Chương 2. CÁC KIỂU CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
3.1. Hệ thống hình ảnh thể hiện các kiểu thời gian trong thơ
3.1.1. Hình ảnh mang nghĩa biểu trƣng
Sáng tạo hình ảnh mang nghĩa biểu trƣng hay biểu tƣợng thẩm mĩ là một yêu cầu của nghệ thuật nói chung. Yêu cầu này đã đƣợc đặt ra từ lâu trong lịch sử nghệ thuật nhân loại, trong mỗi nền văn học. Trong thơ Nguyễn Khuyến, bên cạnh những hình ảnh cụ thể, sinh hoạt mang hơi thở ấm áp của đời sống với vòng tuần hoàn của thời gian sáng, trƣa, chiều, tối hay cặp thời gian đối lập xuân – thu, đông – hè,... là những hình ảnh thơ đƣợc tạo nên mang nghĩa biểu trƣng đƣợc Nguyễn Khuyến sử dụng khá nhiều để biểu hiện các kiểu thời gian với những ứng xử của nhà thơ trước thế cuộc. Cơ sở để tạo nên những hình ảnh mang nghĩa biểu trƣng trong thơ Nguyễn Khuyến là hiện thực khách quan, gồm thế giới các hiện tƣợng tự nhiên, thế giới các vật thể nhân tạo và con người. Hầu hết, khi sử dụng đến những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trƣng về các cảm thức thời gian, Nguyễn khuyến sử dụng khéo léo và tinh tế những hình ảnh đặc biệt, mang nghĩa biểu trƣng quen thuộc với quy chuẩn của thơ ca trung đại.
Trong thơ ca trung đại đã có không ít tác giả sử dụng hình ảnh mang nghĩa biểu trưng khi nhắc đến giấc mộng Hoàng Lương hay giấc Nam Kha, những hình ảnh này đều mang ý nghĩa về sự vinh hoa, phú quý, công danh, hạnh phúc nhƣng những điều tốt đẹp ấy tưởng chừng là thật lại hóa ra chỉ là giấc mộng. Trong cổ thi, các thi gia thường nhìn nhận thời gian trôi qua như giấc mộng: Trăm năm một giấc kê vàng. Trong "Cung oán ngâm khúc", Nguyễn Gia Thiều đặt mình vào vị thế của người cung nữ ngẫm thời gian trôi: “Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không”; Tú Xương lại ngẫm ngợi cuộc đời mình đặt trong sự
“Lạc đường” cũng nhận ra cái “chập chờn” của thời gian: “Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn”. Trong những áng thơ chữ Hán chữ Nôm Nguyễn Khuyến, dòng thời gian hoài niệm, suy ngẫm về quá khứ đƣợc nhà thơ gửi gắm trong những hình
ảnh mang nghĩa biểu trƣng khá rõ để biểu thị cho cảm xúc hụt hẫng về “Một giấc hoàng lương thôi cũng mộng” của mình trước thời thế về một lý tưởng đẹp đã qua.
Việc vận dụng những biểu tƣợng thơ tiêu biểu góp phần thể hiện chiều sâu cảm thức của tác giả cũng nhƣ sự bộc lộ những nhận thức rất chân thật của tác giả trước dòng chảy thời gian, trước các sự kiện mà Nguyễn Khuyến là người chứng kiến. Trong việc sử dụng và biểu đạt các dạng cảm thức thời gian trong thơ, Nguyễn Khuyến đã sử dụng rất nhiều những hình ảnh tiêu biểu. Trong thơ chữ Hán, chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều những bài thơ có những ngữ liệu liên quan đến tuế nguyệt, niên, tứ thời (xuân hạ thu đông), bạch đầu (mái đầu bạc), tam thu (ba mùa thu), thu thanh (tiếng mùa thu), hiểu mai (cây mai buổi sớm), vãn thụ (cây chiều), thần chung (tiếng chuông buổi sáng), nhật mộ (chiều tối), Bùi viên (vườn Bùi)...
