Lựa chọn phương pháp lựa chọn thị trường mục tiêu

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 36 - 39)

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA NGÀNH HÀNG

1.2. Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới

1.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu

1.2.2.3. Lựa chọn phương pháp lựa chọn thị trường mục tiêu

Trước  hết,  trong  luận  án  này  sử  dụng  cách  tiếp  cận  hệ  thống  khi  lựa  chọn  (tuyển chọn) thị trường mục tiêu để thâm nhập. Theo cách tiếp cận này, chúng ta có  thể  sử  dụng  phương  pháp  phân  nhóm  hoặc  xếp  hạng  các  quốc  gia,  tuy  nhiên  hai  phương  pháp  này  mặc  dù  có  rất  nhiều  điểm  mạnh,  nhưng  hạn  chế  của  những  phương pháp này là dựa vào những tiêu chí tổng thể, tiêu chí vĩ mô để lựa chọn thị  trường mục tiêu và các tiêu chí về ngành hàng, về sản phẩm cụ thể thường ít được  chú trọng. Điều này cũng dễ dàng lý giải  bởi lẽ những tiêu chí  về ngành hàng, về  sản phẩm cụ thể thường không có số liệu thứ cấp và chi phí thu thập những số liệu  này rất  cao  và  tốn nhiều  thời  gian. Mặt  khác,  trong  các phương pháp  trên,  đơn  vị  nghiên cứu thị trường là mỗi quốc gia. Hay nói cách khác, mỗi quốc gia được cho là  một  thể  thống nhất  và khi  đó những  khác biệt  về  tiêu  dùng,  thị  hiếu…  của người  tiêu dùng trong một quốc gia hoàn toàn không được đề cập đến. 

Một hạn chế quan trọng nữa của những phương pháp trên là khi lựa chọn thị  trường mục tiêu, thường sử dụng rất nhiều những biến số thuộc môi trường vĩ mô  để đo lường về nhu cầu của thị trường. Hay nói cách khác khi sử dụng các phương  pháp này, chúng ta phải chấp nhận một giả định ẩn là nhu cầu của một ngành hàng  cụ thể có thể dự đoán được từ những số liệu thống kê ở cấp độ quốc gia. 

Những biến  số  ảnh hưởng đến quy  mô  của  thị  trường  có  thể  là  văn hóa,  cấu  trúc xã hội, mức độ phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật,… [34], nhưng chúng ta  biết rất ít về mức độ tác động của những biến số này đến quy mô của thị trường, đến  dung lượng của thị trường. 

Những nhà nghiên cứu về marketing cho rằng văn hóa là một trong những yếu  tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng và là một biến số quan trọng để phân  nhóm thị trường thế giới [22], [37], [30]. Nhưng văn hóa là một biến số rất khó sử  dụng để phân khúc thị trường. Do đó trong phân khúc thị trường quốc tế những yếu  tố như cấu trúc xã hội, hệ thống giáo dục, mức sống được sử dụng như là những yếu  tố phản ánh về văn hóa. Tuy nhiên vẫn có rất ít những lý thuyết cung cấp cơ sở xác

đáng  về  sự  tác  động  của  những  biến  số đại  diện này  đến  quy  mô  thị  trường,  đặc  điểm thị trường, đến sự thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng như thế nào. 

Chẳng hạn, chúng ta thường hay sử dụng trình độ học vấn là biến số đại diện  cho  yếu  tố  văn  hóa,  biến  số  này  có  thể  ảnh  hưởng  đến  hành  vi  mua  sắm,  nhưng  không cho chúng ta biết nhiều về nhu cầu của một hàng hóa cụ thể thay đổi như thế  nào khi trình độ học vấn thay đổi. 

Biến  số  trong  nhóm  thứ  hai  thường  được  các  phương  pháp  trên  sử  dụng  để  phân nhóm thị  trường quốc tế hoặc để xếp hạng các quốc gia là những biến số đo  lường mức độ phát triển kinh tế. Sự phát triển kinh tế thường gắn với gia tăng thu  nhập đầu người, với công nghiệp hóa, sự thay đổi trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập  khẩu, sự dịch chuyển nguồn lực từ nông nghiệp sang công nghiệp và tích lũy tài sản  vật chất, nguồn nhân lực. Sự phát triển kinh tế cũng dẫn đến những quá trình biến  đổi  kinh  tế  xã hội  chẳng hạn như đô  thị hóa, thay  đổi  về nhân  khẩu học,  thay  đổi  trong phân phối thu nhập và thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp. 

