng trong gió mát, dưới bóng râm cổ thụ hay trời thu khí mát, bên bờ tre quê hay bên luống hoa đẹp, nhà thơ đều thấy tâm tình thoải mái” [61; 342] Hiện hữu trong thơ, rõ ràng không hẳn chỉ là những sinh hoạt tiêu dao thưởng ngoạn của một ẩn cư, mà đó còn là tâm sự, là nỗi niềm, là các trạng huống xen lẫn những ưu tư thế sự trước những khoảnh khắc thời gian thư thái mà nhà thơ đặt mình thảnh thơi tận hưởng
Nghiên cứu trên một số bình diện về ngôn ngữ, hình ảnh, đề tài… của Bạch
Vân quốc ngữ thi tập, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét đặc sắc, nét riêng về nghệ
thuật của tập thơ Nôm Trong bài viết Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả
Trần Thị Băng Thanh nhận xét: “Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc bạch, tỏ bày chí hướng, khát vọng ấy của mình trong thơ Nôm Song, nếu như Nguyễn Trãi đi từ nhiều đề tài vịnh cây cỏ, tự thán, thuật hứng, trần tình, mạn thuật…để rốt lại nói lên hoài bão chí hướng của mình thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại theo một quá trình ngược lại Ông chỉ làm thơ ngôn chí, nhưng từ đó mà bao gồm tất cả, thể hiện tất cả, có tấm lòng yêu đời, yêu người, giận thương, răn dạy, khuyên nhủ…(…) Dường như Nguyễn Trãi cô đơn hơn, còn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều bè
bạn hơn Từ Quốc âm thi tập đến Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thơ Nôm đã hình
thành một số nét đặc sắc về nghệ thuật bút pháp tả thực” [61; 565]
Trang 17Giới thiệu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới hình thức chữ viết, Đinh Gia Khánh đã có nhận xét về cách biểu hiện thời gian trong thi tập của nhà thơ: “Nhưng mỗi khi muốn vui chơi giải trí, hoặc buông thả tâm hồn theo những xúc động hoặc nhận thức riêng tư, tức là không có dụng ý lấy văn để “chở đạo” là chủ yếu, thì tác giả lại hay viết bằng thơ chữ Nôm” [21; 87] Như vậy, chọn hình thức diễn đạt bằng chữ Nôm diễn tả các cảm xúc tâm trạng theo thời gian mang tính thế sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm không hẳn dụng ý dùng văn chương để “chở đạo”, tự thân sự kết hợp tài hoa nhuần nhị giữa hai phạm trù uyên bác và bình dân, triết lý và trữ tình, thơ nói chí, thơ đạo lý của ông trở thành một lối thơ triết học mang đậm màu sắc thế sự nhân sinh
Nghiên cứu về nghệ thuật Bạch Vân quốc ngữ thi, Lã Nhâm Thìn đã chỉ ra
sự kết hợp nhuần nhị giữa các cặp phạm trù đối lập “triết lý và trữ tình, uyên bác và bình dị” Tác giả nhấn mạnh: “Thơ Trạng Trình tác động mạnh tới lý trí, tới nhận thức người đọc bằng phương pháp đối lập Thơ triết lý nhưng không khô khan; Nhà thơ diễn đạt những vấn đề của tư tưởng, của luận lý lô gic bằng những hình tượng nghệ thuật cụ thể, sinh động” [63; 179] Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông lý học, mẫn cảm với đời, sống gần gũi với đời sống dân thường, chan hòa với thiên nhiên vạn vật, suy tư thế cuộc đã gửi cảm xúc của của mình vào thi tập chữ Nôm một cách hài hòa phù hợp với từng trạng huống cảm xúc Đọc thơ ông, chúng ta bắt gặp những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà thơ về thời cuộc mang tính suy luận triết học, những nguyên lý tư tưởng, có hiện tượng, có bản chất, có nguyên nhân và kết quả “Vị nọ, thức kia…; nhân vì, ấy bởi…”
Trong lời Giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bỉnh Khiêm – Tác gia và tác phẩm,
tác giả Trần Thị Băng Thanh – Vũ Thanh đã nhận xét khá xác đáng về chất thơ và cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Cùng với Nguyễn Trãi và Nguyễn Du…, Nguyễn Bỉnh Khiêm là đỉnh cao về thi ca thời trung đại (…) Thơ ông như một khu rừng thâm nghiêm linh thiêng và thách thức sự kiếm tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người trí thức trong thơ và là nhà thơ giàu tri thức, uyên bác trong nhiều trường hợp không
dễ tạo được sự hài hòa giữa chất thơ và triết luận”[61; 7] Rõ ràng, trong thơ ông có
Trang 18chất thơ và triết luận Bởi, nó được đúc rút từ chính con người uyên bác, thâm thúy trước mọi lẽ biến cải thế nhân của Trạng Trình họ Nguyễn
Sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được đánh giá là một thành tựu lớn trong nền nghệ thuật thơ văn trung đại Việt Nam Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính mở đầu cho một dòng thơ văn giàu tính triết lý, tư duy lý trí - thế sự, bước đầu chạm chân vào hiện thực và hơn hết, thơ Trạng Trình đã mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường qua cảm nhận của một triết nhân sâu sắc trước nhân tình thế cuộc Nghiên cứu ở góc độ đóng góp trong sáng tác nghệ thuật thơ bằng chữ Quốc ngữ (chữ Nôm) của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lã Nhâm Thìn nhận định:
“Nguyễn Bỉnh Khiêm là người mở ra hướng mới cho sự nghiệp thơ ca của mình: tư duy thế sự (…) Ở đây trí tuệ và tâm hồn dân tộc đã tiến đến một trình độ khái quát
tư duy nghệ thuật cao hơn: văn học tiếp cận những bình diện cuộc sống, những mâu thuẫn nội bộ dân tộc qua những vần thơ trữ tình có giá trị tự thuật cá tính và tự sự
xã hội rất sinh động cụ thể” [61; 112]
Như vậy, sau Nguyễn Trãi một thế kỷ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp nối và vận dụng tiếng nói đậm đà bản sắc dân tộc để sáng tác thơ nhằm gửi vào đó những xúc cảm, đời sống xã hội của người Việt bằng ngôn ngữ Việt Thơ ông được xem là người kế thừa và phát triển được ca tụng là “Cây đại thụ tỏa bóng gần suốt cả thế kỷ”
Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nhiều bình diện từ trước đến nay vẫn chưa hề vơi cạn Những nhận định về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều góc độ khác nhau, nhất là những nghiên cứu về các phương diện thi pháp học sẽ là nguồn tài liệu
hỗ trợ, gợi dẫn cần thiết để chúng tôi tham khảo, tìm hiểu nghiên cứu về cảm hứng
thời gian của thi nhân biểu hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập Chúng tôi cố
gắng đưa ra những nhận xét có tính khái quát đối với vấn đề cần khảo sát để giúp người đọc thấy được một số phương diện của tập thơ Nôm đã được tìm hiểu, khai thác Những nhận định, đánh giá từ các công trình trên sẽ là những gợi dẫn cần thiết cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề liên quan đến cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 193 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho đời nhiều thành tựu đáng quý, trong đó có
Bạch Vân quốc ngữ thi tập (BVQNTT) được viết bằng chữ Nôm (gồm khoảng 170
