Ngôn ngữ học hiện đại xem nghĩa và những mối quan hệ về nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất, trong đó đáng quan tâm là nghĩa và các quan hệ về nghĩa của các đơn vị từ vựng.. Jo
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Các đơn vị từ vựng không tồn tại tách biệt, rời nhau mà luôn
có những mối quan hệ nhất định Điều đó làm cho từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp các từ và đơn vị tương đương với từ, mà còn là một hệ thống với những mối quan hệ nhất định Một trong những mối quan hệ
mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa)
Ngôn ngữ học hiện đại xem nghĩa và những mối quan hệ về nghĩa
là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất, trong đó đáng quan tâm là nghĩa và các quan hệ về nghĩa của các đơn vị từ vựng Hệ thống từ vựng được chia thành các trường nghĩa (trường từ vựng - ngữ nghĩa) việc nghiên cứu các trường từ vựng ngữ nghĩa sẽ tạo điều kiện cho việc nghiên cứu nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêng cũng như phục vụ tốt hơn cho mục đích giao tiếp
1.2 Lý thuyết về trường nghĩa là khái niệm được quan tâm nhiều trong truyền thống ngôn ngữ học ngoài nước và trong nước Trường nghĩa
là phương tiện hỗ trợ trong quá trình giao tiếp Để tìm ra nghĩa của từ ta cần đi từ hình thức của từ, tìm lời giải thích cho từ ấy Muốn vậy cần sử dụng đến trường nghĩa Như vậy, trường nghĩa giúp huy động từ ngữ để phục vụ cho việc tạo lập văn bản Trường nghĩa giúp lựa chọn những từ ngữ để diễn đạt đúng với nội dung cần diễn đạt
1.3 Nguyễn Duy được xem là hiện tượng thơ của những thập kỷ
70, 80 của thế kỷ XX trong văn học Việt Nam Nói về con người và thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhận xét: "Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc
trên đám đất hoang đó” (Báo Văn nghệ số 444/1972) Nguyễn Duy viết
nhiều và thơ ông gắn bó với cuộc đời và con người Thiên nhiên trong
Trang 2thơ Nguyễn Duy chính là cái nền cho con người hiện ra Con người trong thơ ông là người bà, người mẹ, người cha, người nông dân lam lũ và đồng đội ông - những người lính Thơ Nguyễn Duy đi từ quê ra phố, từ phố ra ngoài và quay trở lại với quê Hơn ai hết, Nguyễn Duy có cái ngang tàng, cái chiêm nghiệm đi cùng sự điềm tĩnh trong thơ Vì thế thơ ông cứ ngấm vào người đọc và có lúc khiến người ta phải giật mình suy
nghĩ Nguyễn Duy có rất nhiều bài thơ được bạn đọc yêu thích: Tre Việt nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đò Lèn, Ca dao vọng về, Lời ru đồng đội, Sông Thao, Em ơi gió Nguyễn Duy có sở trường và được đánh
giá cao trong thể thơ lục bát Thơ lục bát của Nguyễn Duy có phong cách hiện đại, câu thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ Ngôn ngữ thơ của ông vừa bình dị, hiện đại lại vừa mang tính cách tân, đổi mới Nguyễn Duy được giới phê bình đánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này
Từ những lý do trên chúng tôi xin được đề xuất nghiên cứu đề tài:
“Trường nghĩa thiên nhiên và con người trong thơ Nguyễn Duy qua tập thơ Ánh trăng và Cát trắng”
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về trường từ vựng
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về vấn đề trường nghĩa, nhưng đặc biệt có hai nhà ngôn ngữ học người Đức là J.Trier và L Weisgerber là những người đầu tiên đã đưa ra lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa Jos Trier cho rằng “ Trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa
từ riêng lẻ với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như quan hệ với trường của mình”(8;244) Ngoài ra còn có các
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu như F.De Saussure, M.M Pokrovxkij
và W.Poirzig, Herder (1972), Boas (1911) Whorf (1956), Kainz (1946),
Leise (1975)…
Trang 32.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam thì Đỗ Hữu Châu được xem là những người đặt những viên gạch đầu tiên và có nhiều công trình về lý thuyết trường nghĩa Định nghĩa trường nghĩa của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến
Năm 1973, Đỗ Hữu Châu có công trình nghiên cứu “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa” Trong công trình này Đỗ
Hữu Châu nêu ra các hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích các trường từ vựng
Bên cạnh đó có những nghiên cứu đáng chú ý của: Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thúy Khanh, Đinh Thị Oanh, Đỗ Việt Hùng
2.2 Lịch sử nghiên cứu về tác giả Nguyễn Duy
