Đối với Nhà nước

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 172 - 176)

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

3.6.1. Đối với Nhà nước

3.6.1.1.  Chính sách quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu 

Quy  hoạch  và  thực  hiện  quy  hoạch  những  vùng  sản  xuất  chè  hàng  hóa  tập  trung, chuyên canh, tạo vùng nguyên liệu có chất lượng cao gắn với hệ thống tiêu  thụ và các cơ sở chế biến. Quy hoạch những vùng chè trọng điểm, những vùng chè  đặc sản nổi tiếng (Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng…)  bằng các chính sách đầu tư hạ tầng, cụm liên kết  ngành (cả ngang và dọc). Chẳng  hạn như hiện nay chè xanh Thái Nguyên, chè Suối Giàng có tiếng trong cả nước, do  đó  cần  khẩn  trương quy  hoạch để  có  thể mở rộng  thị trường  và phát  triển  thương  hiệu loại chè xanh ở cả thị trường trong và ngoài nước. 

Quản lý đầu tư công nghiệp chế biến chè nhằm cân đối công suất chế biến với  khả năng vùng nguyên liệu. Cân đối các vùng nguyên liệu, định hướng những diện  tích đất phù hợp để trồng chè. Tiêu chuẩn hóa về công nghệ, quy trình quản lý, chất  lượng sản phẩm,  vùng nguyên liệu... đối  với  các  cơ  sở chế biến  chè công nghiệp. 

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần có chế tài đối với những cơ sở chế biến, nhà máy

không đủ điều kiện về công nghệ, thiết bị, nguồn nguyên liệu. Buộc phải nâng cấp  hoặc ngừng sản xuất, đóng cửa. 

3.6.1.2.  Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường xuất khẩu

ã  Tham gia cỏc hiệp định thương mại song phương, khu vực và đa phương,  mở rộng tiếp cận thị trường cho sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam. 

Những  tác động ở  tầm  vĩ  mô  là  vô  cùng quan  trọng  trong  việc phát  triển  thị  trường xuất khẩu và đảm bảo sự an toàn, bền vững cho hoạt động xuất khẩu. Việc  tăng cường phát triển quan hệ hợp tác lâu dài ở cấp Trung ương, cấp tỉnh giữa Việt  Nam và các nước, thực hiện ký kết các Hiệp định thương mại song phương (nhất là  với các nước có nhu cầu nhập khẩu chè), duy trì quan hệ thương mại bền vững ổn  định sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất­ kinh doanh xuất khẩu, hạn chế tình  trạng bị động như thời  gian qua. Đặc biệt, việc cải thiện quan hệ thương mại giữa  Việt  Nam  với  các quốc  gia  còn  tạo  cơ hội  cho các doanh nghiệp  tăng  cường  mua  bán trực tiếp với đối tác nước ngoài, từ đó có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động  xuất khẩu. 

Những cuộc đàm phán nhằm nới lỏng các hàng rào phi thuế quan nhằm thống  nhất hóa  các  tiêu  chuẩn  vệ  sinh,  tiêu  chuẩn  kỹ  thuật,  công nhận  lẫn nhau  các  tiêu  chuẩn kỹ thuật và biện pháp kỹ thuật kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn chất lượng, vệ  sinh an toàn thực phẩm... có ý nghĩa thiết thực, “mở đường” cho các doanh nghiệp  xuất khẩu hàng hóa một cách thuận lợi.

ã  Thụng qua cỏc thương vụ, cỏc trung tõm thương mại của Việt Nam ở nước  ngoài quảng bá, giới thiệu sản phẩm chè của Việt Nam. 

Thiết lập các văn phòng đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài và xây  dựng  các  Trung  tâm  thương  mại  Việt  Nam  ở  nước  ngoài,  nhất  là  tại  những  thị  trường nhập khẩu chè lớn và quan trọng của Việt Nam. Những văn phòng này ngoài  chức năng giới thiệu thương hiệu chè Việt Nam, là cầu nối giữa các doanh nghiệp  trong  nước và  doanh  nghiệp  nhập  khẩu, còn có  chức  năng quan  trọng  là  thu  thập  thông  tin  thị  trường,  nắm  bắt  sự  thay  đổi  về  nhu  cầu,  thị  hiếu  tiêu  dùng  tại  nước  nhập khẩu, xu hướng giao dịch chè tại quốc gia nhập khẩu và cung cấp những thông  tin này cho các doanh nghiệp trong nước để định hướng sản xuất.

Thúc đẩy vai trò xúc tiến thương mại của các tham tán thương mại ở các nước  trong việc quảng bá thương hiệu chè Việt, tìm kiếm và cung cấp thông tin thị trường  cho  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu.  Tăng  cường  xúc  tiến  thương  mại,  quảng  bá  và  từng bước khẳng định thương hiệu, nhãn hiệu chè Việt Nam trên thị trường thế giới. 

Tổ chức hội chợ và triển lãm cho các nhà sản xuất, người buôn bán trong nước và  quốc tế. Tổ chức các phái đoàn thương mại của Chính phủ và hiệp hội làm việc với  thị trường chè nước ngoài ở cả các công ty nhà nước và tư nhân để họ có cơ hội gặp  gỡ với các nhà môi  giới và khách hàng từ đó thiết lập các mối quan hệ mới, tham  quan tình hình sản xuất chè ở các nước sản xuất chính.

