Phân tích lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 79 - 85)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới

2.1.2. Tình hình sản xuất, xuất khẩu chè và phân tích lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè

2.1.2.3. Phân tích lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè

Trong mục 1.2.3.2của chương trước đã  đề cập chi  tiết  các bước tiến hành để  phân  tích,  xác  định  lợi  thế  cạnh  tranh  của  các  quốc  gia  xuất  khẩu  chè.  Theo  đó, 

1 Các số liệu về thị phần là số liệu tính trung bình trong giai đoạn 2005­2009.

trước tiên các quốc gia xuất khẩu chè được tiến hành phân nhóm  theo các tiêu chí  về quy mô sản lượng xuất khẩu và giá chè xuất khẩu của từng quốc gia và phân theo  từng loại chè. Kế tiếp các quốc gia xuất khẩu chè được phân nhóm theo tiêu chí có  trồng  chè  hay  không.  Việc  phân  nhóm  như  vậy  nhằm  xác  định  những  đặc  trưng  khác biệt về lợi thế cạnh tranh giữa các nhóm quốc gia xuất khẩu chè. Sau khi nhận  dạng  những biến  số  có  sự  khác biệt  có ý nghĩa  thống  kê  giữa  các nhóm  quốc  gia  xuất khẩu, tiến hành phân tích cụm để phân nhóm các quốc gia xuất khẩu chè (chi  tiết kết quả phân tích, xem Phụ lục 4). Kết quả tóm tắt cụ thể như sau: 

Qua phân tích cho thấy lợi thế cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu chè được  cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau. 

Những quốc gia xuất khẩu có ưu thế về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu trong việc  trồng chè, rất có  lợi thế cạnh tranh về giá và quy mô sản lượng xuất khẩu, nhất  là  đối với sản phẩm chè dạng rời, chè nguyên liệu. Tuy nhiên đối với những quốc gia  xuất khẩu chè nếu chỉ có duy nhất lợi thế ở khía cạnh tự nhiên này mà không tạo ra  được các lợi thế cạnh tranh từ các yếu tố khác, thông thường chỉ xuất khẩu các loại  chè nguyên liệu, giá thấp và hiệu quả xuất khẩu không cao bằng những nước xuất  khẩu các sản phẩm chè có hàm lượng gia tăng cao hơn. Điều này được minh chứng  rõ ràng qua trường hợp của Anh, Đức. Đây là hai quốc gia không trồng một ha chè  nào, nhưng lại là 2 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu chè đứng thứ 5, 6 trên thế giới. 

Qua  phân  tích  cho  thấy,  những  quốc  gia  xuất  khẩu  sản  phẩm  chè  đóng  gói  dưới  3kg,  có  thương hiệu,  có  giá  cao  thường là những  quốc gia có năng  lực  cạnh  tranh chung của quốc gia tốt hơn, mức độ tự do của nền kinh tế cao hơn. Hơn nữa,  đối với những quốc gia xuất khẩu có các thị trường (hàng hóa, lao động, tài chính)  phát triển, hoạt động hiệu quả hơn, với môi trường hoạt động kinh doanh hiệu quả  và cạnh tranh như vậy sẽ giúp các công ty hoạt động tại những quốc gia này năng  động hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đồng thời kết hợp  với mức sẵn có của khoa học công nghệ cao hơn, sẽ giúp cho quốc gia đó có điều  kiện để phát  triển các mặt hàng chè tinh chế, chế biến sâu hơn, phát triển các sản  phẩm  mới,  sản  phẩm  có  thương  hiệu.  Ngoài ra  khi  thu  nhập  của  người  dân  trong  nước tăng lên, người tiêu dùng trong nước trở nên khắt khe hơn, sành điệu hơn buộc

các công ty trong nước phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng, đặc điểm  của  sản  phẩm.  Do  đó  những  công  ty  tại  những  quốc  gia  đó  có  ưu  thể  cung  cấp  những sản phẩm hoàn chỉnh (chè đóng gói) hơn là những sản phẩm thô (chè nguyên  liệu) và từ đó xuất ra trên thị trường thế giới có giá cao hơn. 

