CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.3. Tình hình xuất khẩu chè của Việt Nam
2.3.3. Về thị trường xuất khẩu
Trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu chè sang 107 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tuy xuất khẩu sang nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như vậy, nhưng thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam vẫn chỉ tập trung lớn vào một số quốc gia như: Pakistan, Nga, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Iraq (xem Bảng 210).
Bảng 210: Các thị trường xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam (triệu USD) Quốc gia Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Kim ngạch
Tỷ trọng (%)
Kim ngạch
Tỷ trọng (%)
Kim ngạch
Tỷ trọng (%)
Kim ngạch
Tỷ trọng (%) Pakistan 29,5 26,7 31,8 23,8 38,2 25,9 46,0 25,5
Nga 10,2 9,3 11,9 8,9 16,4 11,1 27,4 15,2
Đài Loan 19,1 17,3 19,7 14,8 21,5 14,6 24,5 13,6
Ấn Độ 8,2 7,4 1,5 1,1 3,4 2,3 9,6 5,3
Trung Quốc 7,6 6,9 17,5 13,1 6,7 4,6 7,2 4,0
Mỹ 1,6 1,4 2,5 1,8 3,1 2,1 5,8 3,2
Indonesia 1,7 1,5 3,9 2,9 3,3 2,3 5,7 3,2
Iraq 4,5 4,1 0,2 0,1 0,9 0,6 5,6 3,1
UAE 1,4 1,3 4,5 3,3 7,8 5,3 3,6 2,0
Đức 4,0 3,6 3,2 2,4 5,3 3,6 3,5 2,0
Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58]
Qua Bảng trên cho thấy hiện Pakistan là quốc gia nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam (chiếm 25,5 kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào năm 2009). Năm 2009, Nga là quốc gia nhập khẩu chè đứng thứ hai của Việt Nam, đây là thị trường chè truyền thống trước kia của Việt Nam, những năm gần đây chè xuất khẩu vào thị trường Nga liên tục tăng nhanh, từ năm 2006, chỉ chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng đến năm 2009 đã tăng lên 15,2% kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam. Ấn Độ và Trung Quốc cũng là 2 thị trường quan trọng của chè Việt Nam, nhưng số lượng và kim ngạch xuất khẩu chè sang 2 thị trường này không ổn
định. Ví dụ, năm 2006, Trung Quốc nhập khẩu chè chiếm 6,9% kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam, con số này tăng lên 13,1% vào năm 2007, nhưng lại giảm xuống còn 4,6% vào năm 2008.
Chúng ta sẽ xem xét cụ thể việc xuất khẩu chè của Việt Nam sang 3 thị trường chủ yếu sau đây:
ã Pakistan
Pakistan là một trong những nước nhập khẩu chè hàng đầu trên thế giới với lượng nhập khẩu hiện nay đạt khoảng 200 ngàn tấn/năm. Pakistan bắt đầu nhập khẩu chè của Việt Nam từ cuối những năm 90. Khối lượng chè của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này liên tục tăng và chiếm tới 11% thị phần chè của nước này.
Pakistan nhập khẩu cả chè xanh và chè đen của Việt Nam. Năm 2009, Pakistan nhập khẩu 18,7 ngàn tấn chè xanh của Việt Nam (chiếm 13,9% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam) và nhập khẩu 13,3 ngàn tấn chè đen của Việt Nam (chiếm 9,9% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam). Mặc dù nhu cầu tiêu thụ nội địa của Pakistan chủ yếu là chè đen CTC, nhưng Pakistan lại nhập khẩu một lượng chè xanh rất lớn của Việt Nam, lý do chủ yếu là với loại chè này các công ty Pakistan nhập khẩu về chủ yếu để chế biến lại rồi tái xuất sang Afganistan.
ã Nga
Chè là loại nước uống truyền thống của Nga với lượng tiêu thụ đạt khoảng 190 ngàn tấn vào năm 2009. Hiện nay tại Nga, 80% lượng chè nhập khẩu dưới dạng rời và chỉ có 20% sản phẩm chè được nhập khẩu dưới dạng bao gói thành phẩm. Xuất khẩu chè của Việt Nam vào thị trường này bắt đầu hồi phục sau nhiều năm liên tục suy giảm do bất ổn về chính trị tại nước này. Nga hiện nay nhập khẩu chủ yếu từ Việt Nam là loại chè đen dạng rời, năm 2009, Nga nhập khẩu 21,1 ngàn tấn chè loại này (chiếm 15,7% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam), trong khi đó chè xanh dạng rời, năm 2009, Nga chỉ nhập khẩu một số lượng rất ít là 0,65 ngàn tấn (chiếm tỷ lệ 0,48% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam).
