Chiến lược sản phẩm chè Việt Nam

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 111 - 117)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.4. Tình hình thâm nhập thị trường thế giới của chè Việt Nam

2.4.5. Thực trạng hoạch định chiến lược Marketing Mix của chè Việt Nam

2.4.5.1. Chiến lược sản phẩm chè Việt Nam

Trong Bảng 2­8 (trong mục 2.3.2) giới thiệu về cơ cấu các loại chè xuất khẩu  của Việt Nam, chúng ta thấy rằng qua 4 năm 20006­2009, hàng năm Việt Nam xuất  khẩu chủ yếu (khoảng 91­93%) là loại chè xanh, chè đen đóng gói trên 3kg. Những  loại chè này khi  xuất  khẩu thường được đóng trong bao giấy Kraft  có trọng lượng

30, 35 hoặc 50 kg, riêng chè ôlong thì đóng trong bao 18kg. Bên ngoài bao bì  chỉ  ghi  những thông  tin chung như:  tên  công  ty  xuất  khẩu  chè, phẩm  cấp  của  chè,  số  hóa đơn thương mại, trọng lượng. 

Sau đó các công ty nhập khẩu các loại chè này của Việt Nam sẽ sử dụng chè  này làm nguyên liệu để đấu trộn với cốt của các loại chè khác hoặc để chiết xuất tạo  thành các sản phẩm chè thành phẩm khác và được bán đến tay của người tiêu dùng  với thương hiệu của nhà nhập khẩu. Khi đó người tiêu dùng hoàn toàn không biết gì  đến chè của Việt Nam được sử dụng để tạo thành sản phẩm chè hoàn chỉnh mà họ  đang tiêu dùng (xem thêm Hộp 2­3). 

Hộp 2­3: Sản phẩm chè của Vinatea 

Hiện nay, sản phẩm chè xuất khẩu chủ yếu của Vinatea là loại chè nguyên  liệu,  không  thương hiệu.  Trong  những năm  gần đây mặc  dù Vinatea đã nỗ  lực  cải  tiến, đa dạng hóa  sản phẩm,  bắt  đầu  xuất  khẩu  thành phẩm có bao bì  hoàn  chỉnh nhưng vẫn chưa thể so sánh được với  các sản phẩm của các công ty chè  lớn trên thế giới như tập đoàn Goodricke (Ấn độ), Lipton hay Dimal. 

Ngoài ra, mặc dù Vinatea là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam được trang bị máy  đóng chè túi nhúng (tea bag) với dây chuyền thiết bị đồng bộ được nhập khẩu từ  Italia,  đang triển khai kinh doanh cả sản phẩm có bao bì nhãn mác hoàn chỉnh  sang Nga và EU, nhưng bao bì đóng gói sản phẩm còn nghèo nàn về hình thức,  chưa thu hút được sự chú ý của khách hàng. 

Do đó, gần nửa thế kỷ xuất khẩu chè ra thị trường thế giới, biểu tượng ba lá  chè với tên giao dịch “Vinatea” chỉ giúp các nhà nhập khẩu biết đến Việt Nam,  còn người tiêu dùng các nước thì chưa biết. 

Nguồn:Báo cáo của Vinatea

Hiện tại, chè xanh và chè đen dạng rời, đóng gói trên 3kg của Việt Nam chủ  yếu được xuất khẩu sang Phân khúc thị trường 1, 5 và 8 2 (xemBảng 2­14 và Bảng  2­15). 

Đối với phân khúc 8, chè đen dạng rời xuất khẩu sang phân khúc này là 29,6% 

sản  lượng  xuất  khẩu  chè  của  Việt  Nam.  Trong  đó  Nga  và  Pakistan  là  2  quốc  gia  nhập  khẩu  lớn  nhất  của  Việt  Nam  trong  phân  khúc  này.  Chè  xanh  dạng  rời  xuất  khẩu sang phân khúc này chiếm 19,2% sản lượng xuất khẩu, trong đó quốc gia nhập  khẩu chủ yếu trong phân khúc này là Pakistan. Đối với phân khúc 1, chè đen và chè  xanh dạng rời xuất khẩu sang phân khúc này là 10,4% và 7,2% sản lượng xuất khẩu  chè  của  Việt  Nam.  Trong đó quốc  gia nhập khẩu  chủ  yếu trong phân  khúc này  là  Đài Loan. 