bài thơ), đã xác nhận ông là một thi hào thực thụ trong làng thơ ca trung đại Việt Nam Tư tưởng, tình cảm và tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm được phản ánh một cách sinh động qua tập thơ Nôm Cả cuộc đời 95 tuổi (1491 – 1585) gắn liền suốt thế kỷ XVI với những quãng thời gian đầy biến cố trong lịch sử xã hội Việt Nam luôn có ý nghĩa đặc biệt với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Sống trọn gần một thế kỷ gắn từng chặng đường đời với tuổi trẻ, ước mơ, công danh, hạnh phúc và những bi kịch cuộc đời… đã hun đúc trong ông những tầm cao trí nhãn để lại cho hậu thế “cây đại thụ rợp bóng” trong làng văn chương trung đại Việt Nam
Trong thế giới nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời gian được cảm nhận, ý thức một cách hệ thống dưới nhiều dạng thức khác nhau biểu hiện những trạng huống cảm xúc khác nhau trong từng chặng đường đời…của chính nhà thơ Đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu về các biểu hiện cảm thức thời gian trong
BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những phương thức nghệ thuật thể hiện các
kiểu thời gian trong nhận thức và cảm xúc của nhà thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những công trình nghiên cứu thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, tổng kết các bình diện thời gian nghệ thuật
được thể hiện trong BVQNTT Đồng thời, thông qua phân tích các giá trị nội dung,
nghệ thuật biểu hiện cảm thức thời gian của nhà thơ, luận văn góp phần hiểu thêm
về tâm hồn, tư tưởng tình cảm và những đóng góp đặc sắc đậm tính triết lý trong sáng tạo nghệ thuật của tác gia Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lĩnh vực văn chương
Văn bản khảo sát: Chúng tôi khảo sát văn bản thơ Nôm từ sách “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Đinh Gia Khánh giới thiệu, Hồ Như Sơn biên soạn phần thơ Nôm (chọn 161 bài), Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, 340 trang Đinh Gia Khánh và Bùi Duy Tân biên soạn phần thơ văn chữ Hán (chọn 93 bài thơ, 3 bài văn)
Trang 20Xuất phát từ yêu cầu nghiên cứu của phạm vi đề tài đặt ra, chúng tôi chọn khảo sát 161 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giới thiệu của tác giả với những lời nhận xét chung khá thuyết phục về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Có thể xem đây là cuốn sách có những kiến giải
hợp lý, khoa học và tập hợp đầy đủ các bài thơ trong Bạch Vân Quốc ngữ thi tập
của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Những trích dẫn về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong luận văn này đều được trích dẫn từ công trình trên Người viết thừa hưởng thành quả của những người đi trước và không sáng tạo gì thêm về phiên âm dịch nghĩa của văn bản
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này được sử dụng để tập
hợp và thống kê được số lượng những câu thơ, bài thơ có biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp yếu tố thời gian và cảm nhận thời gian của tác giả
- Phương pháp thống kê miêu tả: Sau khi xác định được những câu thơ, bài
thơ có biểu hiện yếu tố thời gian, chúng tôi tiến hành mô tả sự biểu hiện ấy nhằm làm rõ đặc trưng thời gian, biểu hiện các ý nghĩa thời gian của nhà thơ
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng trong việc so sánh
thơ chữ Nôm của các tác gia trung đại khác trước và sau Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nguyễn Trãi; Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến…) Mục đích của việc so sánh là nhằm phát hiện sự sáng tạo độc đáo, phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng tác văn chương trên hai chiều hướng thơ bác học chữ Hán và thơ bình dân chữ Nôm
Bên cạnh các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp để giải quyết vấn đề Thao tác phân tích được sử dụng khi mô tả loại hình thơ nhằm làm rõ những biểu hiện đặc trưng nhất của các biểu hiện thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trên đây là một số phương pháp, thao tác chủ yếu được sử dụng linh hoạt trong luận văn Việc nêu ra có tính tách bạch của các phương pháp được sử dụng
Trang 21trên chỉ phục vụ cho đối tượng nghiên cứu Bởi, phần lớn các phương pháp được sử dụng đan xen nhau khi trình bày, lý giải từng đối tượng cụ thể nhằm mục đích giải quyết những yêu cầu luận văn đặt ra
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chương 2: Các kiểu cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chương 3: Phương thức thể hiện cảm thức thời gian trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN
TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1.1 Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại
1.1.1 Giới thuyết chung về cảm thức thời gian
Thời gian là một đại lượng tồn tại khách quan, được vận hành theo một quy trình bất biến: sáng đến trưa, ngày qua đêm, tháng đến năm, mùa, vụ… Con người quen tri giác thời gian như trật tự vốn có của nó; tri giác thời gian theo kiểu tuyến tính và in vào nhận thức, lời nói hàng ngày như: trước - sau, tiền - hậu, đầu – đuôi, thủy – chung… Thời gian không phải là yếu tố duy nhất hé mở đời sống thế giới tâm hồn con người Bên cạnh thời gian bao giờ cũng tồn tại một không gian nhất định Sự tồn tại của con người hiển nhiên không thể được đặt ngoài vòng thời gian
và khoảng không gian nhất định Thời gian hiện hữu đó luôn dung chứa thế giới con người với các hiện tượng tự nhiên, xã hội… Không một ai có thể đứng ngoài bước
đi của thời gian; không một ai không có đôi lần nhìn thời gian trôi theo cảm nhận cá nhân chậm hay nhanh, dài hay ngắn, từ đó bản thân cảm nhận dòng đời trôi qua ngắn ngủi hay đằng đẵng… Đó chính là ý thức trước dòng chảy thời gian theo cảm xúc chủ quan và nó trở thành một hiện tượng mang tính phổ quát trong hiện thực cũng như trong sáng tác nghệ thuật Việc xem xét đánh giá những biểu hiện nhận thức trước các dòng chảy thời gian được chuyển hóa trong cảm xúc ý thức của chủ thể trữ tình qua sáng tác nghệ thuật thực sự có ý nghĩa không kém phần quan trọng khi muốn phát họa hoàn chỉnh chân dung của người nghệ sĩ
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt: “Thời gian là một phạm trù triết
học, cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới
có tính xác định”[84; 52] Theo đó, danh từ “thời gian” được hiểu là một đại lượng tồn tại khách quan quan trọng của mọi vật chất, mọi sự vật hiện tượng trong cuộc
Trang 23sống Có thể khẳng định, mọi sự vật hiện tượng không thể tồn tại ngoài thời gian
Sử dụng yếu tố thời gian để lý giải nhiều khía cạnh khác nhau của con người, cuộc đời được xem là một phương tiện cần thiết Không chỉ là đại lượng trôi đi theo chiều tuyến tính giản đơn để chỉ dòng chảy cuộc đời đi qua, thời gian với các “chiều kích” quá khứ, hiện tại, tương lai đều có thể trở thành những cảm nhận khác nhau ở từng tâm trạng của mỗi cá nhân