Trong thơ chữ Nôm thì xuất hiện những đại lượng biểu trưng cho thước đo thời gian như khắc, canh, mùa hè, mùa thu, tháng tư, trời hạ, tháng chạp, hai mươi bốn...Tất cả những hình ảnh đƣợc tác giả sử dụng với tƣ cách là những ngữ liệu biểu đạt thời gian góp phần thể hiện một cách cụ thể những cảm nhận về sự di chuyển, ảnh hưởng và tác động của thời gian trong thế giới nghệ thuật thơ Yên Đổ.
Theo thống kê trong số 166 bài thơ chữ Hán có đến 41 bài Nguyễn Khuyến thể hiện những xúc cảm, nhận thức của mình về các mùa trong năm nhƣ Thu sơn tiêu vọng (Đêm thu đứng trên núi trông), Thu dạ hữu cảm (Mối cảm đêm thu), Thu dạ châm thanh (Tiếng đập vải đêm thu), Hàm giang xuân thủy (Nước xuân trên sông Hàm), Xuân nhật thị nhi (Ngày xuân dạy con), Hạ nhật văn cô ác thanh (Ngày hè nghe tiếng chim cô ác),... Mùa thu là thời khắc có sức ám ảnh đối với Nguyễn Khuyến. Đó là lúc tác giả thực sự đối diện với chính bản thân mình một cách rõ ràng nhất.
Trong bài Thu dạ hữu cảm, tác giả viết:
Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh,
Độc tọa thư đường khán nguyệt minh.
Hà xứ thu phong xuy nhất diệp, Dẫn lai vô hạ cố viên tình.
Dịch thơ (Bốn mặt non sông phẳng lặng tờ,
Phòng văn tựa ghế ngắm gương nga.
Lá thu một chiếc bay trong gió, Khêu gợi bao nhiêu nỗi nhớ nhà).
Cùng với thời khắc mùa thu là những hình ảnh có liên quan nhƣ thu phong, minh nguyệt, độc tọa được tác giả sắp xếp liền kề nhau để tạo nên trường ngữ nghĩa để lột tả khoảnh khắc cô đơn, tư cố hương trong thời gian làm quan xa nhà của mình. Đó cũng là lúc mà tác giả muốn học theo Âu Dương Tu làm Thu thanh phú (Bài phú về tiếng thu) để bày tỏ nỗi lòng của cá nhân trước tình hình nguy cấp của đất nước. Trong Thu sơn tiêu vọng, Nguyễn Khuyến mượn hình ảnh “nhất đỉnh cô”
để thể hiện thế đứng của mình trước “bát diện thôn khư”:
Bát diện thôn khƣ nhất đính cô, Tài đăng vạn tƣợng nhập trung đô.
Phong khinh vân lộng Thường nga ảnh, Vụ tễ thiên cao Bắc đẩu khu.
Phẩm vật nhất thiên kim thế giới, Giang sơn tứ cố ngọc dƣ đồ.
Sương minh hà xứ thu thanh đáp, Hoán khởi u Dương táo tứ tô.
Trong hơi thu ấy, nhà thơ tự ví mình nhƣ một ngọn đỉnh cô lẻ loi giữa bát diện thôn khƣ (tám mặt xóm làng). Một ngụ ý khá vi tế, tác giả diễn tả rất rõ sự độc hành độc bộ của mình trên bước đường hoạn lộ lúc bấy giờ. Lẻ loi giữa xã hội đầy rẫy những “phường chèo, vai hề”, nhà thơ không tìm được tiếng nói chung nên đành đùa giỡn với Thường nga, khinh phong làm vui sống. Ông cũng nguyện mong mọi chuyện theo thời gian sẽ dần tan biến và sẽ kiến tạo nên một thế giới đầy vật phẩm đáng giá nghìn vàng như Âu Dương Tu cũng từng nguyện ước. Và vì thế, trong tâm khảm của nhà thơ việc treo ấn từ quan đã đƣợc định hình trong ý thức.
Những ý niệm, cảm thức về thời gian trong thơ chữ Hán còn đƣợc thể hiện qua các hình ảnh nhƣ tam thu, bạch đầu, hiểu mai, vãn thụ, nhật mộ (chiều tối),...