Bảng 2­14: Một số chỉ tiêu về chè xanh trên 3kg xuất khẩu của Việt Nam trung  bình giai đoạn 2005­2009 theo các Phân khúc thị trường thế giới 

Phân khúc thị trường 

8 

Kim  ngạch  XK 

(1000 USD)  11.138  151  452  1.604  2.139  337  29.374  Tỷ  trọng  kim 

ngạch (%)  7,80  0,11  0,32  1,12  1,50  0,24  ­  20,56  Lượng XK (tấn)  8.226  118  334  546  2.061  209  22.133  Tỷ  trọng  lượng 

XK (%)  7,15  0,10  0,29  0,47  1,79  0,18  ­  19,23  Giá  XK  bình 

quân (usd/kg)  1,35  1,28  1,35  2,94  1,04  1,61  ­  1,33  Giá  NK  bình 

quân (usd/kg)  7,6  7,6  3,3  3,2  2,6  6,0  1,6  3,1  Nguồn: Tính toán của tác giả 

2 Các phân khúc thị trường đã trình bày trong mục 2.1.3.3

Bảng 2­15: Một số chỉ tiêu về chè đen trên 3kg xuất khẩu của Việt Nam trung  bình giai đoạn 2005­2009 theo các Phân khúc thị trường thế giới 

Phân khúc thị trường 

8 

Kim  ngạch  XK 

(1000 USD)  11.571  1.199  5.605  458  15.866  2.959  575  41.771  Tỷ  trọng  kim 

ngạch (%)  8,10  0,84  3,92  0,32  11,11  2,07  0,40  29,24  Lượng XK (tấn)  11.948  830  3.620  423  15.656  2.213  315  34.113  Tỷ  trọng  lượng 

XK (%)  10,38  0,72  3,15  0,37  13,60  1,92  0,27  29,64  Giá  XK  bình 

quân (usd/kg)  0,97  1,44  1,55  1,08  1,01  1,34  1,82  1,22  Giá  NK  bình 

quân (usd/kg)  6,5  4,9  2,5  2,3  1,9  3,2  2,7  2,4  Nguồn: Tính toán của tác giả 

Với  việc xuất  khẩu chè thô, chè nguyên liệu là chủ  yếu như trên,  nên  chủng  loại  sản  phẩm  chè  xuất  khẩu  không  có  sự đa  dạng,  hay  nói  cách  khác  ngành  chè cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam chưa có chiến lược về  sản  phẩm  một  cách  rõ  ràng.  Chúng  ta  mới  chỉ  xuất  khẩu  những  sản  phẩm  mà  chúng  ta  đang  có,  chứ  chưa  phải  xuất  khẩu  sản  phẩm  mà  người  tiêu  dùng  đang  mong đợi. Điều này có thể thấy rõ hơn khi chúng ta phân tích số liệu về thực trạng  xuất khẩu chè xanh, chè đen trên 3kg của Việt Nam theo các Phân khúc thị trường  thế giới. 

Qua các phân khúc thị trường, giá nhập khẩu trung bình giữa các phân khúc là  rất khác biệt nhau đối với từng loại chè. Chẳng hạn, đối với loại chè đen dạng rời,  phân khúc 1 nhập khẩu trung bình với giá 6,5usd/kg, phân khúc 2 nhập khẩu với giá  4,9usd/kg, phân khúc 3 là 2,5usd/kg (xem  Bảng 2­15)…, tương tự như vậy đối với  loại chè xanh dạng rời  (xem  Bảng 2­14).Nếu cho rằng giá chè nhập khẩu của một  quốc gia phản ánh chất lượng chè, tính đặc trưng của chè nhập khẩu, cho thấy đối  với một loại chè nhập khẩu, chẳng hạn như chè đen dạng rời, từng phân khúc nhập

khẩu đòi hỏi các tiêu chuẩn chè nhập khẩu khác nhau, chất lượng khác nhau và tính  đặc trưng cũng khác nhau. 

Tuy nhiên khi nhìn vào giá xuất khẩu chè của Việt Nam sang từng phân khúc  thị trường trên, chúng ta thấy rằng giữa các phân khúc thị trường, giá chè xuất khẩu  của Việt  Nam không khác biệt đáng kể.  Chẳng hạn như  đối  với  loại  chè đen dạng  rời  và  chè  xanh  dạng  rời,  giá  trung  bình  xuất  khẩu  của  Việt  Nam  sang  các  phân  khúc thị trường đều dao động từ 1­1,5usd/kg (xem Bảng 2­14 và Bảng 2­15). 

Như vậy có thể nói mặc dù cùng là nhập khẩu chè xanh nguyên liệu, chè đen  nguyên liệu, nhưng từng phân khúc thị trường có yêu cầu về chất lượng, về tính đặc  trưng  riêng  (phản  ánh qua mức  giá nhập  khẩu  của  các  phân  khúc thị  trường này),  nhưng các loại chè dạng rời xuất khẩu của Việt Nam sang từng phân khúc này đều  có  mức  giá  không  chênh  lệch  nhau  nhiều.  Do  đó  có  thể  khẳng  định  tính  đa  dạng  trong chủng loại sản phẩm xuất khẩu chè Việt Nam là chưa có và hiện nay chỉ xuất  khẩu những sản phẩm hiện có, chưa xuất khẩu những sản phẩm mà từng phân khúc  thị trường yêu cầu. 