Cảm thức là cách con người nhận thức, đánh giá xem xét một vấn đề trong cuộc sống bằng con mắt chủ quan, bằng cảm nhận của chính mình chứ không phải của ai khác Với ý nghĩa đó, có thể hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong văn chương nghệ thuật nói chung, trong thơ nói riêng là thời gian khách quan mang tính chủ quan Thời gian ấy khi đi vào tác phẩm nghệ thuật đã được đi qua “bộ lọc” cảm xúc và nhận thức chủ quan của cá nhân người nghệ sĩ Người ta có thể thấy, thời gian đi nhanh như thoi đưa hoặc chậm trôi qua đến nỗi như nghìn thu… “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” hoặc “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”… khi chủ thể trữ tình mang nặng tâm tư trước thời gian khách quan Dòng thời gian trôi chảy nhanh chậm phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm lý của người cảm nhận Con người thông qua cách cảm nhận về thời gian để trình bày quan niệm, sự hiểu biết, đánh giá của mình
về cuộc đời, về cái đã qua, đang đến và cái sắp đến
Thời gian trong sáng tác nghệ thuật được cảm nhận không chỉ bằng các đại lượng vật lý thông thường như giây, phút, ngày, tháng, năm… mà còn bằng “đong đầy” chính cảm xúc mang rất rõ yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ Thời gian không còn là một khái niệm trừu tượng mà có khi tồn tại dưới dạng cụ thể như hương vị, màu sắc, vật thể hiện hữu trong nhiều chiều kích khác nhau Với những sáng tác của truyện cổ dân gian, tác giả dân gian thường xây dựng câu chuyện theo dòng chảy thời gian tuyến tính, sắp xếp kết cấu truyện theo một trật tự nhất định theo dòng chảy đời người: sinh ra, bắt đầu (quá khứ), diễn biến, hành trạng (hiện tại) rồi đến kết cục, kết quả (tương lai); Trong ca dao, thời gian phiếm chỉ được tác giả dân gian vận dụng theo mô tuýp “ngày ngày”, “chiều chiều”, “đêm đêm”,
Trang 24“Chiều chiều ra đứng ngõ sau; Chiều chiều lại nhớ chiều chiều”… để diễn tả cảm xúc chung mang tính cộng đồng của chủ thể trữ tình
Trong sáng tác nghệ thuật cá nhân, thời gian thể hiện diễn biến theo quy trình tâm lý con người Thời gian trong cảm thức của con người như một cơ thể sống với các trạng thái cảm xúc phong phú đa dạng, phức tạp được mở rộng các đường biên với các chiều kích để đánh dấu thời khắc đặc biệt trong cuộc sống của cá nhân hoặc thời đại Thời gian luôn tồn tại khách quan, nhưng đối với mỗi cá nhân, thời gian lại mang màu sắc, dấu ấn riêng biệt chủ quan của từng cá thể Cũng là dòng thời gian trôi chảy, nhưng ở mỗi người nghệ sĩ cảm nhận bằng cảm quan với những nhận thức và quan niệm riêng in dấu ấn cá nhân rất rõ Đứng trước vũ trụ bao la, người nghệ sĩ mẫn cảm, suy nghiệm cảm nhận được sự vô hạn của không gian và sự hữu hạn của kiếp người; Có lúc người nghệ sĩ nhận ra sự trôi chảy vĩnh viễn của thời gian để kịp hoài niệm về những chặng đường mình đã đi qua; Cũng có khi bằng sự trải nghiệm của bản thân trong dòng chảy thời gian vật lý, người nghệ sĩ cảm nhận thời gian trong ưu tư khắc khoải trước những biến cải thế nhân…
Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là một hình tượng thẩm mỹ sinh động chứ không khô cứng Nó không đơn giản chỉ là sự cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo của các giác quan mà còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng chính tâm trạng của tác giả Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt với thời gian vật lí tuyến tính, nhưng không dễ thấy Thời gian ấy có thể dài hay ngắn, trôi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào tâm tư tình cảm của nhà thơ, tùy thuộc vào sự cảm nhận của chủ thể sáng tạo Thời gian nghệ thuật biểu hiện trong thơ chịu sự chi phối từ cảm thức thẩm mỹ và thế giới thẩm mỹ của con người thời đại Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng có thể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ bằng hồi tưởng Các lớp thời gian có khi đan bện, xoắn xít với nhau, cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mối liên hệ thời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm Vậy nên, hẳn nhiên, trong dòng chảy thời gian, mỗi chủ thể có cách cảm thụ thế giới riêng mang dấu ấn cảm xúc cá nhân Do được cảm nhận bằng tâm trạng nên thời
Trang 25gian trong thơ có cách thể hiện riêng không giống với thời gian vật lí bên ngoài
Nó có sự giãn cách, giãn cách từ thời gian vật lí bên ngoài để được tự nhiên đi vào thơ Ngoài nghĩa thực vốn có, thời gian còn mang ý nghĩa biểu trưng Chính giá trị biểu trưng này làm cho thời gian trong thơ mang được rất nhiều xúc cảm
và nhận thức của người nghệ sĩ Khi người nghệ sĩ nhắc đến lượng thời gian
“kim cổ” cũng có nghĩa cảm xúc, ý thức của người nghệ sĩ đang đứng ở hai chiều cảm thức về dòng chảy cuộc đời xưa và nay trong sự hoài niệm quá khứ hoặc hiện hữu của thời gian ngừng trôi, bất biến trước thời gian lịch sử, vĩnh hằng Thi nhân Nguyễn Trãi từng ưu tư trước sông nước mênh mông khi đối ứng với phận người hữu hạn: “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc/ Anh hùng hữu hận
diệp tiêu tiêu” (ƯTTT) Dòng chảy thời gian trong tác phẩm cũng biến đổi linh
hoạt, từ điểm nhìn hiện tại có thể ngược về quá khứ, thậm chí trở về thời Bàn Cổ khai thiên… Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến “đời Nghiêu Thuấn” hay “thuở Tấn, Tùy”: “No lòng ấm cật đời Nghiêu Thuấn/ Gối vác nằm sương thuở Tấn, Tùy”… cũng có nghĩa nhà thơ muốn nhắc đến một xã hội lý tưởng, một thời đại đầy
mơ ước vua sáng tôi hiền hay những buổi binh đao loạn lạc …
Chính nhờ sức mạnh biểu hiện đa dạng, phong phú của ngôn ngữ, các dạng thức thời gian đã giúp các thi phẩm lưu lại dấu ấn về cảm thức thời gian một cách sâu sắc sinh động hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác Thời gian biểu hiện không chỉ là một mảnh vỡ về hình khối, màu sắc hay âm thanh mà với một dung lượng ngôn từ ít ỏi, nó có thể tái hiện những biến cố lớn lao của một đời người hay một thời đại cụ thể Đọc những câu thơ: “Thập niên phiêu chuyển thán bềnh bồng; Tam
thập niên tiền hồ hải thú; Thập niên thanh ngọc chức hồ băng” (ƯTTT)… của
Nguyễn Trãi, chúng ta nhận ra sự tổng kết nỗi niềm của nhà thơ trong từng chặng đường “mười năm” nổi trôi, ẩn nhẫn chờ thời; ba mươi năm phỉ chí hải hồ; mười năm “quan thanh ngọc” trong tiếng lòng chua chát nơi chốn quan trường… Như vậy, thời gian trong thơ ca có những nhịp điệu, sắc độ riêng để nhà thơ bộc bạch những xúc cảm vui buồn, suy tư cá nhân gắn với dòng chảy thời cuộc
Trang 26Bằng hình tượng nghệ thuật, thời gian đi vào thơ có thể “co dãn” theo cảm nhận chủ thể sáng tác Nhà thơ có thể cho thời gian trôi nhanh đi bằng cách dồn nén làm cho khoảng một thời gian dài chỉ “trôi qua” qua một câu thơ ngắn mà hiện hữu