Như vậy, chúng ta thấy rằng những quốc gia không trồng chè (nghĩa là không  có những ưu thế về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, hoặc cây chè không hiệu quả bằng  các  cây  trồng  hoặc  mục đích  sử  dụng đất  khác…),  nhưng những quốc gia  này  có  những lợi thế cạnh tranh khác có thể là năng lực cạnh tranh chung của quốc gia tốt  hơn, tính hiệu quả của các thị trường tốt hơn, các yếu tố về thể chế tốt hơn, tính sẵn  có của công nghệ nhiều hơn, sự hỗ trợ của cầu nội địa,… giúp cho các doanh nghiệp  của quốc gia này có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới  hơn. Kết quả là những quốc gia này xuất khẩu ở tất cả các mặt hàng chè đều có giá  cao hơn, đặc biệt là những mặt hàng chè đã chế biến sâu, có thương hiệu, chè đặc  sản, đóng gói dưới 3kg. 

Ngoài ra, những quốc gia xuất khẩu chè có lợi thế về mặt tự nhiên nhưng nếu  kết hợp được với những lợi  thế cạnh tranh khác như là năng lực cạnh tranh chung  của quốc gia, tính hiệu quả của các thị trường, môi trường cạnh tranh tốt, sự hỗ trợ  của ngành công nghiệp chế biến, đóng gói, tùy theo mức độ kết hợp sẽ rất có lợi thế  cạnh tranh trên thị trường thế giới. Chẳng hạn như Sri Lanka là quốc gia có được lợi  thế cạnh tranh về mặt tự nhiên, ngoài ra kết hợp với sự hỗ trợ của ngành chế biến,  đóng gói… hoàn chỉnh, Sri Lanka là quốc gia xuất khẩu chè có kim ngạch lớn nhất  trên thế giới, sản phẩm chè xuất  khẩu đa dạng, có thương hiệu, có giá trị  gia tăng  cao mặc dù không phải là quốc gia có khối lượng xuất khẩu lớn nhất thế giới. 

Qua phân  tích  cho  thấy  trong ngành  chè, để  tạo dựng  lợi  thế  cạnh  tranh  của  một quốc gia xuất khẩu chè, có thể tác động từ rất nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng  hạn như Việt  Nam, hiện có lợi thế tự nhiên trong việc trồng chè, nếu chúng ta cải  thiện được năng lực cạnh tranh chung của quốc gia, phát  triển ngành công nghiệp  chế biến chè, đóng gói, tính hiệu quả của các thị  trường, nâng cao chất lượng sản  phẩm… chắc chắn sẽ dần nâng cao được lợi thế cạnh tranh của chè Việt Nam trên  thị trường thế giới.

Tiếp theo, sau khi tiến hành thủ tục phân cụm thứ bậc tích tụ dựa vào phương  sai (thủ tục Ward) với thước đo khoảng cách Euclid được thực hiện, các quốc gia  xuất  khẩu  chè  được  phân  thành  8  nhóm  (xem  Bảng  2­3).  Mỗi nhóm  quốc  gia  như vậy có những lợi thế cạnh tranh riêng, sau đây giới thiệu tóm tắt đặc trưng của  các nhóm quốc gia xuất khẩu chè (số liệu chi tiết về đặc điểm của các nhóm quốc  gia xuất khẩu, xem Phụ lục 11).

ã  Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố lớn trờn thế giới 

Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè lớn trên thế giới bao gồm Nhóm 7 và  Nhóm 8. Đây là hai nhóm  tập trung những quốc gia xuất khẩu chè chủ yếu trên thế  giới  và  chiếm  tỷ  lệ  về  sản  lượng  xuất  khẩu  đứng  hàng  đầu  trên  thế  giới.  Cụ  thể  Nhóm  8  (bao  gồm  duy  nhất  quốc  gia  Kenya)  chiếm  đến  21,41%  sản  lượng  xuất  khẩu chè của toàn thế giới, Nhóm 7 (bao gồm 3 quốc gia: Sri Lanka, Trung Quốc và  Ấn Độ) chiếm đến 47,04% sản lượng xuất khẩu chè của toàn thế giới. 