Mƣợn những hình ảnh mang nghĩa biểu trƣng, nhà thơ diễn tả các cung bậc cảm xúc qua những thời đoạn khác nhau trong dòng chảy cuộc đời. Ba mùa thu hiu hắt qua
đi cũng là thời gian nhà thơ cảm nhận sự lẻ loi, cảm giác cô đơn của người bị bỏ rơi giữa dòng đời:
Tiêu sắc tam thu hậu, Yêm yêm phế bất khai.
(Úy phế phiến)
Như đã biết, sau những tháng ngày chán ngán cảnh quan trường trước hiện thực rối ren tăm tối, điều đầu tiên Nguyễn Khuyến nghĩ đến và quyết chọn là cáo quan về quê cũ sống ẩn cư. Làng Bùi trở thành một địa danh lý tưởng để nhà thơ tìm về. Ngoài nghĩa thực địa danh làng Bùi, gắn với nhiều kỷ niệm hồi ức đẹp của nhà thơ, điệp khúc Bùi viên cố trạch, Bùi viên cựu trạch ca, Bùi viên đối ẩm trích cú ca, Uống rượu ở vườn Bùi… trở đi trở lại nhiều lần trong thơ ông như phát đi thông điệp về một miền ẩn dật đầy lý tưởng. Trong toàn bộ thi phẩm của mình, ông đã 28 lần nhắc đến ngữ liệu này bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau khi đƣợc diễn giải bằng thơ chữ Hán, lúc giãi bày bằng hình thức giản phác thơ Nôm. Nguyễn Khuyến dường như rất quấn quýt nơi này. Đây là hiện thân của quá khứ, của ký ức tươi đẹp, đồng thời cũng là nơi đại diện cho những hiện hữu đang bao bọc, chở che và sẻ chia cùng nhà thơ mọi cảm xúc ở thời điểm hiện tại và tương tai:
Bùi viên ngô cựu trạch,
Tứ thập niên kim nhật phú quy lai.
(Bùi viên cựu trạch ca) Vườn Bùi chốn cũ,
Bốn mươi năm lụ lụ lại về đây.
(Trở về vườn cũ) Túy ông chi ý bất tại tửu,
Nhi tại hồ sơn thủy chi gian.
(Bùi viên đối ẩm trích cú ca) Túy Ông ý chẳng say về rƣợu,
Say vì đâu, nước thẳm với non cao.
(Uống rượu ở vườn Bùi)
Cũng nhƣ trong thơ chữ Hán, trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến hình ảnh
mùa hè cũng là những dấu hiệu thường xuyên được lặp lại. Các mùa trong năm đƣợc biểu hiện trong thơ ca trung đại có những giá trị biểu cảm mang nghĩa biểu trƣng. Đối với từng nhà văn, việc cảm nhận từng mùa phụ thuộc vào xúc cảm cá nhân và từng thời đoạn lịch sử xã hội khác nhau. Thời gian mùa hè gắn liền với nỗi day dứt không yên nhƣ muốn vùng lên phá tung mọi rào cản của nhà thơ. Cái oi ngột vừa ngoại cảnh vừa nội tâm ấy cũng chính là hiện thực tâm trạng của nhà Nho Nguyễn Khuyến:
Biếng trông trời hạ nước non xa, Ý khí ngày thường nghỉ đã trơ.
Cá vượt khóm rau lên mặt nước, Bướm len lá trúc lượn rèm thưa.
Nhân hứng cũng vừa toan cất chén, Sấm đông rầm rập gió nồm đƣa.
(Vịnh mùa hè)
Khung cảnh sống động của ngày hè oi bức đƣợc tác giả thể hiện qua bốn động từ vượt và lên, len và lượn, với ba thanh nhập ở câu trên: vượt, mặt, nước đặt sát nhau, tả động tác nhảy vọt bất thần của cá và ba thanh êm nhẹ ở câu dưới: len, lá, lượn, tả động tác nhịp nhàng của bướm; câu thơ đầy hình ảnh và nhạc điệu, cảnh ngày hè có dấu hiệu âm thầm của một sự bứt phá bên trong. Hẳn là tâm trạng thi nhân đang có bao điều bất ổn nên cái không khí ngày hè nhƣ nung, nhƣ thiêu đốt tâm can cũng trở nên bức bối, ngột ngạt đến vô cùng.
