Tổng quan tình hình nhập khẩu chè trên thế giới

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 85 - 88)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới

2.1.3. Tình hình nhập khẩu chè, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô, giá chè nhập khẩu và phân khúc thị trường thế giới cho sản phẩm chè

2.1.3.1. Tổng quan tình hình nhập khẩu chè trên thế giới

Chè là một loại đồ uống phổ biến, được tiêu dùng ở hầu hết các quốc gia trên  thế giới. Ngoài tác dụng bổ dưỡng, chữa bệnh và góp phần tăng cường sức khoẻ cho  con người, về mặt kinh tế, chè là loại đồ uống rẻ nhất. Trên thị trường đồ uống, nếu  so với cà phê, chè chiếm 30 ­ 35% về lượng nhưng về giá trị chỉ chiếm 20% (trong  khi  đó,  cà  phê  lại  chiếm  khoảng  60%  về  lượng  nhưng  lại  chiếm  70%  về  giá  trị). 

Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới bao gồm hai nhóm chè chủ yếu là chè  đen và chè xanh. 

Việc nhập khẩu và tiêu thụ chè phần lớn phụ thuộc vào thói quen tiêu dùng. 

Trong khi ở các nước châu Á và Bắc Phi, chè chiếm vị trí chủ đạo trong tiêu dùng  của người  dân  (nhất  là  các quốc  gia  Hồi  giáo  không  tiêu  thụ các đồ uống  có men  hoặc  ở  Hồng  Kông, chè được  uống  thường  xuyên  và  hầu  như  cả  ngày),  thì  ở  các  nước  khác  thuộc  Nam  Mỹ,  Nam  Sahara  thuộc  châu  Phi,  chè  lại  ít  được  sử  dụng. 

Ngược lại, các nước rất nghèo như Sudan,  Bănglađét  và Afganistan thì  tỷ lệ dùng  chè trên đầu người lại khá cao.

Cũng như trong lĩnh vực sản xuất  và xuất  khẩu chè,  mặc dù chè có phạm vi  tiêu thụ rộng, nhưng cũng chỉ tập trung khối lượng lớn ở khoảng 26 nước. Theo ITC  (Hội đồng chè thế giới), tiêu thụ chè tập trung ở 11 nước ở Châu Á (lớn nhất là Ấn  Độ, Trung Quốc, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật, các quốc gia Hồi giáo ở Trung Cận  Đông); 6 nước ở Châu Phi, 5 nước châu Âu (đứng đầu là Anh và Ireland), 3 nước ở  châu Mỹ và châu Đại Dương. 

Một đặc điểm quan trọng khác là phần lớn sản lượng chè trên thế giới lại được  tiêu dùng ngay ở  các  quốc  gia  sản  xuất  chè,  như  ở  Trung  Quốc,  Ấn Độ,  Thổ  Nhĩ  Kỳ. Chỉ có 45 % tổng sản lượng chè thế giới được bán ra ngoài. Về nhập khẩu chè,  nếu năm 2000, toàn thế giới nhập 1.343 triệu kg thì đến năm 2008 đã đạt 1.675 triệu  kg, mức tăng 24,7%. Tổng giá trị nhập khẩu toàn thế giới 5 năm gần đây ước từ 3–5  tỷ USD/năm. Trong vòng 9 năm trở lại đây,  10 quốc gia nhập khẩu chè đứng đầu  trên  thế  giới  bao  gồm:  Nga,  Anh,  Mỹ,  UAE,  Pakistan,  Nhật  Bản,  Đức,  Canada,  Pháp  và  Ả  rập  Saudi  (xemPhụ  lục  31).  Cụ  thể,  trong  giai  đoạn 2000­2008,  trung  bình  kim ngạch nhập  khẩu  của  Nga  chiếm đến 9,2%  so  với  tổng  kim ngạch nhập  khẩu chè của thế giới, Anh đạt 8,9%, kế đến là Mỹ, Pakistan, UAE, Nhật  Bản lần  lượt đạt 6,5%, 5,8%, 5,7% và 5,5%. 

Hình 2­1: Xu hướng giao dịch các loại chè trên thế giới 

Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58] 

090210  090220  090230  090240 

0  500  1000  1500  2000  2500  3000 

2005  2006  2007  2008  2009 

Kim ngch nhp khẩ(triệUSD) 

Năm

Về  xu  hướng  giao dịch  các  loại  chè,  Hình  2­1  cho  thấy  xu  hướng  giao  dịch  (theo kim ngạch nhập khẩu) các loại chè trên thị trường thế giới, trong đó loại chè  đen dạng rời (mã HS 090240) được giao dịch nhiều nhất trên thị trường thế giới và  chè xanh dạng rời (mã HS 090220) được giao dịch ít nhất trên  thị trường thế giới. 

Ngoài  ra  qua  Hình  2­1,  chúng  ta  thấy  xu  hướng  của  chè  đen  dạng  rời  (mã  HS  090240) được giao dịch ngày càng tăng trong những năm gần đây. Chi tiết các quốc  gia nhập khẩu chính phân theo từng loại chè, xem Phụ lục 31. 

Về  giá  nhập  khẩu,  tùy  thuộc  vào  đặc  điểm  của  từng  nước  và  loại  chè  nhập  khẩu, giá chè nhập khẩu của các quốc gia nhập khẩu rất khác biệt nhau. Chẳng hạn  giá chè nhập khẩu trung bình trong giai đoạn 2005­2009 là 3,8 USD/kg, nhưng Na  Uy nhập khẩu với giá là 14,7 USD/kg (gấp 4 lần so với giá trung bình của thế giới),  Cộng hòa Síp nhập khẩu với giá 11 USD/kg (gấp 3 lần) (xemBảng 2­5). Các quốc  gia  nhập  khẩu  với  giá  cao  tập  trung  vào  các  quốc  gia  như  Na  Uy,  Cộng hòa  Síp,  Thụy Điển. Đối  với  loại  chè xanh, chè đen đóng gói dưới 3kg, các quốc gia nhập  khẩu với giá cao là Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan (xem Phụ lục 31). 

Bảng 2­5: Giá nhập khẩu chè của 05 quốc gia nhập khẩu có giá nhập khẩu cao  nhất trong giai đoạn 2005­2009 (USD/kg) 

Stt  Quốc gia  2005  2006  2007  2008  2009  Trung bình 

1  Na Uy  12,8  13,5  14,4  15,9  16,7  14,7 

2  Cộng hòa Síp  9,4  12,6  12,3  11,8  9,0  11,0 

3  Thụy Điển  9,0  9,9  9,3  8,9  12,6  9,9 

4  Phần Lan  9,3  12,4  12,7  6,8  7,9  9,8 

5  Estonia  8,3  8,4  9,5  10,4  12,1  9,7 

Thế giới  2,4  2,6  2,8  3,1  8,2  3,8 

Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58] 

Giá nhập khẩu của các loại chè xanh, chè đen đóng gói dưới 3kg, các quốc gia  nhập khẩu có giá nhập khẩu trung bình cao hơn các loại  chè dạng rời. Cụ thể, giá  nhập khẩu trung bình của loại chè xanh đóng gói đưới 3kg là 7,1USD/kg, trong đó  giá nhập khẩu trung bình của chè xanh dạng rời là 5,3 USD/kg. Giá nhập khẩu trung  bình của loại chè đen đóng gói dưới 3kg là 6,0USD/kg so với loại chè đen dạng rời  đóng gói trên 3kg là 3,1USD/kg (xem Phụ lục 31).

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 85 - 88)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)