Nếu  coi  năng  suất  bình  quân  là  chỉ  số  tổng  hợp  phản  ánh  lợi  thế  về  mặt  tự  nhiên như đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, giống chè… đây là 2 nhóm quốc gia xuất  khẩu có mức lợi thế về mặt tự nhiên cao nhất trong số các quốc gia xuất khẩu chè  (xem Bảng 2­4), do đó rất dễ hiểu đây là 2 nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè  cao nhất thế giới.Tuy nhiên sự khác biệt căn bản giữa hai nhóm 7 và 8 là cơ cấu các  loại chè xuất khẩu. Trong cơ cấu xuất khẩu chè của Nhóm 8, loại chè xuất khẩu chủ  yếu của  nhóm này là  chè  dạng  rời  (chiếm  trên 99%). Trong  khi  đó  sản  phẩm  chè  xuất khẩu của Nhóm 7 có sự đa dạng hơn, chè dưới 3kg đạt trung bình là 31,69% 

trong cơ cấu xuất khẩu chè của nhóm này. 

Như vậy mặc dù Nhóm 8 có lợi  thế về mặt  tự nhiên hơn Nhóm 7, nhưng do  các quốc gia xuất khẩu chè trong Nhóm 7 đã có sự kết hợp những lợi thế về mặt tự  nhiên với những lợi thế khác như là năng lực cạnh tranh chung của quốc gia, có sự  hỗ trợ về cầu trong nước tốt hơn (xem Phụ lục 11), nên các quốc gia trong Nhóm 7  có sự đa dạng hóa về sản phẩm và xuất khẩu các sản phẩm chè giá trị gia tăng cao  hơn Nhóm 8. Kết quả là giá xuất khẩu chè trung bình của Nhóm 7 cao hơn Nhóm 8.

Bảng 2­3: Danh sách các quốc gia xuất khẩu chè theo từng nhóm 

1  2  3  4  5  6  7  8 

Úc  Đan Mạch  Argentina  Azerbaijan  Chi Lê  Hungary  Sri Lanka  Kenya 

Áo  Pháp  Bangladesh  Brazil  Cộng hòa Séc  Ý  Trung Quốc 

Bỉ  Nhật  Ecuador  El Salvador  Israel  Côte d'Ivoire  Ấn Độ 

Canada  Thụy Điển  Ethiopia  Georgia  Hàn Quốc  Kazakhstan 

Đức  Thụy Sĩ  Iran  Guatemala  Malaysia  Kyrgyzstan 

Hồng Kông  Madagascar  Jordan  Oman  Lithuania 

Ireland  Malawi  Mexico  Ba Lan  Nga 

Macao  Ma rốc  Việt Nam  Romania  Ả rập Saudi 

Hà Lan  Mozambique  Thái Lan  Nam Phi 

Singapore  Niger  Thổ Nhĩ Kỳ  Tây Ba Nha 

UAE  Pakistan  Uganda  Kuwait 

Anh quốc  Rwanda  Zambia 

Mỹ  Zimbabwe  Yemen 

Syria  Ai Cập 

Tanzania  Burundi  Nguồn: Tác giả tính toán

Bảng 2­4: Một số đặc điểm của các nhóm quốc gia xuất khẩu chè  Nhóm 

quốc gia  XK 

Một số chỉ tiêu định lượng  Một số chỉ tiêu định tính  Tỷ trọng 

sản lượng  (%) 

Năng  suất  (tấn/ha) 

Giá XK  (USD/kg) 

