Mục tiêu của chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 140 - 143)

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

3.1. Mục tiêu của chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020

Trong  chương này, trước  tiên  mục  tiêu  của  chiến  lược  thâm nhập  thị  trường  thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020 được giới thiệu. Kế tiếp giới  thiệu về quan điểm phát triển xuất khẩu chè của Việt Nam đến năm 2020. Trên cơ  sở mục tiêu và quan điểm phát triển xuất khẩu chè, sẽ giới thiệu lựa chọn các chiến  lược cho xuất khẩu chè của Việt Nam. Xác định chiến lược Marketing Mix cho sản  phẩm chè của Việt Nam. Từ đó xây dựng các giải pháp thực hiện chiến lược thâm  nhập  thị  trường  thế  giới  cho  sản phẩm  chè Việt  Nam  đến năm 2020.  Sau  cùng  là  một số kiến nghị được trình bày. 

3.1.  Mục tiêu của chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè  của Việt Nam đến năm 2020 

Ngành chè đặt ra mục tiêu phát triển chung giai đoạn từ nay cho đến năm 2015  và 2020 như sau:

ã  Phỏt triển diện tớch trồng chố từ 130 ngàn ha năm 2010 lờn 135 ngàn ha vào  năm 2015 và đến năm 2020 là 150 ngàn ha. Ngành chè sẽ không phát triển  nhiều diện tích mà chú trọng giữ diện tích trồng chè ổn định.

ã  Nõng cao năng suất, chất lượng chố và phấn đấu giỏ chố xuất khẩu bằng với  giá bình quân của thế giới.

ã  Về  thị  trường  sẽ  phấn  đấu  xuất  khẩu  khoảng  70%  tổng  sản  lượng  chố  và  tiêu thụ nội địa là 30%.

ã  Về mặt hàng xuất khẩu gồm 47% chố đen, 20% sản phẩm chố mới cú giỏ trị  cao và 30% chè xanh chất lượng cao.

Bảng 3­1: Một số chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu của ngành chè 

Chỉ tiêu  Đơn vị  Năm 2015  Năm 2020 

Tổng diện tích chè cả nước  ha  135000  150000 

Sản lượng chè xuất khẩu  Tấn  200000  250000 

Kim ngạch xuất khẩu  Triệu USD  300  380 

Nguồn: Hiệp hội chè Việt Nam 

Qua phần giới thiệu về mục tiêu sản xuất và xuất khẩu của ngành chè ở phần  trên, chúng ta thấy rằng trong định hướng phát triển của ngành chè chủ yếu đề cập  đến khía cạnh sản xuất của sản phẩm chè, khía cạnh đầu ra của sản phẩm, đặc biệt  là khía cạnh xuất khẩu chưa được đề cập nhiều. Hơn nữa một số mục tiêu như diện  tích  vào năm 2020  là 150 ngàn ha  và  sản  lượng  xuất  khẩu vào năm  2015 đạt 200  ngàn tấn rất khó đạt được do một  số lý do như diện tích cây chè hiện nay bị cạnh  tranh bởi  các cây  trồng  khác như tiêu,  cà phê  tại Lâm  Đồng;  quá  trình  đô thị  hóa  diễn  ra  mạnh  mẽ;  tại  những  tỉnh  có  diện  tích  trồng  chè  lớn  ở  phía  Bắc  như  Thái  Nguyên,  Yên  Bái,  Phú  Thọ,  Tuyên  Quang…  diện  tích  có  khả  năng  trồng  chè  đã  khai  thác  gần  hết,  nên  trong  thời  gian  tới  diện  tích  trồng  chè  khó  có  thể  tăng đột  biến như cách đây 10­15 năm. 

Ngoài ra với diện tích tăng không nhanh và với năng suất hiện tại khó tăng cao  trong thời gian ngắn (do giống cũ, năng suất đã tăng nhanh trong thời gian qua) nên  khả năng tăng nhanh sản lượng xuất khẩu trong thời gian tới cũng khó đạt được. 

Do đó tác giả đưa ra mục tiêu sản xuất và mục  tiêu của chiến  lược thâm  nhập  thị  trường  thế  giới  cho  sản  phẩm  chè  của  Việt  Nam  đến  năm  2020  như  sau:

ã  Diện tớch: 

Hiện nay diện tích trồng chè là 131 ngàn ha. Trong thời gian tới giữ vững diện  tích trồng chè, tập trung trồng mới và thay thế diện tích chè cũ đạt mức độ ổn định,  đến năm 2015 đạt khoảng 135 ngàn ha, tăng bình quân 0,6%/năm; trong giai đoạn  2015­2020 tăng bình quân 0,44% và đạt 138 ngàn ha.