Thời gian gần đây, các doanh nghiệp sản xuất và xuất  khẩu Việt  Nam đã bắt  đầu tìm kiếm và chuyển hướng chiến lược xuất khẩu các sản phẩm chè thành phẩm,  thay vì xuất khẩu sản phẩm chè nguyên liệu. Hiện có một vài doanh nghiệp đã phát  triển thêm một số loại chè bao gói, có tên thương hiệu Việt Nam với những tiến bộ  đáng kể về kiểu dáng, mẫu mã, bước đầu đã gây được chú ý và được chấp nhận ở  các thị trường trong và ngoài nước như: Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn  La), Shan Tuyết Suối Giàng (Yên Bái), chè Ôlong của Bảo Lộc (Lâm Đồng) (xem  thêm  Hộp  2­1,  Hộp  2­2  và  Hộp  2­4).  Tuy  nhiên  những  sản  phẩm  có  thương  hiệu  trên  mới  có  vị  thế  trên  thị  trường  trong  nước  là  chủ  yếu,  còn  xuất  khẩu  sang  các  nước kết quả vẫn còn hạn chế. 

Như vậy qua phân tích ở trên cho thấy, sản phẩm chè Việt Nam đang rất cần  đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, đáp ứng theo yêu cầu của từng phân khúc thị trường  và cần tăng dần tỷ trọng các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng, giảm dần các  sản phẩm thô, sơ chế.

Hộp 2­4: Vai trò của thương hiệu chè – Chè ôlong 

Chè  Ôlong  là  một  giống  chè  có  hương  vị  đặc  trưng  và  là  sản  phẩm  nổi  tiếng của người Trung Quốc. Đến năm 1992 cây chè này mới được du nhập vào  Việt Nam và hiện nay được trồng rộng rãi ở tỉnh Lâm Đồng. 

Đầu tiên, chè ôlong tại Việt Nam được trồng chủ yếu bởi các doanh nghiệp  Đài Loan, họ tiến hành thuê đất tại Lâm Đồng, mang giống chè, quy trình chăm  sóc, quy trình chế biến vào Việt Nam. Họ chỉ thuê người dân trồng chè tiến hành  trồng,  chăm  sóc,  hái  chè  theo  yêu  cầu  của  họ  và  được  hưởng  lương.  Riêng  bí  quyết về chế biến chè sao cho có hương vị đặc trưng thì họ trực tiếp quản lý và  đưa người phụ trách kỹ thuật  từ Đài Loan sang để thực hiện. Sau khi  chế biến  xong họ  sẽ  xuất  ngược  trở  lại  Đài  Loan  và  tại  Đài  Loan  sẽ  được  trộn  với  chè  ôlong của họ với tỷ lệ thích hợp và mang thương hiệu Cao Sơn (thương hiệu nổi  tiếng chè ôlong của Đài Loan). 

Tiếp  theo, một  số doanh nghiệp  chè  Việt  Nam  có  vùng nguyên  liệu  cũng  tiến hành trồng và chế biến chè ôlong theo quy trình của các công ty Đài Loan. 

Tuy nhiên do không có thương hiệu và thị trường đầu ra nên cũng trở thành vệ  tinh cung cấp nguyên liệu cho những công ty Đài Loan này. 

Không giống như những doanh nghiệp Việt Nam này, công ty TNHH Tâm  Châu  thực  hiện  chiến  lược  thâm  nhập  vào  thị  trường  Đài  Loan  và  thị  trường  Trung Quốc với loại chè ôlong này. Để thực hiện chiến lược này Tâm Châu đã  tiến hành nhập  khẩu  giống  chè ôlong  của  Đài  Loan,  về  ươm  và nhân  giống  tại  Việt Nam. Quy trình trồng và chế biến cũng thực hiện giống như các công ty Đài  Loan. Sau đó công ty tiến hành mở các kênh phân phối trực tiếp tại  Đài Loan,  Trung  Quốc.  Tuy  nhiên  việc  thâm  nhập  chưa  mang  lại  thành  công  cho  Tâm  Châu bởi lẽ, thương hiệu chè ôlong của Tâm Châu chưa được khẳng định, chưa  đi  vào  tâm  trí  của  người  tiêu  dùng  tại  những  quốc  gia  này  và  không  thể  cạnh  tranh với chính bậc thầy của chè ôlong là các công ty Đài Loan được (bởi vì chè  ôlong của Tâm Châu cũng có giống từ Đài Loan, công nghệ Đài Loan…, nhưng  chế biến thì không chắc đã tạo ra được hương vị phù hợp với gu của người tiêu  dùng). 

Nguồn: Phỏng vấn doanh nghiệp

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 111 - 117)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)