Trong lịch sử tiếp nhận thơ Nguyễn Khuyến, bộ ba Thu điếu, Thu vịnh và Thu ẩm là những thi phẩm bất hủ về mùa thu của thơ cổ điển. Đóng góp nổi bật của Nguyễn Khuyến là đã vẽ lên sinh động bức tranh thu của làng quê Việt Nam. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nam khi bình về Thu điếu đã nhấn mạnh: “Có về thăm vườn Bùi (quê Nguyễn Khuyến)… mới hiểu rõ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Sao mà lắm ao thế… Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà bé tẻo teo. Sóng biếc gợn rất nhẹ. Khung ao tuy hẹp nhƣng làng cảnh cũng không thiếu không gian… trời thu xanh cao, đám mây đọng lơ lửng… các lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng tre đã kín lại…”
[41; tr.107]. Đây không chỉ là mùa thu của riêng miền quê Nguyễn Khuyến mà đã nâng lên thành mùa thu đẹp của làng cảnh Việt Nam. Bằng khả năng quan sát, miêu tả, Nguyễn Khuyến đã tái hiện một mùa thu nhƣ vốn có với những chi tiết, hình ảnh sát thực chứ không phải một mùa thu bị khuôn vào ý niệm của văn chương nhà nho.
Có một hình ảnh đầy ám ảnh về sự buồn đau, sâu lắng khắc khoải với cuộc đời được thể hiện trong thơ Nguyễn Khuyến, có thể kể đến hình ảnh “người say”. Nhà thơ đã dành 25/77 bài thơ Nôm của mình để nói đến trạng thái “say”. Có gì lạ về một bậc “danh sĩ lại ngà ngật trong tâm thế say”! Nhà Nho xƣa khi về với “mây ngàn hạc nội”, “uống rƣợu ngắm trăng” hòa vào thiên nhiên để quên thế tục, Nguyễn Khuyến cũng không ngoại lệ. Nhà Nho Nguyễn Khuyến về với vườn Bùi, chốn cũ làm một dật dân, hẳn cũng mƣợn “ánh trăng chén rƣợu” để bộc bạch nỗi lòng “con người thừa” trong xã hội. Nhiều lần nhà thơ cất lời tự biện hộ cho mình:
Không say thì tỉnh với ai mà. Trước sự đời nhiễu nhương của “buổi bạc tình”, các bậc Nho sĩ yêu nước đều có cùng tư tưởng “Thà đui mà giữ đạo nhà”, hay “Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ”. Men rƣợu có làm Nguyễn Khuyến thực sự say: “Túy ông ý chẳng say vì rượu, Say vì đâu nước thẳm với non cao” (Uống rượu ở vườn Bùi). Nhà thơ đúng là đang say, nhƣng không phải hơi men làm cho ông ngây ngất, nhà thơ đang say để quên đời, quên đi thực trạng đất nước, thực tại đang diễn ra trước mắt ông “vì đâu nước thẳm với non cao”. Hình ảnh “người say” trong thơ Nguyễn Khuyến là hình ảnh kẻ sĩ bất lực trước thời cuộc. Say mà tỉnh, tỉnh để nhận ra thế cuộc nhiễu nhương, đường đời biến loạn; tỉnh rồi say để quên đi thực tại con người lực bất tòng tâm trước thời cuộc.
Những hình ảnh biểu trƣng trong thơ đƣợc Nguyễn Khuyến khai thác một cách rất hợp lý trên hai hình thức ngôn ngữ Hán và Nôm. Điều này phần nào đã thể hiện rõ tài năng của nhà thơ kép Hán-Việt và sự cảm nhận của nhà thơ khi viết về thời gian nhƣ là một cách cảm nhận dòng chảy của cuộc sống, của sự những sự kiện gắn liền với cuộc đời của mình. Mƣợn những hình ảnh mang nét nghĩa biểu trƣng, nhà thơ Nguyễn Khuyến phần nào bộc lộ được nỗi niềm kín đáo của ông trước hiện thực cuộc sống xã hội đương thời.