CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới
2.1.2. Tình hình sản xuất, xuất khẩu chè và phân tích lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè
2.1.2.3. Phân tích lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè
Trong mục 1.2.3.2của chương trước đã đề cập chi tiết các bước tiến hành để phân tích, xác định lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè. Theo đó,
1 Các số liệu về thị phần là số liệu tính trung bình trong giai đoạn 20052009.
trước tiên các quốc gia xuất khẩu chè được tiến hành phân nhóm theo các tiêu chí về quy mô sản lượng xuất khẩu và giá chè xuất khẩu của từng quốc gia và phân theo từng loại chè. Kế tiếp các quốc gia xuất khẩu chè được phân nhóm theo tiêu chí có trồng chè hay không. Việc phân nhóm như vậy nhằm xác định những đặc trưng khác biệt về lợi thế cạnh tranh giữa các nhóm quốc gia xuất khẩu chè. Sau khi nhận dạng những biến số có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm quốc gia xuất khẩu, tiến hành phân tích cụm để phân nhóm các quốc gia xuất khẩu chè (chi tiết kết quả phân tích, xem Phụ lục 4). Kết quả tóm tắt cụ thể như sau:
Qua phân tích cho thấy lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau.
Những quốc gia xuất khẩu có ưu thế về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu trong việc trồng chè, rất có lợi thế cạnh tranh về giá và quy mô sản lượng xuất khẩu, nhất là đối với sản phẩm chè dạng rời, chè nguyên liệu. Tuy nhiên đối với những quốc gia xuất khẩu chè nếu chỉ có duy nhất lợi thế ở khía cạnh tự nhiên này mà không tạo ra được các lợi thế cạnh tranh từ các yếu tố khác, thông thường chỉ xuất khẩu các loại chè nguyên liệu, giá thấp và hiệu quả xuất khẩu không cao bằng những nước xuất khẩu các sản phẩm chè có hàm lượng gia tăng cao hơn. Điều này được minh chứng rõ ràng qua trường hợp của Anh, Đức. Đây là hai quốc gia không trồng một ha chè nào, nhưng lại là 2 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu chè đứng thứ 5, 6 trên thế giới.
Qua phân tích cho thấy, những quốc gia xuất khẩu sản phẩm chè đóng gói dưới 3kg, có thương hiệu, có giá cao thường là những quốc gia có năng lực cạnh tranh chung của quốc gia tốt hơn, mức độ tự do của nền kinh tế cao hơn. Hơn nữa, đối với những quốc gia xuất khẩu có các thị trường (hàng hóa, lao động, tài chính) phát triển, hoạt động hiệu quả hơn, với môi trường hoạt động kinh doanh hiệu quả và cạnh tranh như vậy sẽ giúp các công ty hoạt động tại những quốc gia này năng động hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đồng thời kết hợp với mức sẵn có của khoa học công nghệ cao hơn, sẽ giúp cho quốc gia đó có điều kiện để phát triển các mặt hàng chè tinh chế, chế biến sâu hơn, phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm có thương hiệu. Ngoài ra khi thu nhập của người dân trong nước tăng lên, người tiêu dùng trong nước trở nên khắt khe hơn, sành điệu hơn buộc
các công ty trong nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng, đặc điểm của sản phẩm. Do đó những công ty tại những quốc gia đó có ưu thể cung cấp những sản phẩm hoàn chỉnh (chè đóng gói) hơn là những sản phẩm thô (chè nguyên liệu) và từ đó xuất ra trên thị trường thế giới có giá cao hơn.
Như vậy, chúng ta thấy rằng những quốc gia không trồng chè (nghĩa là không có những ưu thế về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, hoặc cây chè không hiệu quả bằng các cây trồng hoặc mục đích sử dụng đất khác…), nhưng những quốc gia này có những lợi thế cạnh tranh khác có thể là năng lực cạnh tranh chung của quốc gia tốt hơn, tính hiệu quả của các thị trường tốt hơn, các yếu tố về thể chế tốt hơn, tính sẵn có của công nghệ nhiều hơn, sự hỗ trợ của cầu nội địa,… giúp cho các doanh nghiệp của quốc gia này có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới hơn. Kết quả là những quốc gia này xuất khẩu ở tất cả các mặt hàng chè đều có giá cao hơn, đặc biệt là những mặt hàng chè đã chế biến sâu, có thương hiệu, chè đặc sản, đóng gói dưới 3kg.