cả thời cuộc bể dâu Khi Nguyễn Bình Khiêm suy ngẫm: Được thời thân thích chen
chân đến/ Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi (Bài 49 - BVQNTT), nghĩa của “thời” và
“thế” đã trở thành thời cuộc trong sự biến thiên của dòng chảy thời gian, nghĩa là triết nhân đang suy nghiệm đến thói đời đen bạc ở con người trong dòng chảy nhân sinh nặng màu nhiễu nhương của thế cuộc…
Thế giới tự nhiên không phải là sự tồn tại vật chất lạnh lùng khô cứng, không
có mối quan hệ với con người mà ngược lại nó tồn tại trong sự thấm đẫm tinh thần
và tình cảm của con người Những thời khắc của vạn vật ngày, đêm, tuần, tháng, bốn mùa, hay thời khắc cuộc đời con người đều có thể gửi gắm vào thơ để bày tỏ tình cảm thân thiết, hay đôi khi xa cách thì mượn thơ để ngụ ý tình ai oán Con người cảm nhận thời gian bằng nhịp đi của bốn mùa, của cỏ hoa, cây lá, của tuần trăng, con nước Chính những hình ảnh như vậy đi vào văn chương, được xem là tín hiệu thẩm mỹ chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa thế giới tự nhiên và con người Mọi hoạt động của con người không thể tách rời với thiên nhiên Thiên nhiên là
bạn, là chứng nhân cho những khoảnh khắc “hỉ, nộ, ái, ố” của cuộc đời con người
Tìm hiểu về thời gian nghệ thuật trong văn học cũng là một cách để giải mã những
bí ẩn giữa con người với tự nhiên trong sự hài hòa mật thiết
Thời gian nghệ thuật trong văn học nói chung, trong sáng tác thơ trung đại nói riêng không đơn giản là việc xác định những khoảnh khắc, những thời điểm diễn tiến sự việc mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể hiện quan
niệm, nhận thức và cảm xúc của tác giả trước dòng chảy thời gian Theo Từ điển
thuật ngữ văn học, định nghĩa: “Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của
con người trong thế giới (…) Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kỳ lịch sử, trong từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới” [36; 273] Trong thế giới nghệ thuật, thời gian, không gian nghệ thuật xuất
Trang 27hiện như một hệ quy chiếu có tính tiêu đề được dấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm Từ đó, cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả thể hiện trong tác phẩm khá
rõ Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử Thế giới nghệ thuật cùng các chiều kích của dòng chảy thời gian biểu hiện trong sáng tác của người nghệ sĩ được khám phá cũng có nghĩa là góp phần nhận diện tâm hồn, tư tưởng tình cảm và phong cách người nghệ sĩ “ẩn tàng” trong tác phẩm ở từng thời đại khác nhau
1.1.2 Diễn tiến biểu hiện cảm thức thời gian trong sáng tác thơ trung đại
Thời gian có những ý nghĩa, chức năng nhất định trong việc thực hiện vai trò nghệ thuật của mình Thời gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với thời gian vật lí Bản thân thời gian vật lí tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người Thời gian vật lí chỉ trở thành thời gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và qua đó thể hiện cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về thế giới, trình bày quan niệm nhân sinh, thể hiện thái độ sống trước cuộc đời Thời gian thể hiện trong thế giới nghệ thuật mang tính chủ quan ở cách cảm nhận, miêu tả của tác giả Ở đây, tác giả toàn quyền sử dụng, tái hiện thời gian theo nhu cầu và mục đích của riêng mình mà không gặp cản trở nào Thời gian nghệ thuật là một hiện tượng ước lệ trong thế giới nghệ thuật; một phạm trù trừu tượng trong thế giới nghệ thuật, có thể nhận biết qua sự vận động, biến đổi của chuỗi các hiện tượng, sự kiện diễn ra qua “bộ
lọc” lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ
Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong văn học trung đại, Trần Đình Sử dẫn giải, thời gian trong văn học trung đại được nhìn nhận dưới hai khía cạnh cơ bản Thời gian luôn gắn liền với cảm hứng lịch sử Nhà nghiên cứu nhận định, thời gian thể hiện trong sáng tác thơ ca trung đại thường là những biểu hiện nghĩ suy
về thời cuộc, về dân tộc, những triết lý về lẽ thịnh suy của thời đại Tác giả chỉ
ra, thời gian biểu hiện dưới hai bình diện đối lập: thời gian vũ trụ trôi chảy vĩnh
hằng và thời gian đời người ngắn ngủi chóng vánh Thời trung đại, thì tương lai là
Trang 28phạm trù ít được quan tâm Thời gian thường hóa vào không gian Thời gian hướng con người chú ý về quá khứ vì nó trôi nhanh, bốn mùa đến rồi đi vẫn là bốn mùa ấy Một mặt trăng trên trời có thể chiếu muôn nơi và mọi thời điểm cả quá khứ, cả tương lai, thống nhất mọi sự trong một thời gian bất biến, vũ trụ Ví như trong thơ Thiền, thời gian là một loại “vô thời gian”, bất biến thường trụ vì nó không sinh, không diệt Thời gian được hiểu như dòng chảy trôi xuôi, bất biến, không tự sinh và không tự mất
Như đã biết, thơ ca trung đại buổi đầu là sáng tác của các nhà sư, về sau là các nhà Nho Người xưa phụ thuộc vào thiên nhiên, bởi thiên nhiên là quy chuẩn của cái đẹp, nên họ dễ dàng đồng nhất hóa thế giới thiên nhiên với thế giới con người Họ giải thích các hiện tượng mà họ thấy được bằng quy luật vận động của thế giới tự nhiên Ví như, sự xuất hiện của sao chổi được xem là tín hiệu về xã hội loạn lạc hay nhật, nguyệt thực xuất hiện là dấu hiệu của vua chúa băng hà, Thơ ca trung đại có xu hướng bất tử hóa thời gian lịch sử gắn với những chiến công hiển hách trong công cuộc chống ngoại xâm vĩ đại Thời gian lịch sử trong thơ thời Trần phần lớn được thể hiện theo kiểu thời gian không gian hóa, tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấu tích, đền đài lịch sử Trong thơ, các dấu tích lịch sử được cảm nhận cũng như tồn tại trong hiện tại trong không gian Phạm Ngũ Lão từng nhắc đến chí nam nhi trước tiền nhân Khổng Minh: “Công danh nam tử còn vương
nợ/ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” (Thuật hoài) Đó là cách bày tỏ chí khí
bằng việc đặt mình vào thời điểm như là người cùng thời để bày tỏ Cùng với cách diễn đạt theo thời gian lịch sử, Đặng Dung từng nhắc đến “đồ điếu” tích Hàn Tín câu cá và Phàn Khoái làm thịt chó: “Thời lai đồ điếu thành công dị/ Vận khứ anh
hùng ẩm hận đa” (Cảm hoài) Nói chuyện về người xưa mà không hề thấy chuyện
của xa xưa, chỉ thấy tâm trạng, nỗi niềm của người anh hùng lỡ vận đương cuộc Cũng với cách nhìn thời gian chiếu ứng với lịch sử, nhà vua Trần Minh Tông đứng trước dòng sông Bạch Đằng hiển hiện trong ánh chiều màu đỏ ối, thời khắc hiện tại
đã ngưng đọng trong thời khắc lịch sử chiến trận với dòng sông đỏ màu máu của một thời chiến trận: “Nước dòng sông chiếu bóng mặt trời đỏ ối/ Tưởng máu người
Trang 29chết trận chưa khô” (Bạch Đằng giang) Lịch sử hiện ra trong cảm thức của đấng
