Về thị trường xuất khẩu

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 99 - 102)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.3. Tình hình xuất khẩu chè của Việt Nam

2.3.3. Về thị trường xuất khẩu

Trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu chè sang 107 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Tuy xuất khẩu sang nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như vậy, nhưng thị trường xuất  khẩu  chè  của Việt  Nam  vẫn chỉ  tập  trung  lớn  vào một  số quốc  gia như:  Pakistan,  Nga, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Iraq (xem Bảng 2­10). 

Bảng 2­10: Các thị trường xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam (triệu USD)  Quốc gia  Năm 2006  Năm 2007  Năm 2008  Năm 2009 

Kim  ngạch 

Tỷ trọng  (%) 

Kim  ngạch 

Tỷ trọng  (%) 

Kim  ngạch 

Tỷ trọng  (%) 

Kim  ngạch 

Tỷ trọng  (%)  Pakistan  29,5  26,7  31,8  23,8  38,2  25,9  46,0  25,5 

Nga  10,2  9,3  11,9  8,9  16,4  11,1  27,4  15,2 

Đài Loan  19,1  17,3  19,7  14,8  21,5  14,6  24,5  13,6 

Ấn Độ  8,2  7,4  1,5  1,1  3,4  2,3  9,6  5,3 

Trung Quốc  7,6  6,9  17,5  13,1  6,7  4,6  7,2  4,0 

Mỹ  1,6  1,4  2,5  1,8  3,1  2,1  5,8  3,2 

Indonesia  1,7  1,5  3,9  2,9  3,3  2,3  5,7  3,2 

Iraq  4,5  4,1  0,2  0,1  0,9  0,6  5,6  3,1 

UAE  1,4  1,3  4,5  3,3  7,8  5,3  3,6  2,0 

Đức  4,0  3,6  3,2  2,4  5,3  3,6  3,5  2,0 

Nguồn: United Nations Commodity Trade Statistics Database [58] 

Qua Bảng trên cho thấy hiện Pakistan là quốc gia nhập khẩu chè lớn nhất của  Việt Nam (chiếm 25,5 kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào năm 2009). Năm  2009, Nga là quốc gia nhập khẩu chè đứng thứ hai của Việt Nam, đây là thị trường  chè truyền thống trước kia của Việt Nam, những năm gần đây chè xuất khẩu vào thị  trường Nga liên tục tăng nhanh, từ năm 2006, chỉ chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu  của Việt Nam nhưng đến năm 2009 đã tăng lên 15,2% kim ngạch xuất khẩu chè của  Việt  Nam.  Ấn  Độ  và  Trung  Quốc  cũng  là  2  thị  trường  quan  trọng  của  chè  Việt  Nam, nhưng số lượng và kim ngạch xuất khẩu chè sang 2 thị trường này không ổn

định.  Ví  dụ,  năm  2006,  Trung  Quốc  nhập  khẩu  chè  chiếm  6,9%  kim  ngạch  xuất  khẩu chè của Việt Nam, con số này tăng lên 13,1% vào năm 2007, nhưng lại giảm  xuống còn 4,6% vào năm 2008. 

Chúng ta sẽ xem xét cụ thể việc xuất khẩu chè của Việt Nam sang 3 thị trường  chủ yếu sau đây:

ã  Pakistan 

Pakistan  là một  trong những  nước nhập  khẩu  chè hàng đầu  trên  thế  giới  với  lượng  nhập  khẩu  hiện  nay  đạt  khoảng  200  ngàn  tấn/năm.  Pakistan  bắt  đầu  nhập  khẩu chè của Việt Nam từ cuối những năm 90. Khối lượng chè của Việt Nam xuất  khẩu sang thị trường này liên tục tăng và chiếm tới 11% thị phần chè của nước này. 

Pakistan  nhập  khẩu  cả  chè  xanh  và  chè  đen  của  Việt  Nam.  Năm  2009,  Pakistan  nhập khẩu 18,7 ngàn tấn chè xanh của Việt Nam (chiếm 13,9% sản lượng chè xuất  khẩu  của  Việt  Nam)  và  nhập  khẩu  13,3  ngàn  tấn  chè  đen  của  Việt  Nam  (chiếm  9,9% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam). Mặc dù nhu cầu tiêu thụ nội địa của  Pakistan  chủ  yếu  là  chè  đen  CTC,  nhưng  Pakistan  lại  nhập  khẩu  một  lượng  chè  xanh rất lớn của Việt Nam, lý do chủ yếu là với loại chè này các công ty Pakistan  nhập khẩu về chủ yếu để chế biến lại rồi tái xuất sang Afganistan.

ã  Nga 

Chè là loại nước uống truyền thống của Nga với lượng tiêu thụ đạt khoảng 190  ngàn tấn vào năm 2009. Hiện nay tại Nga, 80% lượng chè nhập khẩu dưới dạng rời  và chỉ có 20% sản phẩm chè được nhập khẩu dưới dạng bao gói thành phẩm. Xuất  khẩu chè của Việt Nam vào thị trường này bắt đầu hồi phục sau nhiều năm liên tục  suy giảm do bất ổn về chính trị  tại nước này. Nga hiện nay nhập khẩu chủ  yếu từ  Việt Nam là loại chè đen dạng rời, năm 2009, Nga nhập khẩu 21,1 ngàn tấn chè loại  này (chiếm 15,7% sản lượng chè xuất  khẩu của Việt  Nam), trong khi đó chè xanh  dạng rời, năm 2009, Nga chỉ nhập khẩu một số lượng rất ít là 0,65 ngàn tấn (chiếm  tỷ lệ 0,48% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam).