Ngoài ra, những quốc gia xuất khẩu chè có lợi thế về mặt tự nhiên nhưng nếu kết hợp được với những lợi thế cạnh tranh khác như là năng lực cạnh tranh chung của quốc gia, tính hiệu quả của các thị trường, môi trường cạnh tranh tốt, sự hỗ trợ của ngành công nghiệp chế biến, đóng gói, tùy theo mức độ kết hợp sẽ rất có lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Chẳng hạn như Sri Lanka là quốc gia có được lợi thế cạnh tranh về mặt tự nhiên, ngoài ra kết hợp với sự hỗ trợ của ngành chế biến, đóng gói… hoàn chỉnh, Sri Lanka là quốc gia xuất khẩu chè có kim ngạch lớn nhất trên thế giới, sản phẩm chè xuất khẩu đa dạng, có thương hiệu, có giá trị gia tăng cao mặc dù không phải là quốc gia có khối lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Qua phân tích cho thấy trong ngành chè, để tạo dựng lợi thế cạnh tranh của một quốc gia xuất khẩu chè, có thể tác động từ rất nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn như Việt Nam, hiện có lợi thế tự nhiên trong việc trồng chè, nếu chúng ta cải thiện được năng lực cạnh tranh chung của quốc gia, phát triển ngành công nghiệp chế biến chè, đóng gói, tính hiệu quả của các thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm… chắc chắn sẽ dần nâng cao được lợi thế cạnh tranh của chè Việt Nam trên thị trường thế giới.
Tiếp theo, sau khi tiến hành thủ tục phân cụm thứ bậc tích tụ dựa vào phương sai (thủ tục Ward) với thước đo khoảng cách Euclid được thực hiện, các quốc gia xuất khẩu chè được phân thành 8 nhóm (xem Bảng 23). Mỗi nhóm quốc gia như vậy có những lợi thế cạnh tranh riêng, sau đây giới thiệu tóm tắt đặc trưng của các nhóm quốc gia xuất khẩu chè (số liệu chi tiết về đặc điểm của các nhóm quốc gia xuất khẩu, xem Phụ lục 11).
ã Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố lớn trờn thế giới
Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè lớn trên thế giới bao gồm Nhóm 7 và Nhóm 8. Đây là hai nhóm tập trung những quốc gia xuất khẩu chè chủ yếu trên thế giới và chiếm tỷ lệ về sản lượng xuất khẩu đứng hàng đầu trên thế giới. Cụ thể Nhóm 8 (bao gồm duy nhất quốc gia Kenya) chiếm đến 21,41% sản lượng xuất khẩu chè của toàn thế giới, Nhóm 7 (bao gồm 3 quốc gia: Sri Lanka, Trung Quốc và Ấn Độ) chiếm đến 47,04% sản lượng xuất khẩu chè của toàn thế giới.
Nếu coi năng suất bình quân là chỉ số tổng hợp phản ánh lợi thế về mặt tự nhiên như đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, giống chè… đây là 2 nhóm quốc gia xuất khẩu có mức lợi thế về mặt tự nhiên cao nhất trong số các quốc gia xuất khẩu chè (xem Bảng 24), do đó rất dễ hiểu đây là 2 nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè cao nhất thế giới.Tuy nhiên sự khác biệt căn bản giữa hai nhóm 7 và 8 là cơ cấu các loại chè xuất khẩu. Trong cơ cấu xuất khẩu chè của Nhóm 8, loại chè xuất khẩu chủ yếu của nhóm này là chè dạng rời (chiếm trên 99%). Trong khi đó sản phẩm chè xuất khẩu của Nhóm 7 có sự đa dạng hơn, chè dưới 3kg đạt trung bình là 31,69%
trong cơ cấu xuất khẩu chè của nhóm này.
Như vậy mặc dù Nhóm 8 có lợi thế về mặt tự nhiên hơn Nhóm 7, nhưng do các quốc gia xuất khẩu chè trong Nhóm 7 đã có sự kết hợp những lợi thế về mặt tự nhiên với những lợi thế khác như là năng lực cạnh tranh chung của quốc gia, có sự hỗ trợ về cầu trong nước tốt hơn (xem Phụ lục 11), nên các quốc gia trong Nhóm 7 có sự đa dạng hóa về sản phẩm và xuất khẩu các sản phẩm chè giá trị gia tăng cao hơn Nhóm 8. Kết quả là giá xuất khẩu chè trung bình của Nhóm 7 cao hơn Nhóm 8.