minh quân như một niềm tự hào về chiến công hiển hách hay một bài học lịch sử đắc giá trường tồn trước dòng chảy cuộc đời Trong niềm vui dạt dào cùng với niềm kiêu hãnh tự hào về non sông đất nước, về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, vị tướng tài ba Trần Quang Khải hân hoan hào sảng trên đường Phò vua về Kinh:
Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu
(Tụng giá hoàn kinh sư - Bản dịch của Trần Trọng Kim)
“Vạn cổ thử giang san”! Non nước ấy nghìn thu thực sự là cảm khái hân
hoan tự hào trước giang san thái bình của một vị tướng tài Vạn cổ - “Nghìn thu” là thời gian vĩnh hằng bất biến, nó được gắn liền với không gian hóa gắn với những
chiến công hiển hách, với tên tuổi những trận đánh oanh liệt Chương Dương, Hàm
Tử của lịch sử cha ông, biểu trưng cho tinh thần dân tộc sâu sắc, mạnh mẽ, một giá
trị vững bền luôn được huy động bởi hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của dân tộc
Thời gian không chỉ đọng lại ở những thời điểm vang danh chiến công oanh liệt, thời gian còn cảm nhận qua những ưu tư trước sự suy vi của thời cuộc Đó là thời gian hoài niệm, suy tư trước sự biến thiên của thời cuộc mang nỗi niềm tiếc nhớ về một quá khứ vàng son, trăn trở đau đáu của những con người trí thức muốn được cống hiến, muốn được trọn dâng cuộc đời cho xã tắc nhưng bất lực chỉ biết nhìn lịch sử xoay vần biến đổi đành chịu bất lực trước sự suy thoái của lịch sử Mặc dù thơ trung đại chủ yếu đề cập đến những vấn đề lớn lao của thời đại, nhưng bản chất thơ ca là sự bộc lộ thế giới nội tâm, nội cảm Đứng trước không gian, thời gian vô tận, đối diện với thế giới khách quan, con người trung đại nhận ra sự nhỏ
bé, hữu hạn trong cái bao la trường cửu của thời gian vũ trụ Chu Văn An cảm hứng trước vẻ đẹp thanh nhã trong một thời khắc tĩnh tại ở núi Chí Linh đã nhận
ra sự ngưng đọng của thời gian:
Trang 30Núi xanh muôn lớp họa bình che
Ác xề soi lên rạng nửa khe
Bụi rậm đường sâu người vắng vẻ Trong mây chim khách gọi le te Trong cảnh sắc thời gian người ngừng trôi
ca là “khởi phát từ tình” Người nghệ sĩ vốn rất mẫn cảm với cuộc đời Đối diện với thế giới khách quan, người xưa thường thấy mình thật nhỏ bé giữa không gian rộng lớn, bao la Khi Nguyễn Trãi ngẫm suy: “Kim cổ vô cùng và anh hùng hữu hạn” là tiền nhân đã nhận ra sự tồn tại hữu hạn của đời người trước vô hạn của vũ trụ để khẳng định tính chất tồn tại của cá nhân, cá thể con người trước vũ trụ
Kéo dài gần mười thế kỷ, văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong tính quy phạm chặt chẽ Song, sáng tác nghệ thuật là tiếng lòng của người nghệ sĩ vốn mang yếu tính cá nhân nên trong những khuôn phép chuẩn phạm của nghệ thuật vẫn bật lên những sáng tạo cá nhân nhất định Thời trung đại, phần lớn các nhà Nho cũng là những người nghệ sĩ luôn biết cân bằng tĩnh tại đời sống tinh thần Lúc ở triều quan thì dấn thân nhập cuộc với cả tấc lòng, khi “sóng gió” thất thường lại tìm về “hạc rừng vượn núi” an nhiên với thái độ chấp nhận và bình thản Tức là người nghệ sĩ nhà Nho đã tìm về thời gian sinh hoạt đời thường với những thú vui nhàn tản Người nghệ sĩ khi đã đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối của tâm hồn, quên hết nỗi ám ảnh của cái chóng vánh kiếp người, sống an nhiên
tự tại với những thú vui thanh nhã Nguyễn Trãi đến với: “đêm hớp nguyệt”,
“ngày xem hoa”, “đêm xem bóng nguyệt”, “ngày nhàn mở sách” “ngày xuân chấm câu”…; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tìm về: “Khúc văn thơ đọc đời
Trang 31Nghiêu Thuấn/ Khúc thái bình nhờ chúa Vũ Thang” (Bài 90 – BVQNTT), “Thu
ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Bài 32 – BVQNTT)…;
Nguyễn Khuyến sau những đau đáu với thời cuộc “Năm canh máu chảy đêm hè vắng/ Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ” cũng tự tìm về “vườn Bùi chốn cũ” với
tam khúc thu ca: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm… Đó chính là thời gian sinh hoạt
đời thường, gắn với bao thế sự diễn ra đi vào trong tâm trạng xúc cảm của mỗi nhà Nho nghệ sĩ khi muốn làm một dật dân, đặt mình ngoài thế cuộc
Văn học nói chung, thơ ca nói riêng dù ở thời kỳ nào, trung đại hay hiện đại cũng đều tồn tại bản ngã, tồn tại con người cá nhân, cá thể Chỉ có điều, tùy vào quan điểm, tư tưởng của từng thời đại lịch sử có những quy phạm nhất định Ở xã hội hiện đại tự do, cởi mở hơn về những quy phạm sáng tác, người nghệ sĩ có một thế giới nghệ thuật thông thoáng để tự do sáng tạo, cái tôi trữ tình có thể “vùng vẫy”những cung bậc cảm xúc của mình Xã hội phong kiến thời trung đại có những đặc trưng quy định nghiêm ngặt, chuẩn mực, lề lối kinh điển trong sáng tác nghệ thuật khiến người nghệ sĩ dù muốn “bung tỏa” không phải là dễ Do đó, trên cái nền yêu cầu chung, họ phải tuân chuẩn theo những khuôn định bắt buộc Song, nghệ thuật lại luôn gắn với yêu cầu sáng tạo Điều đáng quý là mặc dù chịu sự chi phối của các đặc tính quy phạm, chuẩn mực, tâm hồn nghệ sĩ các thế kỷ thời trung đại vẫn có những “phi chuẩn” phá cách; biết yêu, say, rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và con người; biết sống bằng những cảm xúc riêng tư từ trong thẳm sâu con tim mình Ngoài những lúc hướng về “khuôn vàng thước ngọc”, người nghệ sĩ vẫn tự tìm cho mình một con đường sáng tạo, lưu lại dấu ấn để cái tôi
cá nhân, cá thể lên tiếng Tuân chuẩn theo hệ thống thi pháp trung đại, người nghệ
sĩ thời trung đại vẫn không ngừng sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã để khắc họa “cái tôi” trong dòng chảy thời gian qua những tìm tòi, thể nghiệm sáng tạo
cá nhân Vì thế, sự phá cách, vượt chuẩn trong sáng tạo nghệ thuật cũng là lẽ đương nhiên trong sáng tác thơ ca thời trung đại
Nếu lấy những quy tắc, điển phạm trong mỹ học phong kiến làm tâm thì có thể xem có hai dòng văn học “hướng tâm” và “ly tâm” cùng tồn tại trong mười thế
Trang 32kỷ trung đại Việt Nam “Dòng văn học hướng tâm” hướng về con người cộng đồng, con người quân quốc… mang lí tưởng “trí quân trạch dân”, mang khát vọng xây dựng một xã hội Nghiêu Thuấn và “Dòng văn học ly tâm” gắn với hình ảnh con người cá nhân có dịp bứt phá, quẫy đạp bằng một cái tôi mạnh mẽ, phóng khoáng Lịch sử văn học Việt Nam đã chứng minh khi “Dòng văn học ly tâm” phát triển mạnh mẽ về sau (từ thế kỷ 16 trở về sau) thì tiếng nói nghệ thuật đích thực nở rộ với
sự xuất hiện những tác gia văn học lớn mang đậm ý thức cá nhân gắn cái tôi khá rõ Những kiệt tác thơ ca để đời của những nhà Nho uyên bác như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… phần lớn được sáng tạo trong những giây phút ly tâm của tâm hồn họ Những trạng huống bức xúc, những cảnh ngộ dễ khơi gợi niềm trắc ẩn trong tâm hồn nghệ sĩ… sẽ là lúc bột khởi những rung động nghệ thuật đích thực, từ đó khởi động bao suy cảm cá nhân