ã  Đài Loan 

Hàng năm, Đài  Loan nhập chè khá lớn từ các nước và chè nhập khẩu không  chỉ tiêu thụ trong nước mà còn để gia công chế biến xuất khẩu sang các nước khác.

Lượng chè xuất khẩu của Việt Nam luôn đứng hàng đầu sang thị trường này. Hiện  nay Đài Loan là thị trường chè lớn thứ 3 đối với chè của Việt Nam. Năm 2009, Đài  Loan  nhập  khẩu  từ  Việt  Nam  chủ  yếu  là  chè  đen  dạng  rời  với  hơn  11  ngàn  tấn  (chiếm 8,2% sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam), kế đến là chè xanh dạng rời  với 7,2 ngàn tấn (chiếm 5,4%), tiếp theo là chè xanh dưới 3kg với 1,6 ngàn tấn chè  nhập khẩu (chiếm 1,2%) và cuối cùng là 477 tấn chè đen dưới 3kg (chiếm 0,4%). 

Chỉ  với 3 thị  trường trên đã chiếm 54,3% kim ngạch xuất khẩu chè của Việt  Nam vào năm 2009 và chiếm 54,4% sản lượng xuất khẩu chè của  Việt Nam. Như  vậy  hiện  nay  thị  trường  nhập  khẩu  chè  của  Việt  Nam  rất  tập  trung  và  phụ  thuộc  phần lớn vào 3 thị trường này. 

Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét cụ thể việc xuất khẩu chè của Việt Nam sang  8 Phân khúc thị trường thế giới: 

QuaBảng 2­11 cho thấy Phân khúc 8 hiện là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất  của Việt Nam, với khối lượng là 59.978 tấn, chiếm đến 52,1% khối lượng xuất khẩu  chè  của  Việt  Nam.  Trong  phân khúc 8 này,  Việt  Nam  chủ  yếu  xuất  khẩu  loại  chè  xanh  và  chè  đen  dạng  rời.  Chè  đen  dạng  rời  của  Việt  Nam  xuất  khẩu  sang  Phân  khúc này đạt 34.113 tấn (chiếm 29,6% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam) và  chè xanh dạng rời xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 22.133 tấn (chiếm 19,2%). 

Bảng 2­11: Một số chỉ tiêu về chè xuất khẩu của Việt Nam trung bình giai đoạn  2005­2009 theo các Phân khúc thị trường thế giới 

Phân khúc thị trường 

8 

Kim  ngạch  XK 

(1000 USD)  26.089  1.360  7.847  2.096  19.012  3.547  589  76.680  Tỷ  trọng  kim 

ngạch (%)  18,3  1,0  5,5  1,5  13,3  2,5  0,4  53,7  Lượng XK (tấn)  22.978  965  4.687  992  18.850  2.654  322  59.978  Tỷ  trọng  lượng 

XK (%)  20,0  0,8  4,1  0,9  16,4  2,3  0,3  52,1 

Giá  XK  bình 

quân (usd/kg)  1,1  1,4  1,7  2,1  1,0  1,3  1,8  1,3  Nguồn: Tính toán của tác giả

Tiếp theo, Phân khúc 1 là thị trường nhập khẩu chè lớn thứ hai của Việt Nam,  với khối lượng nhập khẩu là 22.978 tấn, chiếm 20% khối lượng xuất khẩu chè của  Việt Nam. Trong phân khúc 1 này, Việt Nam cũng chủ yếu xuất khẩu loại chè xanh  và chè đen dạng rời. Chè đen dạng rời của Việt Nam xuất khẩu sang Phân khúc này  đạt 11.948 tấn (chiếm 10,4% khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam) và chè xanh  dạng rời xuất khẩu sang Phân khúc này đạt 8.226 tấn (chiếm 7,1%). 

Tiếp theo, Phân khúc 5 là thị trường nhập khẩu chè lớn thứ 3 của Việt Nam,  chiếm  16,4%  khối  lượng  xuất  khẩu  chè  của  Việt  Nam.  Việt  Nam  xuất  sang  Phân  khúc này chủ yếu là chè đen dạng rời, với khối lượng 15.656 tấn, chiếm 13,6%. 

Do xuất khẩu chè chủ yếu ở dạng nguyên liệu, nên giá xuất khẩu chè của Việt  Nam  vào những Phân  khúc này  rất  thấp.  Cụ  thể  giá xuất  khẩu  trung  bình của  chè  Việt Nam xuất khẩu vào Phân khúc 8 là 1,3usd/kg, trong khi đó giá nhập khẩu trung  bình  của  Phân  khúc  này  là  2,9usd/kg.  Tương  tự  như  vậy,  giá  xuất  khẩu  chè  Việt  Nam vào Phân khúc 1 và 5 là 1,1usd/kg và 1,0 usd/kg, trong khi đó giá nhập khẩu  trung bình của hai phân khúc này lần lượt là 7,4usd/kg và 2,3usd/kg. 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 99 - 102)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)