Có thể nói rằng từ những năm 70 của thế kỷ xx thơ Nguyễn Duy đã trở thành một hiện tượng và là đối tượng thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nguyễn Duy tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau (Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng ) Trong những bài nghiên cứu đánh giá, thẩm bình về thơ Nguyễn Duy, nhiều tác giả đã có những phát hiện về nét riêng độc đáo đối với từng tác phẩm của ông Đáng chú ý là những
nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu sau: Vũ Quần Phương cho là “tấm lòng thơm thảo, nhường cơm xẻ áo của nhân dân ta” [36, tr.154] Trịnh Thanh Sơn cho là “những thước phim quay chậm về nỗi gian truân của
người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã muốn trào nước mắt”)[40, tr.14];
Đỗ Lai Thúy thì cho là sự “giải cổ tích hóa”, là “cốt cách hiện đại” [49
,tr 379-384] Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm “nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người” [51, tr.7] Ngồi buồn nhớ mẹ
ta xưa, Đặng Hiển cho là “đã động thấu đến những tình cảm thiêng liêng
nhất, sâu xa nhất và thân thương nhất của chúng ta - tình cảm đối với
mẹ” [21, tr.34] Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã khẳng
định đó là những biểu hiện của “phẩm chất con người” [52, tr.289] Ngoài ra còn có rất nhiều các nghiên cứu của các tác giả khác
Trang 4Mặc dù thơ Nguyễn Duy đã được rất nhiều các nhà văn, phê bình quan tâm nghiêm cứu ở nhiều phương diện, thế nhưng từ góc độ ngôn ngữ học đặc biệt là trường nghĩa thì chưa được quan tâm nghiên cứu
Trên cơ sở lựa chọn đề tài “Trường nghĩa thiên nhiên và con người trong thơ Nguyễn Duy qua tập thơ Ánh trăng và Cát trắng”
Chúng tôi tập trung khảo sát và đi sâu vào việc tìm hiểu hình thức ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy một cách có hệ thống để làm nổi bật những nét cơ bản của hình thức ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm chỉ ra các trường nghĩa và giá trị của chúng trong thơ Nguyễn Duy
4 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Luận văn sẽ góp phần đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu phong cách của nhà thơ Nguyễn Duy trên một phương diện khác đó là “trường nghĩa”
- Góp phần hiểu thêm các tác phẩm văn học khác từ góc độ ngôn ngữ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các tài liệu về trường nghĩa của các nhà nghiên cứu
để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
- Miêu tả, phân tích và chỉ ra các giá trị cơ bản của các trường nghĩa trong thơ Nguyễn Duy
6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các trường nghĩa trong thơ Nguyễn Duy
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5Đề tài tập trung khảo sát các tập thơ Cát trắng (1973); Ánh trăng (1978); Để có thể có những đánh giá khách quan hơn về đối tượng đang nghiên cứu.
8 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thành luận văn chúng tôi thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp miêu tả
- Phương pháp thứ hai là phân tích ngữ cảnh
- Ngoài ra chúng tôi sử dụng một số thủ pháp: thống kê, phân loại, so sánh
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Trường nghĩa chỉ thiên nhiên và vai trò của chúng
trong thơ Nguyễn Duy qua tập thơ Ánh trăng và Cát trắng
- Chương 3: Trường nghĩa chỉ con người và vai trò của chúng
trong thơ Nguyễn Duy qua tập thơ Ánh trăng và Cát trắng
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 6Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về trường nghĩa
1.1.1.Quan niệm của các tác giả nước ngoài
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về trường nghĩa, sau đây là một số quan điểm đáng chủ ý:
1.1.1.1.Jos Trie
Là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ và khái niệm Trường nghĩa
vào ngôn ngữ học Jos Trier nghiên cứu những từ chỉ trí tuệ của tiếng
Đức cổ và chứng minh rằng những từ này làm thành một phạm vi từ vựng phụ thuộc lẫn nhau trong đó nghĩa của từ này có được là do từ
bên cạnh quyết định Phạm vi ngữ nghĩa này gọi là trường ngôn ngữ, trường khái niệm hay trường từ vựng Jos Trier cho rằng “Trong ngôn
ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ riêng lẻ với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như quan hệ với trường của mình”(8;tr244)
1.1.1.2.F De Saussure
Những nguyên lý của F De Saussure là tiền đề thúc đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lý thuyết về các trường nghĩa Ông đưa ra luận điểm “giá trị của bất kỳ yếu tố nào cũng do yếu tố xung quanh quyết định” …và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng”