Văn học trung đại ở các thế kỷ về sau, cảm thức trước thời gian đã được người nghệ sĩ chiêm nghiệm, suy tư Họ ý thức “phận người” trước thực tế; họ cảm suy tuổi tác, sự sống và cái chết trước thời gian; họ nhận ra sự bất lực của con người trước dòng chảy thế cuộc… Từ đó, người nghệ sĩ hướng cảm xúc về ý thức cá nhân với cuộc đời khá mạnh Những khái niệm: “tiếc xuân”, “thương thân”, “tiếc thân”, tiếc tuổi trẻ chóng tàn trước dòng thời gian vô tình trôi chảy đã được đề cập nhiều trong nguồn thi hứng của các nhà Nho trung đại Thời gian mang xúc cảm cá nhân
làm nảy sinh các dạng đề thơ: Thương xuân, Tiếc xuân, Tiếc cảnh, Tự tình, Thuật
hứng…; Các chủ đề để nhà thơ bộc bạch nuối tiếc như: sinh không gặp thời, nhân sinh như mộng, trần như mộng, mơ giấc Hòe an, (“Đời mấy tuổi thanh niên”,
“đầu bạc tuổi già”, “Quốc thù chưa trả đầu đã bạc”, “Tiếc thiếu niên qua”, “Tiếc xuân”, “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” …) Cảm hứng này thể hiện khá rõ trong thơ Trần Nguyên Đán, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,…
Càng về sau, thơ ca trung đại đã đánh dấu bước chuyển mình rực rỡ về ý thức cá nhân trong sáng tác ở các thế kỷ sau, khi mà ý thức cá nhân trong văn học được khẳng định ở bình diện ý thức về sự tồn tại cá thể, cá nhân rất rõ trước không gian, thời gian Khi xã hội đã có nhiều biến đổi, giá trị vật chất đã được thừa nhận
Trang 33và hơi “đồng tiền” đã bén mùi trong cuộc sống Nguyễn Bỉnh Khiêm từng nhận ra
sự biến cải thế nhân trước thời gian “biến cải”: “Thế gian biến cải vũng nên đồi” với các sắc màu mùi vị của thế nhân nếm trải: “Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi” Theo
đó, các giá trị đạo đức, ứng xử của con người cũng theo sự đổi thay của thời gian
mà biến đổi để nâng lên thành một khái quát triết lý “thói đời” về lẽ “còn/ hết”,
“khôn/ dại”, “được/ thua”, về giá trị con người và của cải đầy chua chát: “Còn tiền còn bạc còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”; “…Mới hay rằng của nặng hơn người” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Đến thế kỷ sau, trong dòng suy cảm thời gian là một chuỗi tàn tạ, phôi pha, chóng vánh, đại thi hào Nguyễn Du cảm nhận được sự nhỏ nhoi của con người trước thời gian: “Gió thu xế bóng lòng quá rộng/ Nước chảy
mây bay nghiệp bá mờ” (Trông vời nước Sở) Bao trùm trong kiếp nhân sinh “trăm
năm trong cõi người” là một cảm thức không gian buồn quạnh, thời gian tàn tạ, phôi
pha Đối với Nguyễn Du các đơn vị đo thời gian như năm, tháng, ngày, trăm năm,
nghìn thu… không chỉ là biểu hiện dòng chảy thời gian tuyến tính mà còn mang ý
nghĩa sâu sắc là sự đổi thay nhanh chóng, thê lương bao trùm cả không gian tàn tạ trong tâm cảm nhà thơ
Cảm quan thời gian của thi nhân thể hiện trong sáng tác thi ca đã có nhiều thay đổi, diễn tiến hướng sâu vào những suy cảm cá nhân nghiêng về thân phận kiếp người giữa dòng đời thế cuộc Khác với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du thường đặt thời gian trong sự “hối đầu”, “ngoảnh lại”… trong nỗi niềm tiếc nhớ, nhà Nho Nguyễn Công Trứ thay đổi thái độ cảm nhận trước dòng chảy thời gian, ông coi trọng thời hiện tại và quan niệm tận hưởng những gì đang hiện hữu trong kiếp nhân sinh:
“Nhân sinh ba vạn sáu ngàn ngày” Ông tìm cách làm chủ thời gian, hiểu sự huyễn
hoặc của đời người qua cảm nhận cái nợ trần ai - Nợ phong lưu: “Năng đắc kỉ thời khai khẩu tiếu/ Cư chư toàn phụ thử quang âm” (dịch nghĩa: Dễ được mấy lần mở
miệng cười/ Lần lữa là phụ với thời giờ) Nhà Nho đề cao giá trị của sự hưởng thụ
tức thời Thời gian trong cảm nhận của ông thường đóng khung ở thì hiện tại, ông
hô hào đừng “lần lữa” với thời gian: Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Trang 34Từ thế kỷ XVIII trở đi ý thức về cái tôi cá nhân càng phát triển mạnh mẽ Đặng Trần Côn để người chinh phụ khắc khoải nhìn thời gian trôi: “Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa/ Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng”, để rồi khát vọng về ý thức sống hạnh phúc trên thế tục “kiếp này” được vươn lên mạnh mẽ, quyết liệt:
Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
(Chinh phụ ngâm)
Thương thân, tiếc thân, xót thân “Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”, lo sợ tuổi xuân chóng tàn, Hồ Xuân Hương, sau nhiều lần “Tự tình” trong những đêm thâu “Trơ cái hồng nhan với nước non”, nữ sĩ đa truân này không chỉ ưu tư trước thời gian mà tìm cách “kéo” dòng chảy hiện tại đang trôi qua một cách bất lực vì lo
sợ tuổi xuân chóng tàn: “Tài tử văn nhân ai đó tá/ Thân này đâu đã chịu già tom”
(Tự tình – Hồ Xuân Hương)
Yếu tố cảm thụ cá nhân đã làm cho thời gian trong thơ đa dạng và biến đổi rõ nét Đến thế kỷ XIX, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương đã định hình cảm thức thời gian gắn với cái tôi cá nhân rất rõ “Cái tôi” trữ tình mang nỗi buồn đau nhân thế, khắc khoải với đời của Nguyễn Khuyến đã thể hiện sâu sắc trong những vần thơ mang nỗi niềm cô đơn trước thời gian đến nao lòng Một mình than thở, một mình ngắm trăng, một mình uống rượu, ngắm hoa trong đêm vắng , Nguyễn Khuyến như trút cả tâm trạng của mình vào thơ Có bi kịch nào hơn khi chính mình cũng không còn nhận ra mình trước thời gian: “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng/
Ngàn năm bay hạc, tớ là ai ?” (Muộn) Còn cô đơn nào hơn khi giữa dòng đời trôi
chảy, “ta” chẳng nhận ra ta - “tớ là ai”! Cười cợt vào thói đời, chửi mắng vào xã hội đánh mất đạo lý, giễu cợt vào loại người “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”…, Ông Tú thành Nam – Trần Tế Xương vẫn không giấu được tiếng lòng “day dứt” về
thời cuộc: Có đất nào như đất ấy không? Còn biết chất vấn, tự vấn…, là con người
còn biết lắng nghe và quan tâm theo dõi cuộc đời Tú Xương vừa được cất lên tiếng cười chua chát đã buông tiếng thở dài não nuột của nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc
bỉ bôi Bên cạnh một con người tưởng như bất cần, ngông ngạo, ông Tú vẫn luôn
Trang 35sâu lắng những cảm xúc trữ tình da diết trược hiện thực cuộc sống với mảng màu tăm tối Ăn chơi đủng đỉnh: “giày Tây anh vận, ô Tây anh cầm” vậy mà lắm lúc Ông Tú cũng trăn trở suy tư về một hiện thực dòng chảy thời gian không lối thoát:
Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho
(Ðêm dài)
Nhà Nho cuối kỳ với ý thức cá nhân mạnh mẽ trước thời cuộc “đen tối” đã day dứt khôn nguôi về sự bất lực của mình, trăn trở về một hiện thời biết bao giờ tươi sáng
