CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
3.5. Các giải pháp thực hiện chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020
3.5.1. Các giải pháp chính
3.5.1.1. Giải pháp về sản xuất
ã Quy hoạch cỏc vựng chố
Ngành chè cần quy hoạch phát triển chè một cách hợp lý, lựa chọn những tỉnh, những địa phương có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp nhất với cây chè để đầu tư phát triển thành vùng tập trung chuyên canh lớn, tạo điều kiện đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất và quản lý một cách thuận lợi. Đồng thời không nên để phát triển chè phân tán như trong thời gian vừa qua vì như vậy sẽ dẫn đến tình trạng chè phát triển nhiều mà chất lượng kém.
Trong những năm tới tập trung phát triển sản xuất chè ở các tỉnh theo kế hoạch như sau:
Đối với vùng thấp có độ cao dưới 100m so với mực nước biển là vùng sản xuất chè chủ yếu có tiềm năng năng suất cao. Do đó thực hiện thâm canh cao, bón phân hữu cơ kết hợp phòng trừ sâu bệnh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới để tăng nhanh năng suất.
Đối với các vùng chè có độ cao 100500m, nên phát triển các giống chè vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt giành cho chế biến mặt hàng chè chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu.
Đối với các vùng núi cao có độ cao hơn 1000m, phát triển các giống chè Shan núi cao để chế biến các mặt hàng cao cấp.
Ngoài ra tiếp tục xây dựng các vùng chè cao sản như ở Mộc Châu, Tam Đường để sản xuất các loại chè chất lượng cao và chè hữu cơ để cung cấp cho thị trường xuất khẩu.
ã Cải tiến giống chố cú chất lượng cao:
Để có thể nâng cao chất lượng chè cho các doanh nghiệp xuất khẩu chè, vấn đề cải tạo giống chè là rất cần thiết. Do đó việc tuyển chọn và nhân giống là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng chè và là biện pháp quan trọng để cung cấp nguyên liệu cho các mặt hàng chè đặc sản và xuất khẩu của Việt Nam.
Trong những năm tới, ngành chè cần cấm tuyệt đối nhân giống bằng chè hạt, bằng các giống cũ, lẫn tạp. Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài nước để đầu tư vườn chè với giống mới, giống tốt cùng thiết bị công nghệ mới, góp phần phát triển ngành chè.
Nhân nhanh các giống có năng suất và chất lượng tốt như: 777, LDP1, LDP2, TR1777, Shan… Ngoài ra, tiếp tục nhập nội các giống chè của các nước có điều kiện sinh thái gần giống với Việt Nam như Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Sri Lanka, Nhật Bản.... Nhưng cũng cần chú ý đến đặc điểm sinh thái của từng loại giống để bố trí trồng tại những vùng có điều kiện thổ nhưỡng thích hợp, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất như:
Giống Yabukita của Nhật Bản nên trồng ở những vùng ẩm, có độ cao dưới 800 m.
Giống Ôlong, Kim Huyền, Ngọc Thuý, Văn Xương của Đài Loan có thể trồng đại trà, nhưng thích hợp nhất vẫn là những vùng cao.
Giống Bát Tiên của Trung Quốc, rất thích hợp với vùng đất ẩm và cao nhưng vẫn phát huy hiệu quả khá ở vùng trung du.
Bốn giống chè mới của vùng Assam, Darjeeling Ấn Độ có thể trồng đại trà ở các vùng khác nhau.
ã Chăm súc, thu hỏi và bảo quản chố:
Thực hiện sử dụng phân khoáng cân đối, đa yếu tố (hỗn hợp, phức hợp) trên nền phân hữu cơ đầy đủ để vừa đảm bảo năng suất, chất lượng cao, an toàn thực phẩm và hiệu quả cao trên cơ sở hiệu suất sử dụng phân bón cao.
Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu, hóa học trên chè. Đẩy mạnh việc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), áp dụng các chế phẩm thảo mộc. Tuyệt đối không sử dụng thuốc cấm, thuốc có tàn dư nhiều ngày, tuân thủ thật tốt thời gian cách ly cần thiết khi thu hái chè.
Thu hái chè cần đảm bảo đúng cấp, đúng trật tự, đúng số lá chứa, sửa bằng mặt tán để vừa tăng năng suất chè 1015%, vừa có chất lượng nguyên liệu đúng.
Đây cũng là cơ sở cho chế biến công nghệ tiết kiệm hiệu quả.
Nguyên liệu chè hái được đựng vào sọt thưa, bao túi thoáng, vận chuyển bằng xe chuyên dùng và được bảo quản đúng quy cách, không để bị ôi, dập nát.
ã Áp dụng cỏc biện phỏp kỹ thuật thõm canh và cải tạo vườn chố xuống cấp:
Trong những năm 90 của thế kỷ trước, việc mở rộng diện tích chè tại một số tỉnh diễn ra ồ ạt. Cùng một lúc, vừa mở rộng diện tích, vừa lo đầu tư thâm canh trong điều kiện vốn hạn chế, vì thế trình độ thâm canh còn thấp, dẫn đến mức năng suất chè nước ta chưa cao. Do đó, việc đầu tư mạnh cho thâm canh là rất cần thiết và cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
Đảm bảo đồng đều trên diện tích thâm canh. Đối với những vườn chè già cỗi không có khả năng phục hồi thì phải phá bỏ để trồng mới hoặc chuyển sang cây
khác có hiệu quả hơn. Những diện tích có khả năng phục hồi thì đốn, trồng dặm và tập trung chăm sóc, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo năng suất.
Đối với diện tích trồng mới, cần đầu tư giống mới có năng suất, chất lượng cao, đã được tuyển chọn; ứng dụng các biện pháp tiên tiến như trồng chè bằng giâm cành và những kỹ thuật chăm sóc tiến bộ.
Tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh tổng hợp, hướng dẫn các hộ gia đình làm tủ cỏ, tủ chè lá già cỗi vào gốc chè để tăng độ mùn cho đất và giữ ẩm, giữ ấm cho chè vụ đông.
ã Thực hiện phương phỏp sản xuất sạch, phương phỏp thu hỏi tiờn tiến:
Để nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm chè, cần áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào thu hoạch, xử lý, bảo quản theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực hiện các quy trình trồng, chế biến sạch theo các tiêu chuẩn như Global Gap, VietGap…