Giải pháp về sản xuất

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 162 - 165)

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

3.5. Các giải pháp thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020

3.5.1. Các giải pháp chính

3.5.1.1. Giải pháp về sản xuất

ã  Quy hoạch cỏc vựng chố 

Ngành chè cần quy hoạch phát triển chè một cách hợp lý, lựa chọn những tỉnh,  những địa phương có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp nhất với cây chè để  đầu tư phát  triển thành vùng tập trung chuyên canh lớn, tạo điều kiện đưa tiến bộ  khoa học vào sản xuất và quản lý một cách thuận lợi. Đồng thời không nên để phát  triển chè phân tán như trong thời gian vừa qua vì như vậy sẽ dẫn đến tình trạng chè  phát triển nhiều mà chất lượng kém.

Trong những năm tới tập trung phát triển sản xuất chè ở các tỉnh theo kế hoạch  như sau: 

­ Đối  với  vùng thấp có độ cao dưới 100m  so với  mực nước biển là vùng sản  xuất chè chủ yếu  có tiềm năng năng suất cao. Do đó thực hiện thâm canh cao, bón  phân hữu  cơ  kết hợp phòng  trừ  sâu bệnh,  áp dụng  các biện  pháp  kỹ thuật  mới để  tăng nhanh năng suất. 

­ Đối với các vùng chè có độ cao 100­500m, nên phát triển các giống chè vừa  có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt giành cho chế biến mặt hàng chè chất lượng  cao phục vụ cho xuất khẩu. 

­  Đối  với  các  vùng  núi  cao  có  độ  cao  hơn  1000m,  phát  triển  các  giống  chè  Shan núi cao để chế biến các mặt hàng cao cấp. 

Ngoài  ra  tiếp  tục  xây  dựng  các  vùng  chè  cao  sản  như  ở  Mộc  Châu,  Tam  Đường để sản xuất các loại chè chất lượng cao và chè hữu cơ để cung cấp cho thị  trường xuất khẩu.

ã  Cải tiến giống chố cú chất lượng cao: 

Để có thể nâng cao chất lượng chè cho các doanh nghiệp xuất  khẩu chè,  vấn  đề cải tạo giống chè là rất cần thiết. Do đó việc tuyển chọn và nhân giống là điều  kiện tiên quyết ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng chè và là biện pháp quan trọng  để cung cấp nguyên liệu cho các mặt hàng chè đặc sản và xuất khẩu của Việt Nam. 

Trong những năm tới, ngành chè cần cấm tuyệt đối nhân giống bằng chè hạt,  bằng các giống cũ, lẫn tạp. Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài nước để đầu tư  vườn chè với giống mới, giống tốt cùng thiết bị công nghệ mới, góp phần phát triển  ngành chè. 

Nhân nhanh các giống có năng suất và chất lượng tốt như: 777, LDP1, LDP2,  TR1777,  Shan…  Ngoài  ra,  tiếp  tục  nhập  nội  các  giống  chè  của  các  nước  có  điều  kiện  sinh  thái  gần  giống  với  Việt  Nam  như  Trung  Quốc,  Đài  Loan,  Ấn  Độ,  Sri  Lanka,  Nhật  Bản....  Nhưng  cũng  cần  chú  ý  đến  đặc  điểm  sinh  thái  của  từng  loại  giống để bố trí trồng tại những vùng có điều kiện thổ nhưỡng thích hợp, nhằm mang  lại hiệu quả cao nhất như:

­ Giống Yabukita của Nhật  Bản nên trồng ở những vùng ẩm, có độ cao dưới  800 m. 

­  Giống  Ôlong,  Kim  Huyền,  Ngọc  Thuý,  Văn  Xương  của  Đài  Loan  có  thể  trồng đại trà, nhưng thích hợp nhất vẫn là những vùng cao. 

­ Giống Bát Tiên của Trung Quốc, rất thích hợp với vùng đất ẩm và cao nhưng  vẫn phát huy hiệu quả khá ở vùng trung du. 

­ Bốn giống chè mới của vùng Assam, Darjeeling ­ Ấn Độ có thể trồng đại trà  ở các vùng khác nhau.

ã  Chăm súc, thu hỏi và bảo quản chố: 

Thực hiện sử dụng phân khoáng cân đối, đa yếu tố (hỗn hợp, phức hợp) trên  nền phân hữu  cơ đầy  đủ để  vừa đảm bảo năng  suất,  chất  lượng  cao,  an  toàn  thực  phẩm và hiệu quả cao trên cơ sở hiệu suất sử dụng phân bón cao. 

Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu, hóa học trên chè. Đẩy mạnh việc  quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), áp dụng các chế phẩm thảo mộc. Tuyệt đối không  sử dụng thuốc cấm, thuốc có tàn dư nhiều ngày, tuân thủ thật tốt thời gian cách ly  cần thiết khi thu hái chè. 

Thu hái chè  cần đảm bảo đúng  cấp, đúng  trật  tự, đúng  số  lá chứa,  sửa bằng  mặt  tán  để  vừa  tăng  năng  suất  chè 10­15%,  vừa  có  chất  lượng  nguyên  liệu  đúng. 

Đây cũng là cơ sở cho chế biến công nghệ tiết kiệm hiệu quả. 

Nguyên liệu chè hái được đựng vào sọt thưa, bao túi thoáng, vận chuyển bằng  xe chuyên dùng và được bảo quản đúng quy cách, không để bị ôi, dập nát.

ã  Áp dụng cỏc biện phỏp kỹ thuật thõm canh và cải tạo vườn chố xuống  cấp: 

Trong những năm 90 của thế kỷ trước, việc mở rộng diện tích chè tại một số  tỉnh  diễn  ra  ồ  ạt.  Cùng  một  lúc,  vừa  mở  rộng  diện  tích,  vừa  lo  đầu  tư  thâm  canh  trong điều kiện vốn hạn chế, vì thế trình độ thâm canh còn thấp, dẫn đến mức năng  suất chè nước ta chưa cao. Do đó, việc đầu tư mạnh cho thâm canh là rất cần thiết  và cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau: 

Đảm bảo đồng đều trên diện tích thâm canh. Đối với những vườn chè già cỗi  không  có  khả  năng  phục  hồi  thì  phải  phá  bỏ  để  trồng  mới  hoặc  chuyển  sang  cây

khác có hiệu quả hơn. Những diện tích có khả năng phục hồi thì đốn, trồng dặm và  tập trung chăm sóc, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo năng suất. 

Đối  với  diện  tích  trồng  mới,  cần đầu  tư  giống  mới  có năng  suất,  chất  lượng  cao, đã được tuyển chọn; ứng dụng các biện pháp tiên tiến như trồng chè bằng giâm  cành và những kỹ thuật chăm sóc tiến bộ. 

Tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh tổng hợp, hướng dẫn các hộ gia đình làm  tủ cỏ, tủ chè lá già cỗi vào gốc chè để tăng độ mùn cho đất và giữ ẩm, giữ ấm cho  chè vụ đông.

ã  Thực hiện phương phỏp sản xuất sạch, phương phỏp thu hỏi tiờn tiến: 

Để  nâng  cao  sức  cạnh  tranh  của  các  sản  phẩm  chè,  cần  áp  dụng  tiến  bộ  kỹ  thuật  vào  thu  hoạch,  xử  lý, bảo  quản  theo  tiêu  chuẩn quốc  tế.  Thực  hiện  các  quy  trình trồng, chế biến sạch theo các tiêu chuẩn như Global Gap, VietGap… 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 162 - 165)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)