ã  Năng suất và sản lượng:

Mặc dù chè là cây công nghiệp truyền thống lâu đời của nước ta, nhưng năng  suất trồng chè của Việt Nam vẵn còn thấp hơn so với năng suất bình quân của thế  giới. Năm 1997, năng suất chè của Việt  Nam chỉ đạt 630kg chè khô /ha (chỉ bằng  50% năng suất của thế giới, năng suất của thế giới là 1,2 tấn/ha). Năm 2010, năng  suất  trung bình của Việt  Nam đạt 1,35 tấn/ha (bằng 84% năng suất trung bình của  thế giới). Đến năm 2015, phấn đấu năng suất bằng với năng suất trung bình của thế  giới và đến năm 2020, phấn đấu năng suất cao hơn năng suất trung bình của thế giới  là 8%. 

Tốc độ tăng sản lượng bình quân hàng năm giai đoạn 2011­2015 đạt 5%/năm,  sản lượng đạt 210 ngàn tấn khô vào năm 2015;  trong giai đoạn 2016­2020 đạt tốc  độ tăng bình quân 6%/năm, sản lượng đạt 280 ngàn tấn khô vào năm 2020.

ã  Cơ cấu thị trường trong nước và xuất khẩu: năm 2015 sản lượng xuất khẩu  chiếm 80%,  tiêu  thụ  nội  địa  20%;  năm  2020  sản  lượng  xuất  khẩu  chiếm  75%, tiêu thụ nội địa 25%.

ã  Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu: 

Tốc độ tăng khối lượng chè xuất khẩu bình quân hàng năm của cả nước trong  giai đoạn 2011­2015 đạt 5,1%/năm với khối lượng xuất khẩu đạt 170 ngàn tấn vào  năm  2015;  giai  đoạn  2016­2020  đạt  4,3%/năm  với  khối  lượng  xuất  khẩu đạt  210  ngàn tấn vào năm 2020. 

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm của cả nước trong giai  đoạn 2011­2015 đạt 7,6%/năm với kim ngạch xuất khẩu đạt 280 triệu USD vào năm  2015;  giai  đoạn  2016­2020  đạt  6,3%/năm  với  kim  ngạch  xuất  khẩu  đạt  380  triệu  USD vào năm 2020.

ã  Về mặt  hàng xuất  khẩu:  chố nguyờn liệu chiếm 85% khối  lượng chố xuất  khẩu và chè thành phẩm, có giá trị gia tăng cao chiếm 15% vào năm 2015. 

Đến  năm  2020  phấn  đấu  chè  thành  phẩm  chiếm  30%,  chè  nguyên  liệu  chiếm 70% khối lượng chè xuất khẩu.

ã  Định  hướng về  thị  trường:  tiếp  tục  củng  cố, mở  rộng  và đa  dạng  húa  thị  trường.

Hiện nay chè Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang phân khúc thị trường thứ  8 3 (52% sản lượng xuất khẩu), trong đó chủ yếu xuất khẩu sang 2 quốc gia là Nga  và Pakistan. Cần mở rộng xuất khẩu sang các nước khác thuộc phân khúc này như  Anh, Đức, Nhật Bản. Đây là phân khúc thị trường nhập khẩu lớn của thế giới, do đó  cần đẩy mạnh thâm nhập vào phân khúc thị trường này. 

Kế tiếp phân khúc thị trường thứ 1 là phân khúc đứng thứ 2 nhập khẩu chè của  Việt  Nam  (20%),  trong  đó  Việt  Nam  chủ  yếu  xuất  khẩu  sang  Đài  Loan,  như  vậy  cũng cần mở rộng xuất khẩu sang các quốc gia khác trong phân khúc thị trường này. 

Đối  với  những  phân  khúc  thị  trường  có quy  mô  nhỏ  nhưng  chấp  nhận  nhập  khẩu  những  sản  phẩm  đặc  trưng,  có  thương  hiệu  như  phân  khúc  thị  trường  thứ  2  cũng cần chú ý để thâm nhập.

ã  Xõy dựng thương hiệu chố Việt Nam trở thành loại chố cú chất lượng, an  toàn vệ sinh thực phẩm và có uy tín thương hiệu trên thị trường thế giới. 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 140 - 143)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)