ã Đài Loan
Hàng năm, Đài Loan nhập chè khá lớn từ các nước và chè nhập khẩu không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn để gia công chế biến xuất khẩu sang các nước khác.
Lượng chè xuất khẩu của Việt Nam luôn đứng hàng đầu sang thị trường này. Hiện nay Đài Loan là thị trường chè lớn thứ 3 đối với chè của Việt Nam. Năm 2009, Đài Loan nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là chè đen dạng rời với hơn 11 ngàn tấn (chiếm 8,2% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam), kế đến là chè xanh dạng rời với 7,2 ngàn tấn (chiếm 5,4%), tiếp theo là chè xanh dưới 3kg với 1,6 ngàn tấn chè nhập khẩu (chiếm 1,2%) và cuối cùng là 477 tấn chè đen dưới 3kg (chiếm 0,4%).
Chỉ với 3 thị trường trên đã chiếm 54,3% kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào năm 2009 và chiếm 54,4% sản lượng xuất khẩu chè của Việt Nam. Như vậy hiện nay thị trường nhập khẩu chè của Việt Nam rất tập trung và phụ thuộc phần lớn vào 3 thị trường này.
Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét cụ thể việc xuất khẩu chè của Việt Nam sang 8 Phân khúc thị trường thế giới:
QuaBảng 211 cho thấy Phân khúc 8 hiện là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, với khối lượng là 59.978 tấn, chiếm đến 52,1% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam. Trong phân khúc 8 này, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu loại chè xanh và chè đen dạng rời. Chè đen dạng rời của Việt Nam xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 34.113 tấn (chiếm 29,6% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam) và chè xanh dạng rời xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 22.133 tấn (chiếm 19,2%).
Bảng 211: Một số chỉ tiêu về chè xuất khẩu của Việt Nam trung bình giai đoạn 20052009 theo các Phân khúc thị trường thế giới
Phân khúc thị trường
1 2 3 4 5 6 7 8
Kim ngạch XK
(1000 USD) 26.089 1.360 7.847 2.096 19.012 3.547 589 76.680 Tỷ trọng kim
ngạch (%) 18,3 1,0 5,5 1,5 13,3 2,5 0,4 53,7 Lượng XK (tấn) 22.978 965 4.687 992 18.850 2.654 322 59.978 Tỷ trọng lượng
XK (%) 20,0 0,8 4,1 0,9 16,4 2,3 0,3 52,1
Giá XK bình
quân (usd/kg) 1,1 1,4 1,7 2,1 1,0 1,3 1,8 1,3 Nguồn: Tính toán của tác giả
Tiếp theo, Phân khúc 1 là thị trường nhập khẩu chè lớn thứ hai của Việt Nam, với khối lượng nhập khẩu là 22.978 tấn, chiếm 20% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam. Trong phân khúc 1 này, Việt Nam cũng chủ yếu xuất khẩu loại chè xanh và chè đen dạng rời. Chè đen dạng rời của Việt Nam xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 11.948 tấn (chiếm 10,4% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam) và chè xanh dạng rời xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 8.226 tấn (chiếm 7,1%).
Tiếp theo, Phân khúc 5 là thị trường nhập khẩu chè lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 16,4% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam. Việt Nam xuất sang Phân khúc này chủ yếu là chè đen dạng rời, với khối lượng 15.656 tấn, chiếm 13,6%.
Do xuất khẩu chè chủ yếu ở dạng nguyên liệu, nên giá xuất khẩu chè của Việt Nam vào những Phân khúc này rất thấp. Cụ thể giá xuất khẩu trung bình của chè Việt Nam xuất khẩu vào Phân khúc 8 là 1,3usd/kg, trong khi đó giá nhập khẩu trung bình của Phân khúc này là 2,9usd/kg. Tương tự như vậy, giá xuất khẩu chè Việt Nam vào Phân khúc 1 và 5 là 1,1usd/kg và 1,0 usd/kg, trong khi đó giá nhập khẩu trung bình của hai phân khúc này lần lượt là 7,4usd/kg và 2,3usd/kg.