Quy mô  xuất khẩu 

Lợi thế về  mặt tự 

nhiên 

Giá xuất  khẩu  Nhóm 7  47,04  1,35  2,62  Lớn nhất  Cao  Trung bình 

Nhóm 8  21,41  2,22  2,08  Lớn  Cao  Thấp 

Nhóm 3  11,96  1,13  2,22  Trung bình  Trung bình  Thấp  Nhóm 4  8,96  1,01  2,54  Trung bình  Trung bình  Trung bình 

Nhóm 1  7,90  0  5,70  Trung bình  Thấp  Cao 

Nhóm 5  1,43  0,52  6,40  Thấp  Thấp  Cao 

Nhóm 6  0,80  0,39  5,94  Thấp  Thấp  Cao 

Nhóm 2  0,45  0,09  14,11  Thấp nhất  Thấp  Cao nhất  Ghi chú: các số liệu được tính trung bình trong giai đoạn 2005­2009 

Nguồn: Tác giả tính toán

ã  Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố trung bỡnh trờn thế giới  Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè trung bình bao gồm 3 nhóm, đó là  Nhóm  1, 3  và  4.  Trong đó  các  quốc  gia  trong  Nhóm 1  mặc dù  không phải  là  các  quốc  gia  trồng  chè nhưng  lại  là  nhóm  có  sự hỗ  trợ  từ phía  cầu  (mức  tiêu  thụ  chè  bình quân đầu người cao nhất)(xem  Phụ lục 11) và đã có sự kết hợp những lợi thế  cạnh tranh khác nên chủ yếu nhập khẩu chè nguyên liệu để chế biến và tái xuất các  sản phẩm chè thành phẩm, nên giá xuất khẩu trung bình ở mức cao. 

Nhóm 3 và 4 là nhóm có lợi thế về mặt tự nhiên ở mức trung bình, tuy nhiên  về mặt lợi thế tự nhiên thì Nhóm 3 có cao hơn Nhóm 4 một phần (thể hiện qua năng  suất bình quân cao hơn) do đó cũng dễ hiểu khi quy mô xuất khẩu của nhóm 3 cao  hơn nhóm 4. Tuy nhiên các quốc gia trong nhóm 4, kết hợp các lợi thế cạnh tranh  khác như mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, tính hiệu quả của các thị trường, mức  độ tự do kinh tế cao hơn nên giá xuất khẩu trung bình của Nhóm 4 cao hơn Nhóm 3.

ã  Nhúm quốc gia cú quy mụ xuất khẩu chố thấp trờn thế giới 

Nhóm quốc gia có quy mô xuất khẩu chè thấp bao gồm 3 nhóm, đó là Nhóm  2, 5 và 6. Các quốc gia xuất khẩu trong Nhóm 2 mặc dù có lợi thế tự nhiên rất thấp,

nhưng lại là nhóm có giá xuất khẩu cao nhất. Các nhóm quốc gia trong nhóm 2 có  GDP bình quân đầu người cao nhất so với các nhóm còn lại, có mức độ cạnh tranh  của nền kinh tế, tự do kinh tế, mức hiệu quả của  các thị trường… ở mức cao nhất  hoặc gần cao nhất so với các nhóm còn lại, điều này đã tạo nên lợi thế cạnh tranh rất  lớn cho các quốc gia trong nhóm này (xem Phụ lục 11). 

Tương tự như vậy các quốc gia trong Nhóm 5 và 6, mặc dù không có nhiều lợi  thế về mặt tự nhiên, do đó quy mô xuất khẩu của các nhóm này đạt thấp, nhưng bù  lại các quốc gia trong các nhóm này kết hợp được với các yếu tố lợi thế cạnh tranh  khác nên mức giá xuất khẩu của những quốc gia này  luôn đạt  mức cao. Trong đó  các quốc gia trong Nhóm 5 kết hợp các yếu tố cạnh tranh tốt hơn nên mức giá xuất  khẩu cao hơn Nhóm 6 (xem Phụ lục 11). 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 79 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)