Tuy  nhiên  có  rất  ít  bằng  chứng  chứng minh  sự  thay  đổi  về nhu  cầu  của một  sản  phẩm  hoặc  dịch  vụ  cụ  thể,  thay  đổi  về  quy  mô  thị  trường  là  kết  quả  của  quá  trình phát triển kinh tế. Chỉ có bằng chứng duy nhất khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ  chi  tiêu  cho  tiêu  dùng  lương  thực  sẽ  giảm  đi  so  với  tổng  chi  tiêu  (theo  quy  luật  Engel) và từ đó giải phóng nguồn lực để đầu tư và tiêu dùng những hàng hóa khác. 

Như vậy, hạn chế chính của các phương pháp này là các chỉ  số, biến số hay  các  yếu  tố  được  sử dụng để đo  lường mức độ  tiềm năng  (mức hấp dẫn) hoặc quy  mô, dung lượng của thị  trường. Việc sử dụng một hoặc hai biến số (ví dụ:  kinh tế  hoặc văn hóa) và sau đó các nghiên cứu khác đã cải  tiến hơn bằng cách đưa thêm  nhiều biến số hơn cũng không thể đại  diện cho toàn bộ các  yếu tố ảnh hưởng đến  quyết định mua sắm của người mua. Hay nói cách khác chưa có nhiều bằng chứng  thực  nghiệm cho  thấy  sự  tác  động  của những  biến  số  này  đến  sự  thay  đổi về nhu  cầu, cấu trúc thị trường của những sản phẩm, dịch vụ cụ thể… 

Do  thiếu  những  bằng  chứng  thực  nghiệm  xác  đáng  chứng  minh  các  biến  số  trên tác động đến nhu cầu, quy mô thị trường, theo tác giả  quá trình phân nhóm  thị trường thế giới hoặc xếp hạng giữa các quốc gia có thể gặp phải hai hạn chế

nghiêm trọng sau: (1) Việc lựa chọn các biến số sử dụng để phân nhóm hoặc xếp  hạng thường theo hướng trực giác, dựa vào phán đoán chủ quan của người nghiên  cứu;  (2) một  số lượng lớn các biến số phản ánh các môi  trường của quốc gia như  môi trường kinh tế, luật pháp, văn hóa sẽ được sử dụng làm biến số để phân nhóm  thị trường quốc tế hoặc xếp hạng giữa các quốc gia. 

Trong  khi  đó  khi  xác  định,  lựa  chọn  thị  trường mục  tiêu,  các nhà marketing  quốc tế rất quan tâm đến quy mô thị trường của các quốc gia nhập khẩu  cũng như  giá  các  quốc  gia  có  thể nhập khẩu  thay  đổi  như  thế nào qua  từng nhóm quốc  gia,  những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự thay đổi này và mức độ ảnh hưởng ra sao. Khi  xác định được những yếu tố quan trọng tác động đến sự thay đổi quy mô thị trường  của các quốc gia, đến giá nhập khẩu của các quốc gia, khi đó việc phân nhóm các  quốc gia theo những yếu tố này mới có ý nghĩa và có tác dụng đối với các công ty  quốc tế.

Do đó, để khắc phục những hạn chế trên khi xác định, lựa chọn thị trường mục  tiêu, trong luận án này tác giả sẽ cố gắng tìm kiếm những biến số nào tác động  có ý nghĩa về mặt thống kê đến quy mô thị trường của ngành hàng chè trên thế  giới,  đến  giá  chè  nhập  khẩu  của  các  quốc  gia  nhập  khẩu.  Để  xác  định  được  những  biến  số  tác  động  có  ý  nghĩa  thống  kê,  đầu  tiên,  danh  sách  những  biến  số  thường được sử dụng để phân nhóm, xếp hạng các thị  trường quốc tế sẽ được thu  thập. Kế tiếp sử dụng phân tích hồi quy, trong đó số lượng nhập khẩu chè, giá chè  nhập khẩu là biến phụ thuộc và các biến số đặc điểm quốc gia và ngành hàng là các  biến giải thích. Mức ý nghĩa thống kê 10% của từng biến giải thích trong phân tích  hồi  quy  được  sử  dụng  làm  tiêu  chí  xác  định  xem  biến  số  đó  có  tác  động  đến  số  lượng nhập khẩu, giá nhập khẩu của mỗi quốc gia hay không. 

Sau khi xác định được những biến số tác động lên quy mô thị trường, đến giá  nhập khẩu chè, sẽ tiến hành phân nhóm các quốc gia nhập khẩu theo những biến số  này bằng thủ tục phân cụm thứ bậc tích tụ. 

Chi tiết các bước triển khai được trình bày tại Phụ lục 12.

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 36 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)