1.1.1.3 M.M Pokrovxkij
Vào năm 1986, những tư tưởng về mối qua hệ về nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ được biết đến bởi nhà bác học người Nga M.M Pokrovxkij “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay sự trái ngược trực tiếp giữa chúng về nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng,
Trang 7chúng ảnh hưởng lẫn nhau Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau” Như vậy có thể thấy rằng M.M Pokrovxkij là người đầu tiên đặt nhiệm vụ nghiên cứu từ vựng một cách hệ thống
1.1.1.4 W Poirzig
Ông là nhà ngôn ngữ học người Đức đưa ra khái niệm về trường nghĩa dựa trên cơ sở các mối quan hệ về nghĩa giữa các cặp từ có quan hệ ngữ đoạn với nhau W.poirzig cũng là tác giả thứ nhất xây dựng nên những quan niệm về các trường tuyến tính Theo Poirzig, trường là những cặp có quan hệ kiểu như: “listen”-“ear” (“nghe”-“tai”), “smell”-
“nose” (“ngửi”-“mũi”), “keep”-“hand” (“cầm, giữ”-“tay”), “look”-“eyes” (“nhìn”-“mắt”)… đây không phải là những quan hệ chung nhất, những quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơ bản của ý nghĩa” Trung tâm của “các trường cơ bản của ý nghĩa” là các động từ, đó là những động từ
“tiền giả định” những chủ ngữ nhất định như (“sủa”-“chó”;
“nói”-“người”) Trung tâm của các từ cơ bản còn được gọi là tổ hợp danh từ - tính từ kiểu như: “black”-“hair” (“đen”-“tóc”), “blind”- “eyes” (“mù”-
“mắt”) Động từ và tính từ là trung tâm vì theo tác giả chúng thường đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu, do đó chúng thường ít nghĩa hơn các danh từ Ví dụ “đi” thì kết hợp với “chân’ nhưng “chân” thì có kết hợp với nhiều động từ khác nữa Mặc dù vậy Poirzig vẫn chưa đưa ra được những tiêu chí rành mạch để phân biệt được hiện tượng nhiều nghĩa của
từ
Trong nước ta, trường nghĩa cũng là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học nổi tiếng như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thái Hòa…Trong đó Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lý thuyết về trường nghĩa cũng như phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa Từ những năm 80 của thế kỷ trước, Nhà ngôn ngữ học
Đỗ Hữu Châu đã giới thiệu trường và đưa ra tiêu chí cũng như phương pháp xác lập trường trong nhiều công trình khoa học của mình Trải qua
Trang 8thực tế nghiên cứu, tác giả đã khẳng định: “Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ đơn lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa giữa chúng”(8, tr170) Đỗ Hữu Châu định nghĩa “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”(8, tr171) Với một số công trình khoa học tiêu
biểu, tác giả Đỗ Hữu Châu đã góp phần xây dựng cơ sở nền tảng cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt Căn cứ vào những điểm chung giữa các từ,
Đỗ Hữu Châu đã tiến hành phân lập toàn bộ từ vựng của tiếng Việt thành
hệ thống nhỏ hơn và tìm ra những quan hệ giữa các từ trong từ vựng Tác giả đồng thời đưa ra được những quan niệm về trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng
Đỗ Việt Hùng cũng đưa ra quan niệm về trường nghĩa như sau: “Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tập hợp thành trường nghĩa” (22, tr 227)
Trên đây là những quan điểm về về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ học thế giới và trong nước Trong luận văn này chúng tôi dùng quan điểm về trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho luận văn Có thể
thống nhất coi trường nghĩa là một nhóm, một tập hợp, một hệ thống…các từ có mối quan hệ nào đó với nhau về ngữ nghĩa làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ
1.2 Phân loại trường nghĩa
Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, F De Saussure đã chỉ
ra hai dạng quan hệ của hệ thống ngôn ngữ: Quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) Từ hai quan hệ này Đỗ Hữu Châu đã phân chia trường nghĩa làm 2 loại khác nhau: trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) và trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) Căn cứ vào
Trang 9loại ý nghĩa của từ, tác giả phân biệt trường nghĩa tiếng Việt thành các loại khác nhau như sau: trường nghĩa dọc bao gồm trường nghĩa biểu vật
và trường nghĩa biểu niệm; trường nghĩa ngang còn gọi là trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ
dọc và quan hệ ngang)
Trường nghĩa biểu vật là “một tập hợp những từ có cùng hạt nhân
về nghĩa biểu vật”(10;tr173)
1.2.1 Trường nghĩa biểu niệm
