Chiến lược Marketing Mix cho sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 157 - 162)

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

3.4. Chiến lược Marketing Mix cho sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam

Hiện  nay,  chè  Việt  Nam  được  sản  xuất  chủ  yếu để  làm nguyên  liệu cho  các  công ty chế biến của nước ngoài, họ tiến hành đấu trộn với các loại chè khác để tạo  thành các loại chè thành phẩm. Chất lượng chè xuất khẩu của Việt Nam chưa cao,  chưa kiểm soát được dư lượng thuốc trừ sâu, vệ sinh an toàn thực phẩm. Chất lượng  trong cùng một lô hàng cũng không đồng đều, không phản ánh được xuất xứ, trong  sản phẩm còn nhiều dư lượng hóa chất, chất vô  cơ, chè lẫn loại  gây khó khăn cho  việc đấu trộn, làm ảnh hưởng đến hương và vị của sản phẩm đầu ra. Các sản phẩm  chè chế biến của ngành chè Việt  Nam thực sự vẫn chưa đa dạng phong phú cả về  chủng loại, mẫu mã, chưa có thương hiệu trên thị trường thế giới. Ngành chè chưa  có các sản phẩm đặc sản, đặc hữu mang bí quyết công nghệ chế biến của Việt Nam. 

Đối  với các sản phẩm chè nguyên liệu, hiện nay, khi  xuất khẩu, loại  chè này  thường được đóng trong bao giấy Kraft có trọng lượng 30, 35 hoặc 50 kg, riêng chè  ôlong  thì  đóng  trong  bao  18kg.  Bên  ngoài  bao  bì  chỉ  ghi  những  thông  tin  chung  như:  tên  công  ty  xuất  khẩu  chè, phẩm  cấp  của  chè,  số hóa đơn thương  mại,  trọng  lượng. Do đó đối với dòng sản phẩm này, điều quan trọng nhất là ngành chè phải  nâng cao được chất lượng chè của Việt Nam bằng cách thay thế các giống chè đã  thoái hóa bằng các giống chè mới theo đúng yêu cầu của thị trường, tạo lập tập quán  nghiêm ngặt  trong kỹ thuật  canh tác, tránh lạm dụng hóa chất  như thuốc hóa học,  thuốc bảo vệ thực vật, đổi mới công nghệ chế biến… tiến tới cung cấp chè sạch cho  thị trường (các giải pháp sẽ được trình bày chi tiết trong các mục dưới). 

Chỉ khi nào chúng ta nâng cao chất lượng và đảm bảo chất lượng chè ổn định,  đảm bảo tiêu chuẩn sản phẩm “sạch” khi đó chúng ta có thể phân loại các sản phẩm  nguyên liệu theo từng cấp độ về phẩm cấp khác nhau, từng giống chè khác nhau để  cung cấp vào đúng các phân khúc thị trường yêu cầu. Chẳng hạn, chè có chất lượng  cao, mang tính đặc trưng cao có thể xuất khẩu sang Phân khúc thị trường 1 và 2.Sản  phẩm có chất lượng tốt, không cần tính đặc trưng có thể xuất khẩu sang Phân khúc  thị trường 8. Những sản phẩm chè nguyên liệu còn lại có thể xuất khẩu sang Phân  khúc thị trường 3, 4, 5.

Đối với những sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng cao, ngoài công tác nâng  cao chất lượng sản phẩm chè nói chung, ngành chè Việt Nam cần chọn lọc ra những  loại chè đặc sản của Việt Nam như chè Suối Giàng (Yên Bái), chè Shan Tuyết (Hà  Giang), chè Đắng (Cao Bằng)… để tập trung nâng cao năng suất, chất  lượng. Sau  đó, sử dụng các nguồn nguyên liệu chọn lọc của vùng chè đặc sản này, kết hợp với  việc sản xuất theo quy trình chế biến hiện đại, loại bỏ dư lượng hóa học gây độc hại  cho con người, nâng cao chất lượng, tạo điều kiện để thực hiện chiến lược khác biệt  hóa sản phẩm. 

