CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới
2.1.3. Tình hình nhập khẩu chè, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô, giá chè nhập khẩu và phân khúc thị trường thế giới cho sản phẩm chè
2.1.3.1. Tổng quan tình hình nhập khẩu chè trên thế giới
Chè là một loại đồ uống phổ biến, được tiêu dùng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài tác dụng bổ dưỡng, chữa bệnh và góp phần tăng cường sức khoẻ cho con người, về mặt kinh tế, chè là loại đồ uống rẻ nhất. Trên thị trường đồ uống, nếu so với cà phê, chè chiếm 30 35% về lượng nhưng về giá trị chỉ chiếm 20% (trong khi đó, cà phê lại chiếm khoảng 60% về lượng nhưng lại chiếm 70% về giá trị).
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới bao gồm hai nhóm chè chủ yếu là chè đen và chè xanh.
Việc nhập khẩu và tiêu thụ chè phần lớn phụ thuộc vào thói quen tiêu dùng.
Trong khi ở các nước châu Á và Bắc Phi, chè chiếm vị trí chủ đạo trong tiêu dùng của người dân (nhất là các quốc gia Hồi giáo không tiêu thụ các đồ uống có men hoặc ở Hồng Kông, chè được uống thường xuyên và hầu như cả ngày), thì ở các nước khác thuộc Nam Mỹ, Nam Sahara thuộc châu Phi, chè lại ít được sử dụng.
Ngược lại, các nước rất nghèo như Sudan, Bănglađét và Afganistan thì tỷ lệ dùng chè trên đầu người lại khá cao.
Cũng như trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chè, mặc dù chè có phạm vi tiêu thụ rộng, nhưng cũng chỉ tập trung khối lượng lớn ở khoảng 26 nước. Theo ITC (Hội đồng chè thế giới), tiêu thụ chè tập trung ở 11 nước ở Châu Á (lớn nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật, các quốc gia Hồi giáo ở Trung Cận Đông); 6 nước ở Châu Phi, 5 nước châu Âu (đứng đầu là Anh và Ireland), 3 nước ở châu Mỹ và châu Đại Dương.
Một đặc điểm quan trọng khác là phần lớn sản lượng chè trên thế giới lại được tiêu dùng ngay ở các quốc gia sản xuất chè, như ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ có 45 % tổng sản lượng chè thế giới được bán ra ngoài. Về nhập khẩu chè, nếu năm 2000, toàn thế giới nhập 1.343 triệu kg thì đến năm 2008 đã đạt 1.675 triệu kg, mức tăng 24,7%. Tổng giá trị nhập khẩu toàn thế giới 5 năm gần đây ước từ 3–5 tỷ USD/năm. Trong vòng 9 năm trở lại đây, 10 quốc gia nhập khẩu chè đứng đầu trên thế giới bao gồm: Nga, Anh, Mỹ, UAE, Pakistan, Nhật Bản, Đức, Canada, Pháp và Ả rập Saudi (xemPhụ lục 31). Cụ thể, trong giai đoạn 20002008, trung bình kim ngạch nhập khẩu của Nga chiếm đến 9,2% so với tổng kim ngạch nhập khẩu chè của thế giới, Anh đạt 8,9%, kế đến là Mỹ, Pakistan, UAE, Nhật Bản lần lượt đạt 6,5%, 5,8%, 5,7% và 5,5%.
Hình 21: Xu hướng giao dịch các loại chè trên thế giới
Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58]
090210 090220 090230 090240
0 500 1000 1500 2000 2500 3000
2005 2006 2007 2008 2009
Kim ngạch nhập khẩu (triệu USD)
Năm
Về xu hướng giao dịch các loại chè, Hình 21 cho thấy xu hướng giao dịch (theo kim ngạch nhập khẩu) các loại chè trên thị trường thế giới, trong đó loại chè đen dạng rời (mã HS 090240) được giao dịch nhiều nhất trên thị trường thế giới và chè xanh dạng rời (mã HS 090220) được giao dịch ít nhất trên thị trường thế giới.
Ngoài ra qua Hình 21, chúng ta thấy xu hướng của chè đen dạng rời (mã HS 090240) được giao dịch ngày càng tăng trong những năm gần đây. Chi tiết các quốc gia nhập khẩu chính phân theo từng loại chè, xem Phụ lục 31.
Về giá nhập khẩu, tùy thuộc vào đặc điểm của từng nước và loại chè nhập khẩu, giá chè nhập khẩu của các quốc gia nhập khẩu rất khác biệt nhau. Chẳng hạn giá chè nhập khẩu trung bình trong giai đoạn 20052009 là 3,8 USD/kg, nhưng Na Uy nhập khẩu với giá là 14,7 USD/kg (gấp 4 lần so với giá trung bình của thế giới), Cộng hòa Síp nhập khẩu với giá 11 USD/kg (gấp 3 lần) (xemBảng 25). Các quốc gia nhập khẩu với giá cao tập trung vào các quốc gia như Na Uy, Cộng hòa Síp, Thụy Điển. Đối với loại chè xanh, chè đen đóng gói dưới 3kg, các quốc gia nhập khẩu với giá cao là Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan (xem Phụ lục 31).
Bảng 25: Giá nhập khẩu chè của 05 quốc gia nhập khẩu có giá nhập khẩu cao nhất trong giai đoạn 20052009 (USD/kg)
Stt Quốc gia 2005 2006 2007 2008 2009 Trung bình
1 Na Uy 12,8 13,5 14,4 15,9 16,7 14,7
2 Cộng hòa Síp 9,4 12,6 12,3 11,8 9,0 11,0
3 Thụy Điển 9,0 9,9 9,3 8,9 12,6 9,9
4 Phần Lan 9,3 12,4 12,7 6,8 7,9 9,8
5 Estonia 8,3 8,4 9,5 10,4 12,1 9,7
Thế giới 2,4 2,6 2,8 3,1 8,2 3,8
Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58]
Giá nhập khẩu của các loại chè xanh, chè đen đóng gói dưới 3kg, các quốc gia nhập khẩu có giá nhập khẩu trung bình cao hơn các loại chè dạng rời. Cụ thể, giá nhập khẩu trung bình của loại chè xanh đóng gói đưới 3kg là 7,1USD/kg, trong đó giá nhập khẩu trung bình của chè xanh dạng rời là 5,3 USD/kg. Giá nhập khẩu trung bình của loại chè đen đóng gói dưới 3kg là 6,0USD/kg so với loại chè đen dạng rời đóng gói trên 3kg là 3,1USD/kg (xem Phụ lục 31).