Đỗ Hữu Châu đã đưa ra quan niệm về trường biểu niệm: “Một trường biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” (8;244)
1.2.2 Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính (hay còn gọi là trường nghĩa ngang) là tập hợp tất cả các từ ngữ có thể kết hợp với từ ngữ nào đó được lấy làm gốc, làm thành một chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được một cách bình thường với người sử dụng ngôn ngữ Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính chúng ta cần chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính Ví dụ: trường tuyến
tính của từ mắt là bồ câu, một mí, trong xanh, nồng ấm, nhìn, liếc, chớp…
1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng
Theo nhà khoa học N.Chomsky, ngôn ngữ không chỉ có cấu trúc bề mặt mà còn có cấu trúc bề sâu Cấu trúc bề sâu đó chính là ý thức Đó
chính là lý do để xác lập trường nghĩa liên tưởng “Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất…có quan hệ liên tưởng với nhau” Ví dụ trường nghĩa liên tưởng của từ đỏ gồm các đơn vị từ vựng: lục, thẩm, đun, máu, lá cờ,
hi sinh, may mắn…
Trang 10
1.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa
1.3.1 Khái niệm sự chuyển trường nghĩa
Sự chuyển trường nghĩa là hiện tượng một từ ngữ thuộc một trường ý niệm này được chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác
Chẳng hạn như từ “cửa” là từ có nhiều nghĩa, ứng với mỗi nội dung mà từ tham gia vào câu nó có ý nghĩa khác nhau
1 Bộ phận của ngôi nhà (cửa sổ, cửa chính)
- Từ thuộc trường nghĩa sự vật, hiện tượng
2 Bộ phận của canh bạc (cửa trên, cửa dưới…)
- Từ thuộc trường nghĩa con người
3 Chỉ phần cuối của sông, biển ( cửa sông, cửa biển…)
- Thuộc trường thiên nhiên
Khi các từ chuyển nghĩa từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác, chúng mang theo những đặc điểm vốn có của nó ở trường nghĩa ban đầu
1.3.2 Các phương thức chuyển trường nghĩa
Như chúng ta biết, hiện tượng chuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ Vì vậy, phương thức chuyển trường nghĩa cũng chính là phương thức chuyển nghĩa của từ Trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới thường có hai phương thức chuyển trường nghĩa phổ biến là phương thức Ẩn dụ và Hoán dụ Sau đây chúng tôi sẽ trình bày quan niệm của Đỗ Hữu Châu:
sử dụng về sự tương đồng giữa các đối tượng Chẳng hạn:
Trang 11Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm 1.3.2.2 Hoán dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y song hành với nhau trong thực tế Chẳng hạn:
Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè
1.4 Những khái quát chung về nhà thơ Nguyễn Duy
1.4.1 Khái quát về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Duy
Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa
1.4.2 Sự nghiệp của Nguyễn Duy
Trong suốt 30 năm sáng tác của mình (1967-1997) Nguyễn Duy đã sáng tạo gần 20 tập thơ, bút ký và tiểu thuyết, tổ chức nhiều cuộc triển lãm và ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý do nhà nước phong tặng cho sự nghiệp lao động nghệ thuật của mình
Luận văn sẽ tìm hiểu hai tập thơ Ánh trăng và Cát trắng từ góc độ ngôn ngữ học, cụ thể là “Trường nghĩa thiên nhiên và con người qua hai tập thơ Ánh trăng và Cát trắng”
Tiểu kết
Trang 12Chương 2
TRƯỜNG NGHĨA CHỈ THIÊN NHIÊN VÀ VAI TRÒ
CỦA CHÚNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY QUA TẬP THƠ
ÁNH TRĂNG VÀ CÁT TRẮNG 2.1 Tiêu chí xác lập trường nghĩa Thiên nhiên trong thơ Nguyễn
Duy
Dựa vào lý thuyết trường nghĩa đã nêu ra trong chương một của luận văn, đồng thời xem xét các mối quan hệ ngữ nghĩa của các từ ngữ, chúng tôi phân lập chúng thành các tiểu trường nghĩa và các nhóm ngữ nghĩa nhỏ hơn
Sau khi tiến hành khảo sát 94 văn bản thơ trong hai tập Cát trắng (XB năm 1973) và Ánh trăng (XB năm 1984) của nhà thơ Nguyễn Duy
Các trường nghĩa thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy được xác lập thành
3 tiểu trường nghĩa bậc 1 và dựa vào 3 phạm trù lớn:
1- Tiểu trường nghĩa chỉ tên gọi các loại động - thực vật
2- Tiểu trường nghĩa chỉ các hiện tượng tự nhiên như mây, trời, sông, nước 3- Tiểu trường nghĩa chỉ các hiện tượng khí tượng và màu sắc thiên nhiên Trong mỗi tiểu trường nghĩa bậc 1 chúng tôi lại phân lập thành các tiểu trường bậc 2 và các nhóm từ ngữ cụ thể tùy vào hoàn cảnh cụ thể
2.2 Hệ thống các tiểu trường nghĩa thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy qua tâp thơ Ánh trăng và Cát trắng
2.2.1 Tiểu trường nghĩa chỉ tên gọi các loại động - thực vật của thiên nhiên
2.2.1.1 Tiểu trường: Thực vật