Bảng 23: Danh sách các quốc gia xuất khẩu chè theo từng nhóm
1 2 3 4 5 6 7 8
Úc Đan Mạch Argentina Azerbaijan Chi Lê Hungary Sri Lanka Kenya
Áo Pháp Bangladesh Brazil Cộng hòa Séc Ý Trung Quốc
Bỉ Nhật Ecuador El Salvador Israel Côte d'Ivoire Ấn Độ
Canada Thụy Điển Ethiopia Georgia Hàn Quốc Kazakhstan
Đức Thụy Sĩ Iran Guatemala Malaysia Kyrgyzstan
Hồng Kông Madagascar Jordan Oman Lithuania
Ireland Malawi Mexico Ba Lan Nga
Macao Ma rốc Việt Nam Romania Ả rập Saudi
Hà Lan Mozambique Thái Lan Nam Phi
Singapore Niger Thổ Nhĩ Kỳ Tây Ba Nha
UAE Pakistan Uganda Kuwait
Anh quốc Rwanda Zambia
Mỹ Zimbabwe Yemen
Syria Ai Cập
Tanzania Burundi Nguồn: Tác giả tính toán
Bảng 24: Một số đặc điểm của các nhóm quốc gia xuất khẩu chè Nhóm
quốc gia XK
Một số chỉ tiêu định lượng Một số chỉ tiêu định tính Tỷ trọng
sản lượng (%)
Năng suất (tấn/ha)
Giá XK (USD/kg)
Quy mô xuất khẩu
Lợi thế về mặt tự
nhiên
Giá xuất khẩu Nhóm 7 47,04 1,35 2,62 Lớn nhất Cao Trung bình
Nhóm 8 21,41 2,22 2,08 Lớn Cao Thấp
Nhóm 3 11,96 1,13 2,22 Trung bình Trung bình Thấp Nhóm 4 8,96 1,01 2,54 Trung bình Trung bình Trung bình
Nhóm 1 7,90 0 5,70 Trung bình Thấp Cao
Nhóm 5 1,43 0,52 6,40 Thấp Thấp Cao
Nhóm 6 0,80 0,39 5,94 Thấp Thấp Cao
Nhóm 2 0,45 0,09 14,11 Thấp nhất Thấp Cao nhất Ghi chú: các số liệu được tính trung bình trong giai đoạn 20052009
Nguồn: Tác giả tính toán
ã Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố trung bỡnh trờn thế giới Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè trung bình bao gồm 3 nhóm, đó là Nhóm 1, 3 và 4. Trong đó các quốc gia trong Nhóm 1 mặc dù không phải là các quốc gia trồng chè nhưng lại là nhóm có sự hỗ trợ từ phía cầu (mức tiêu thụ chè bình quân đầu người cao nhất)(xem Phụ lục 11) và đã có sự kết hợp những lợi thế cạnh tranh khác nên chủ yếu nhập khẩu chè nguyên liệu để chế biến và tái xuất các sản phẩm chè thành phẩm, nên giá xuất khẩu trung bình ở mức cao.
Nhóm 3 và 4 là nhóm có lợi thế về mặt tự nhiên ở mức trung bình, tuy nhiên về mặt lợi thế tự nhiên thì Nhóm 3 có cao hơn Nhóm 4 một phần (thể hiện qua năng suất bình quân cao hơn) do đó cũng dễ hiểu khi quy mô xuất khẩu của nhóm 3 cao hơn nhóm 4. Tuy nhiên các quốc gia trong nhóm 4, kết hợp các lợi thế cạnh tranh khác như mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, tính hiệu quả của các thị trường, mức độ tự do kinh tế cao hơn nên giá xuất khẩu trung bình của Nhóm 4 cao hơn Nhóm 3.
ã Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố thấp trờn thế giới
Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè thấp bao gồm 3 nhóm, đó là Nhóm 2, 5 và 6. Các quốc gia xuất khẩu trong Nhóm 2 mặc dù có lợi thế tự nhiên rất thấp,
nhưng lại là nhóm có giá xuất khẩu cao nhất. Các nhóm quốc gia trong nhóm 2 có GDP bình quân đầu người cao nhất so với các nhóm còn lại, có mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, tự do kinh tế, mức hiệu quả của các thị trường… ở mức cao nhất hoặc gần cao nhất so với các nhóm còn lại, điều này đã tạo nên lợi thế cạnh tranh rất lớn cho các quốc gia trong nhóm này (xem Phụ lục 11).
Tương tự như vậy các quốc gia trong Nhóm 5 và 6, mặc dù không có nhiều lợi thế về mặt tự nhiên, do đó quy mô xuất khẩu của các nhóm này đạt thấp, nhưng bù lại các quốc gia trong các nhóm này kết hợp được với các yếu tố lợi thế cạnh tranh khác nên mức giá xuất khẩu của những quốc gia này luôn đạt mức cao. Trong đó các quốc gia trong Nhóm 5 kết hợp các yếu tố cạnh tranh tốt hơn nên mức giá xuất khẩu cao hơn Nhóm 6 (xem Phụ lục 11).