Cùng với không gian hiện hữu, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” Các kiểu thời gian qua “bộ lọc” xúc cảm và tri nhận của người nghệ sĩ đã được định hình thành những cảm thức riêng trên cái nền chung của nghệ thuật thời trung đại Những kiểu cảm nhận thời gian nghệ thuật trên xuất hiện trong thơ ca trung đại Việt Nam, chủ yếu trong thơ của các nhà Nho Thông qua một loại hình nghệ thuật ước lệ in đậm nét cảm nhận chủ quan của nhà thơ trước dòng chảy thời gian, cảm thức thời gian của người nghệ sĩ tồn tại trong thơ thể hiện khá rõ Các hình ảnh nghệ thuật ấy được đo bằng những thước đo khác nhau bằng sự suy nghiệm trước vũ trụ, nhân sinh, bằng sự lặp lại đều đặn của các hoạt động đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay…mùa này, mùa khác, sự biến cải bể dâu… đã tạo nên đặc trưng riêng trong từng sáng tác qua cảm nhận của người nghệ
sĩ ở những thời đại khác nhau Cảm nhận về thời gian của mỗi thi nhân không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vào từng chặng đường đời, từng thời đại lịch sử biến động và cảm quan thẩm mỹ khác nhau của mỗi cá nhân Trong diễn tiến mười thế
kỷ văn học trung đại Việt Nam, cảm thức thời gian trong sáng tác thơ ca của các thi nhân đã có nhiều chuyển biến Càng về sau, ý thức về con người cá nhân trong dòng chảy nhân sinh của người nghệ sĩ càng thể hiện rõ nét
Trang 361.2 Cơ sở chi phối cảm thức thời gian nhà thơ trong BVQNTT
1.2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội thời đại chi phối cảm quan thẩm mỹ nhà thơ
Lịch sử dân tộc Việt Nam không thể phủ nhận vai trò đóng góp trên nhiều lĩnh vực và những thành tựu văn chương to lớn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi lại cho hậu thế Riêng ở lĩnh vực văn chương, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tên tuổi lớn của nền văn chương trung đại Việt Nam thế kỷ XVI, đồng thời là một trong những tác gia tiêu biểu của văn học viết dưới thời phong kiến Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam,
là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học - thời đại Nguyễn Trãi trước đó và thời đại Nguyễn Du sau này
Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nhỏ rất thông minh, hiểu cả chính văn, kinh truyện,
có tài văn chương Văn tài học hạnh của cha mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc tới Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngay từ khi còn nhỏ, môi trường giáo dục của ông cũng rất thuận lợi, đầy đủ và tốt đẹp Tiếc thay, thời đại xã hội với nhiều biến động đã không tạo điều kiện để Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể dốc hết tài năng và thực hiện hoài bão của mình Thời đại đi tìm “minh chủ”, “chân chúa” để phụng sự những vua sáng, tôi hiền đã thuộc về thế kỉ XV, đã trở thành vấn đề của lịch sử Tuổi niên thiếu của Nguyễn Bỉnh Khiêm ứng với thời kỳ cuối nhà Lê suy yếu Thực tế là những cuộc đấu tranh giành quyền vị diễn ra gay gắt, triền miên Trước bối cảnh xã hội loạn lạc, kinh tế đình đốn, chính trị đầy biến động, phe phái hỗn loạn…, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư dạy học và tiếp tục học Đầu thế kỷ XVI xã hội đầy loạn lạc Mâu thuẫn gay gắt giữa vua – quan – dân thời Lê sơ dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân; mâu thuẫn trong nội bộ vua – quan dẫn đến chiến tranh phe phái giết hại lẫn nhau Các dân tộc thiểu số ở đầu nguồn Thái Nguyên, Tuyên Quang nổi dậy chống Triều
Lê ở đầu thế kỷ XVI Suốt thời gian này, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn chỉ học, quan sát, chiêm nghiệm cuộc đời Mãi cho đến sau khi xảy ra cuộc “thay bậc đổi ngôi” năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất Lê Xuân, xưng vua, lập nên vương triều Mạc
và sau ba năm nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, những năm về sau được xem là lúc thịnh vượng nhất của triều Mạc dưới sự điều hành của ông vua Mạc
Trang 37Đăng Doanh và Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung, chính vào thời điểm này, Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định nhập thế Ông ghi tên dự kỳ thi Hương năm Giáp Ngọ 1534, khi ở tuổi 44
Đi qua gần suốt thế kỷ XVI, thọ 95 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm gần như tham gia và chứng kiến mọi biến cố thời đại trong xã hội Việt Nam thế kỷ XVI Làm Thầy dạy học, đậu Trạng nguyên thi thố với đời, làm quan chưa được tám năm, chán ngán cảnh quan trường dâng sớ xin chém 18 lộng thần không được, ông xin về trí sĩ tại quê nhà, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ Có thể nói, cuộc đời ông đã trải qua nhiều sự biến lịch sử, nhiều vị thế cao thấp khác nhau Chính những trải nghiệm trong từng giai đoạn thăng trầm thế cuộc ấy đã giúp nhà Nho đúc rút được nhiều điều suy nghiệm khái quát mang tính triết lý về nhân sinh thế sự với mọi sắc thái đen bạc của “Thói đời”
Triều Mạc thay triều Lê mang đến nhiều thay đổi hàng loạt về tư tưởng, văn hóa, kinh tế xã hội Triều Mạc lên, một tầng lớp bình dân – dân chài mới leo lên ngôi quân chủ mới, vua quan mới và chưa đề xuất được hệ tư tưởng gì mới mẻ Chưa biết lấy gì thay được Nho giáo tuy là nhà Mạc đã thấy được mô hình quân chủ Nho giáo là bế tắc Nhà mạc đành dùng Nho nhưng không quá khắt khe với các hệ thống phi Nho như thời Lê sơ Tình hình tư tưởng trong triều ngoài nội đở “nghẹt thở” hơn thời độc tôn Nho giáo Lê sơ
Về kinh tế, văn hóa thời Mạc có nhiều cách nhìn “phóng khoáng” hơn Không quá cứng nhắc theo Nho, nhà Mạc cũng không cứng nhắc “trọng nông ức
thương” Thương nghiệp nhà Mạc phát triển theo hướng mua bán, trao đổi, chợ
búa, vùng miền… Tiền được đúc nhiều, chợ mở rộng sang các thị trấn vùng miền
giáp ranh Thời đầu nhà Mạc, thủ công nghiệp được kích thích phát triển, nhất là nghề gốm sứ Lò gốm sứ được khuyến khích mở nhiều trong nước và phục vụ cho xuất khẩu Vì thế, tầng lớp công thương cũng trở nên đông đảo và giàu có hơn trước Trần Quốc Vượng khi nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thế kỷ XVI đã nhận định: “Nhiều đồ gốm thời Mạc có ghi niên hiệu sản xuất, tên người đặt hàng, tên người sản xuất, nơi sản xuất… phản
Trang 38ánh chừng nào sự tôn trọng quyền con người, quyền cá nhân mang tính nhân văn
tiền tư bản (…) Rõ ràng, đầu thời Mạc có an ninh và phát triển” [61; 81] Như vậy,
với nhà Mạc, đã bắt đầu có những tiền đề vật chất và tinh thần cho một sự cải biến