Ngoài  việc  nâng  cao  chất  lượng,  cũng  cần  đầu  tư  cho  bao  bì,  mỹ  thuật  sản  phẩm  chè.  Chẳng  hạn  sử  dụng  bao  gói  bên  ngoài  (như  bao  thiếc),  sử  dụng  công  nghệ hút chân không… để đảm bảo cho chè không bị ẩm mốc hoặc mất mùi trong  mọi  thời  tiết.  Bao  bì  bên ngoài  có  họa  tiết  đẹp,  có  chỉ  dẫn  sử  dụng,  thời  gian  sử  dụng trên bao bì rõ ràng, tạo nên sự trang nhã cho sản phẩm, đảm bảo thẩm mỹ cao  để thu hút thị giác của người tiêu dùng. Bao bì bên trong nên sử dụng vật liệu sạch,  chống ẩm, có chức năng bảo vệ sản phẩm tốt, không làm  ảnh hưởng tới hương vị  chè. 

Bên cạnh đó, cần đa dạng hoá chủng loại chè như  sản phẩm chè túi  lọc, chè  hòa tan, chè thảo mộc, chè ướp hương… Ngoài ra, xu hướng hiện nay các quốc gia  nhập khẩu có nhu cầu gia tăng về các loại chè hữu cơ. Do đó sản xuất chè hữu cơ là  một phương hướng mà ngành chè Việt Nam cần chú ý. Việt Nam có tiềm  năng để  sản  xuất  chè  hữu  cơ, nhất  là  phía  Bắc  Việt  Nam,  có  một  vùng  núi  rộng  lớn,  điều  kiện thích hợp cho chè sinh trưởng và phát triển, đồng thời đồng bào dân tộc thiểu  số  ở  đây  ít  sử  dụng  phân  hóa  học  và  thuốc  trừ  sâu.  Đó  là  điều  kiện  thuận  lợi  để  ngành chè Việt Nam phát triển loại chè này. 

Để các sản phẩm chè thành phẩm, giá trị  gia tăng của Việt Nam có thể thâm  nhập vào thị trường thế giới, ngành chè cần phải có các giải pháp xây dựng thương  hiệu mạnh, thiết lập các kênh phân phối tại thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh công tác  nghiên cứu, xúc tiến thương mại... Những giải  pháp này sẽ bàn luận chi  tiết ở các  mục sau.

3.4.2.  Chiến lược giá cho sản phẩm chè Việt Nam 

Hiện  nay  do  chủ  yếu  xuất  khẩu  sản  phẩm  chè  nguyên  liệu,  chất  lượng  sản  phẩm chưa cao, chưa có thương hiệu, hơn nữa chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng  được  yêu  cầu  của khách hàng nên các doanh nghiệp  xuất  khẩu  chè Việt Nam  vẫn  đang là người chấp nhận giá trên thị trường thế giới. Hay nói cách khác, chiến lược  giá của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam hiện nay là định giá dựa vào chi  phí,  các  doanh nghiệp  xuất  khẩu chè  Việt  Nam  khi  có  sản phẩm  xuất  khẩu  sẽ  tập  hợp các chi phí liên quan đến lô hàng, cộng thêm các khoản lời mong muốn và hình  thành nên mức giá để đàm phán bán hàng với đối tác. 

Do đó đối với mặt hàng chè nguyên liệu, chỉ khi nào chất lượng chè của Việt  Nam  được  nâng  lên,  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu  chè  Việt  Nam  mới  có  thể  dành  được  quyền  chủ  động  trong  việc  định  giá  sản  phẩm.  Khi  đó  đối  với  những  phân  khúc  thị  trường  mới  thâm  nhập,  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu  chè  có  thể  sử  dụng  chiến lược giá thấp để thâm nhập. Tuy nhiên sau khi  thâm nhập ổn định, cần theo  dõi  sát tình hình biến động của thị  trường để thực hiện phương thức định giá hiện  hành. 

Do  mặt  hàng  chè  là  mặt  hàng  cảm quan,  nếu  ngành  chè  nghiên  cứu  và  phát  triển sản phẩm mới, tạo ra các sản phẩm đặc trưng (như chè Suối  Giàng, chè Tân  Cương…) và quan trọng là phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng thì ngành chè  có thể định giá cao cho những sản phẩm này. Tuy nhiên cũng tương tự như chiến  lược sản phẩm, ngoài việc tạo ra những sản phẩm mang tính đặc trưng cao này, để  có thể định giá cao hay chủ động trong việc định giá sản phẩm (không phải là người  chấp  nhận  giá),  ngành  chè  cũng  cần  phải  có  các  giải  pháp  xây  dựng  thương  hiệu  mạnh, thiết lập các kênh phân phối tại thị trường tiêu thụ, đẩy mạnh công tác nghiên  cứu, xúc tiến thương mại... 