có thể là cơ bản cho xã hội Việt Nam Vai trò của đồng tiền đã có tác dụng mạnh trong xã hội, làm đảo lộn nhiều giá trị đạo đức văn hóa theo Nho giáo Với nhiều trải nghiệm trong chính cuộc thế đầy biến đổi đã tạo nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một vốn hiểu biết thực tiễn vô cùng rộng lớn, sâu sắc và rất uyên thâm Không chỉ có vốn kiến thức đồ sộ, uyên bác từ kết quả của tháng năm sách vở nơi “Cửa Khổng sân Trình”, ông còn là người tài năng nhiệt huyết biết lắng nghe, quan sát và chính kiến sâu sắc trên đường thực thi lí tưởng Dù không có cái may mắn được đem hết tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, song ở ông luôn toát lên sự uyên bác thâm nghiêm của bậc đại sư bao người kính cẩn Ông là “vàng mười” trong cảnh đời đen bạc của xã hội phong kiến thế kỷ XVI Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bức tranh hiện thực xã hội thời đồng tiền bắt đầu phát huy vai trò tác dụng lớn lên ngôi khá rõ ràng với mọi sắc thái cảm xúc của một triết nhân từng chiêm nghiệm Ông khẳng định chân giá trị của thời đại: “Đời nay nhân nghĩa tựa
vàng mười/ Có của thì hơn hết mọi lời” (Thơ Nôm, Bài 74); và chua chát nhận ra:
“Người của lấy cân ta thử nhắc/ Mới hay rằng của nặng hơn người”! Mọi sự đảo lộn trong thế cuộc, các giá trị luân thường đạo lý đã không còn được tôn trọng trước sức mạnh của đồng tiền: “Còn tiền còn bạc còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”
(Thơ Nôm, Bài 71) Ông không ngần ngại để kết luận: “Đồng xú nhật lưu tinh” (Hơi
đồng ngày càng tanh) (Cảm hứng, tam bách cú) Việc “xuất - xử”, ẩn cư hay ứng
thí giúp đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn chủ động bảo toàn danh tiết và chí khí Nhận
thấy thời cuộc xã hội Hơi đồng ngày càng tanh, ông trở lại quê nhà có điều kiện để
sống cuộc đời thanh bạch giản dị Tuyết Giang phu tử trước sau vẫn là bậc thầy cao khiết Việc ông khuyên bảo tập đoàn phong kiến như nhà Mạc hay Lê mục đích là tìm cách hòa hoãn những xung đột, tạm thời giảm bớt những đau khổ cho người dân Ông từng mơ nhiều về một xã hội “Dân Nghiêu Thuấn, vua Nghiêu Thuấn”, nhắc nhiều đến “Ngày Nghiêu Tháng Thuấn” là có lý do Sách vở Thánh hiền cùng
Trang 39với tháng ngày sống gần gũi với nhân dân lao động đã in đậm trong ông Nguyễn
Bỉnh Khiêm từng viết: “Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ” (Cao khiết ai là kẻ sĩ trong
thiên hạ), câu thơ như lời tự hỏi, tự trả lời và tự khẳng định Những cuộc tranh
giành ngôi vị, những cảnh loạn lạc đao binh, những ứng xử phân chia sang hèn… của mọi “thói đời” trong xã hội gần như đã lộ diện Nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều lần cất tiếng hỏi: “Đời nào phải Đường Ngu vũ trụ”, “Non sông nào thuở bình thời”… Những câu hỏi đặt ra là một sự chiêm nghiệm thời biến “đời nào”, “nào thuở” như một sự day dứt khôn nguôi về thế cuộc Nguyễn Bỉnh Khiêm sống và hoạt động trong thời đại có nhiều biến động của lịch sử Việt Nam Chính trong bối cảnh lịch sử - xã hội này đã tác động mạnh đến cảm quan sáng tác nghệ thuật của ông Cả cuộc đời, lớn lên, sống và làm việc dưới các triều đại, chứng kiến xã hội trải qua mọi biến thiên, đổi thay, nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi lại quãng đường đời đã qua bằng những vần thơ đầy suy nghiệm mang tư duy lý tính
1.2.2 Sự ảnh hưởng cảm hứng thế sự và tư duy lý tính từ thơ Nôm thế kỷ trước
Thế kỉ XVI ghi nhận bước phát triển của thơ Nôm Đường luật với Bạch Vân
quốc ngữ thi tập (BVQNTT) của Nguyễn Bỉnh Khiêm So sánh với hai tác phẩm thơ
Nôm Đường luật thế kỉ XV (QÂTT của Nguyễn Trãi và Hồng Đức QÂTT), quy mô
số lượng của BVQNTT không bằng Nhưng không vì thế mà dung lượng phản ánh của tác phẩm BVQNTT bị hạn chế Đến BVQNTT, tầm khái quát nghệ thuật của thơ
Nôm Đường luật được nâng lên một tầm cao mới Đề tài, chủ đề dân tộc trong
BVQNTT không đậm nét như trong thơ Nôm thế kỉ XV Nổi bật trong thơ Nôm của
Nguyễn Bỉnh Khiêm là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội Tư duy thế sự, tính chất triết lí trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông
gần “triết” và xa “thơ” hơn so với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Mặt khác, chất thế sự trong thơ đã đưa BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận cuộc sống vừa
cụ thể, sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn Ở BVQNTT, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã phát họa hiện thực cuộc sống đa dạng với các nghịch cảnh chua chát của thế sự nhân sinh trong dòng biến cải của cuộc thế nhân tình
Trang 40Dùng thơ Nôm Đường luật để trào phúng, manh nha có từ Nguyễn Trãi Đến
Hồng Đức quốc âm thi tập, hiện tượng này rõ nét hơn Tới Nguyễn Bỉnh Khiêm,
chức năng trào phúng của thơ Nôm Đường luật đã được khẳng định Bên cạnh hình ảnh một nhà Nho đạo đức mực thước, một triết gia lớn của thời đại, một bậc thầy đầy uy vọng, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mang bóng dáng thư thái thanh nhàn của một dật dân thích thảng nhìn thứ cuộc ưu du Điều này in đậm trong sáng tác nghệ thuật của ông khá rõ Thể hiện trong những vần thơ chữ Hán là cảm hứng chứa chan những “Cảm tác” sâu lắng của nhà Nho “ưu thời mẫn thế” trước thời đại đầy biến
động, ở BVQNTT lại ăm ắp những nghịch cảnh chua chát của “Thói đời” đen bạc
giữa chốn nhân sinh hỗn loạn Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong những vần thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng đã nhiều lần nhắc đến “thế tục”, “cõi trần” trong cảm hứng của nhà Nho canh cánh tấc lòng son về ơn vua nợ nước: “Một tấc lòng son còn nhớ
chúa/ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”(QÂTT) Trong thơ tiếng Việt Nguyễn Trãi, “thế tục” được nhắc đến sẽ là cảnh quê, núi quê, người quê… với tất cả những
hình ảnh gần gũi, thân thuộc, bình dị Sự xuất hiện hình ảnh bức tranh Việt Nam nơi
thôn dã trong thơ Quốc âm góp phần làm nên nét độc đáo cho thơ ca cổ điển Trong
bức tranh thôn dã đậm màu dân tộc ấy, ta bắt gặp hình ảnh thiên nhiên đặc sắc của nông thôn Việt Nam Nói như Lã Nhâm Thìn: “Có thể tìm thấy một cuốn bách khoa toàn thư về cây cỏ, muông thú, sản vật của thiên nhiên Việt Nam hết sức dân tộc và dân dã Những vật nhỏ mọn và bình thường như bè rau muống, luống mùng, lảnh mồng tơi, cây núc nác, con niềng niễng, củ ấu, củ khoai, hạt kê, hạt đậu, con đòng đong ” [62; 64] Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, thế tục được biểu hiện trong thơ Nôm
rõ hơn qua sự hiện diện màu sắc, hơi hướng “thinh thỉnh” của đồng tiền và đời sống vật chất đã làm biến đổi mọi giá trị đạo đức con người
Những hình ảnh lảnh mùng tơi, bè rau muống, vị núc nác vốn rất xa cách
với đời sống quý tộc, nhưng lại vô cùng gần gũi, thân thiết với nếp sống bình dân đã nghiễm nhiên đi vào địa hạt sang trọng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Khi ông đã
“lánh mình” khỏi chốn “hồng trần”, thực thụ “tiêu sái lòng ngoài thế”, về với Côn Sơn, thì dường như những “người bạn” bình dị nơi hương đồng cỏ nội mới thực sự