3.4.3.  Chiến lược phân phối cho sản phẩm chè Việt Nam 

Theo như phân tích trong mục 2.4.5.3, chiến lược phân phối có thể coi là một  khâu yếu kém trong hoạt động Marketing Mix của các doanh nghiệp xuất khẩu chè  Việt Nam. Hệ thống phân phối nghèo nàn, hoạt động thiếu chặt chẽ, thiếu tính liên  kết.  Đối  với  các  loại  sản  phẩm  chè  nguyên  liệu  được  phân  phối  qua  các  công  ty

thương mại, công ty sản xuất chế biến chè… sau đó các công ty này xuất khẩu cho  các công ty chế biến hoặc công ty thương mại của nước ngoài. Tóm lại, trong thời  gian qua, việc xây dựng kênh phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng chưa được  chú trọng. 

Do đó đối với kênh phân phối cho loại chè nguyên liệu, cần tăng cường sự liên  kết,  hợp  tác  giữa các doanh  nghiệp  trong ngành  chè  trên  cơ  sở  tự nguyện  và đảm  bảo lợi ích của các bên tham gia. Trong chuỗi giá trị của ngành chè cần thực hiện  chuyên môn hóa và hợp tác hóa sâu sắc để đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng  cao hiệu quả xuất khẩu.  Trong chuỗi  giá trị  ngành chè xuất khẩu, các đơn vị  lãnh  đạo của chuỗi nên là các công ty xuất khẩu chè lớn và những doanh nghiệp lớn này  nên  thành  lập  một  số  chi  nhánh  tại  những  thị  trường  nhập  khẩu  chè  lớn  của  Việt  Nam  như  Nga,  Pakistan.  Những  chi  nhánh  thành  lập  tại  thị  trường  nước  ngoài  là  đơn vị cầu nối thu thập thông tin thị trường, là đầu mối nhập khẩu chè và cung ứng  cho thị trường nước ngoài bên cạnh các kênh phân phối truyền thống khác. 

Đối với các loại chè thành phẩm, loại chè có giá trị gia tăng cao, hiện nay phổ  biến các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam cũng chỉ xuất khẩu cho các đối tác  nước ngoài  khi  có đơn đặt  hàng  và  chưa xây  dựng được  kênh phân phối  trực  tiếp  đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Đối với ngành chè, nhất là đối với sản phẩm chè  thành phẩm, việc thiết lập được kênh phân phối đóng vai trò rất quan trọng, nhưng  đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam hiện nay do tiềm lực về tài chính  hạn chế, quy mô xuất khẩu các loại chè thành phẩm còn thấp, hạn chế về năng lực  do đó việc xây dựng kênh phân phối chưa được chú trọng. 

Trong thời gian tới, trước mắt các doanh nghiệp xuất khẩu chè thành phẩm có  thể sử dụng các kênh phân phối độc lập của nước sở tại. Áp dụng hình thức này các  doanh nghiệp xuất khẩu chè có thể ký kết các hợp đồng phân phối, liên kết để phân  phối sản phẩm cho mình. Khi đó các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam có  thể tận dụng những lợi thế của đối  tác về  thương hiệu, kinh nghiệm, vốn và mạng  lưới phân phối sâu, rộng. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của hình thức này là khó  kiểm soát trong quá trình thực hiện Marketing của doanh nghiệp, do đó sau một thời  gian,  khi  có  chỗ  đứng  trên  thị  trường  và  được  người  tiêu  dùng  biết  đến,  doanh

nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam nên xây dựng thêm các kênh phân phối trực tiếp để  chủ  động  trong  việc  thực  hiện  các  chính  sách  marketing.  Hoặc  các  doanh  nghiệp  xuất khẩu chè Việt Nam có thể thông qua chi nhánh của các công ty xuất khẩu chè  Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu chè lớn để xây dựng mạng lưới phân phối. 

Cụ thể các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam có thể liên kết, hợp tác với  các công ty lớn xuyên quốc gia như Brock Bond, Lipton, Lyons Tetly, Twining... để  bán các sản phẩm chè cho họ, sau đó tiến tới thâm nhập vào các kênh, mạng lưới  tiêu thụ trên toàn cầu của họ. Hoặc cũng có thể hợp tác với những nước vốn là bạn  hàng của Việt Nam, đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở chế biến, bao gói và thiết  lập hệ thống mạng lưới tiêu thụ ngay tại những nước đó. 

3.4.4.  Chiến lược xúc tiến cho sản phẩm chè Việt Nam 

Để có chiến lược xúc tiến thành công, ngành chè Việt Nam cần phải xây dựng  được thương hiệu cho sản phẩm chè. Hiện tại hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu  chè Việt Nam đều xuất khẩu sản phẩm không có thương hiệu, xuất khẩu sản phẩm  thô. Các doanh nghiệp thường không tích cực xây dựng thương hiệu do không kiểm  soát được chất lượng đầu vào của nguyên liệu, do sợ chi phí cao, rủi ro lớn và phải  tốn nhiều công sức cho nghiên cứu và tạo ra sản phẩm mới. Hơn nữa, công tác xây  dựng thương hiệu đòi hỏi phải có quá trình lâu dài và tốn kém, với nguồn lực hạn  chế về vốn, kinh nghiệm, nên công tác xây dựng thương hiệu là công việc rất khó  khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam hiện nay. 

Để việc xây dựng và phát triển thương hiệu chè Việt Nam, Chính phủ cần có  sự hỗ trợ về vốn, kinh phí cho doanh nghiệp vì xây dựng thương hiệu cũng chính là  một hoạt động đầu tư. Về phía doanh nghiệp, cần phối hợp với các tổ chức nghiên  cứu, công nghệ, đầu tư thích đáng cho hoạt động này để hình thành ý đồ thiết kế sản  phẩm mang thương hiệu Việt Nam có chất lượng và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng. 

Ngoài  ra các doanh nghiệp  xuất  khẩu  chè  Việt  Nam  cũng  cần  chú ý đến  công  tác  quảng bá sản phẩm và dành cho công tác này một khoản kinh phí hợp lý. Hiện thời  những công ty chè lớn của Việt Nam dành chưa đến 5% tổng chi phí cho quảng bá  sản phẩm, trong khi đó con số này của các công ty chè lớn trên thế giới  là từ 15­ 

20% tổng chi phí hàng năm.

Khi xây dựng thương hiệu, cũng cần coi trọng việc đăng ký bản quyền tại các  thị trường trong và ngoài nước để tránh bị động làm các thủ tục đòi quyền sở hữu  khi nhãn hiệu hợp pháp của mình bị doanh nghiệp khác đăng ký. 

Nghiên cứu luật về quảng bá sản phẩm của các thị trường và áp dụng các hình  thức  quảng  bá,  xúc  tiến  thương  hiệu  theo  đúng  quy  định  của  luật  pháp  các  nước  nhập khẩu. 

Nghiên cứu kỹ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để đưa ra và quảng bá các  thương hiệu phù hợp nhằm tạo ấn tượng mạnh mẽ cho khách hàng về những nét độc  đáo của sản phẩm và thương hiệu của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam. 

Xúc tiến việc thâm nhập mạng lưới phân phối đa quốc gia như Metro,Big C… 

cho một vài thương hiệu chè có uy tín của Việt Nam để có thể tận dụng những lợi  thế  của  đối  tác  về  thương  hiệu,  kinh  nghiệm,  vốn…  Sau  đó  dần  dần  phát  triển  thương hiệu toàn cầu cho các sản phẩm này. 

Bên  cạnh  đó,  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu  chè  nên  tiếp  tục  khảo  sát  các  thị  trường,  tham  gia  các  hội  chợ,  triển  lãm  quốc  tế  để  giới  thiệu  và  quảng  cáo  sản  phẩm, giúp người tiêu dùng tại các nước sở tại được biết nhiều hơn về sản phẩm chè  của Việt Nam. 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 157 - 162)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)