ã  Tổ chức, phỏt triển mạng lưới thụng tin thương mại quốc gia 

Nghiên cứu và tổ chức tốt  hệ thống thông tin thường xuyên về thị  trường sẽ  tạo điều kiện cho người sản xuất, kinh doanh xuất khẩu nắm bắt được những cơ hội  của  thị  trường,  đồng  thời  giúp  các  cơ  quan  chức  năng  của  Nhà  nước  nắm  được  những diễn biến của thị trường để kịp thời ứng phó nhằm thực hiện chức năng điều  hành vĩ mô đối với thị trường. 

Do  đó  cần  tích  hợp  các  nguồn  thông  tin  về  thị  trường  chè  thế  giới  và  trong  nước như: biến động giá trên thị trường thế giới; thị hiếu, khẩu vị của người dùng  chè ở các nước tiêu thụ chè lớn trên thế giới; cung cầu chè thế giới; tình hình mua  bán chè trên thế giới; chính sách liên quan đến quản lý chất lượng vệ sinh an toàn,  thuế quan  của  các  nước  nhập  khẩu,...  vào  website  của  Bộ  Nông  nghiệp  và  PTNT  hoặc  Hiệp  hội  chè  Việt  Nam  để  xây  dựng  hệ  thống  thông  tin  quốc  gia  về  ngành  hàng chè xuất khẩu. Qua đó giúp người xuất khẩu chè Việt Nam hiểu biết, vận dụng  và tổ chức sản xuất tạo những sản phẩm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng và  tuân thủ luật pháp của nước nhập khẩu. 

Ngoài ra, Bộ Công Thương và Bộ chuyên ngành cần tạo điều kiện thuận lợi để  các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu chè xúc tiến mở văn phòng đại diện ở nước  ngoài, tăng cường cơ hội  tiếp cận trực tiếp với người  tiêu dùng nước ngoài, từ đó  củng cố và phát  triển thị  trường, tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với  bạn  hàng nước ngoài.

3.6.1.3.  Chính  sách  hoàn  thiện  phương  thức  tổ  chức  quản  lý  ngành  chè  và  kiểm soát chất lượng chè 

Để  tạo  ra  một  sản phẩm  chè  thành  phẩm,  liên quan  đến  rất  nhiều  khâu như  trồng,  chế biến, đấu  trộn, đóng  gói  và  tiêu  thụ.  Trong  khi  đó, do  thiếu sự  liên  kết  chặt chẽ giữa hộ trồng chè, người thu mua, các nhà sản xuất, chế biến, đơn vị xuất  khẩu và hệ thống quản lý nhà nước chưa đạt hiệu quả, hiệu lực như mong muốn nên  dẫn đến tình trạng tranh mua tranh bán, sốt  giá ảo và cho ra thị  trường những sản  phẩm kém chất lượng. 

Do đó, để tạo ra được uy tín về thương hiệu, uy tín về chất lượng của ngành  chè Việt Nam  trên thị trường thế giới, quan trọng nhất là cách tổ chức quản lý hết  sức chặt chẽ, khoa học giữa các khâu canh tác, công nghiệp chế biến, kho tàng, hệ  thống phân phối sản phẩm. Cụ thể: 

­ Không chỉ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng đối với chè thành phẩm, mà còn  phải phải xây dựng các tiêu chuẩn đối với việc trồng chè, thu hoạch, chế biến, đóng  gói. 

­ Thiết lập và thực thi hệ thống kiểm soát chất lượng chè xuất khẩu và chè nội  tiêu  ở  tất  cả  các  khâu  thiết  yếu  nhất  của  hệ  thống  canh  tác  (trồng,  chăm  sóc,  thu  hoạch, bảo  quản  nguyên  liệu);  trong  nhà máy  chế  biến  (dây  chuyền,  thiết  bị,  quy  trình công nghệ, vệ sinh công nghiệp); và xuất khẩu. 

­ Đầu tư xây dựng hệ thống kiểm nghiệm chất lượng, đặc biệt dư lượng hóa lý  trong sản phẩm chè tại các vùng, trên phạm vi cả nước, bằng hình thức các trạm cố  định và lưu động, cả nội địa và cửa khẩu, vừa kiểm soát định kỳ vừa kiểm soát theo  lô  mẫu,  lô  hàng,  không  để  lọt  sản  phẩm  không  đủ  tiêu  chuẩn  chất  lượng  ra  thị  trường. 

3.6.1.4.  Các chính sách khuyến khích hỗ trợ khác 

Thực  thi  những hỗ  trợ nằm  trong hộp  xanh  theo  Hiệp định nông nghiệp  của  WTO nhằm hỗ trợ cho ngành trồng chè. Những họat động có thể là cải thiện cơ sở  hạ  tầng:  nâng  cao  chất  lượng  đường  giao  thông,  nhà  kho  bãi  và  phương  tiện  vận  chuyển; đầu tư vào thủy lợi sẽ tạo điều kiện cho cach tác chè vào mùa khô; ưu tiên  đầu tư cho  công nghệ chế biến để tạo ra giá trị  gia tăng cho sản phẩm chè; đầu tư

cho các hệ thống cơ sở cần thiết để phát triển ngành chế biến, đóng gói; nghiên cứu,  nhập  nội  giống  chè  giúp  những  người  trồng  chè  cải  thiện  được  năng  suất;  tăng  cường dịch  vụ  khuyến  nông cho  các hộ  trồng  chè, phổ  biến những  kỹ  thuật  trồng  trọt với chi phí thấp nhưng có thể cho giá trị lớn. 

Hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ  quản lý, cán bộ kỹ thuật nhằm xây dựng đội ngũ quản lý của doanh nghiệp có trình  độ, có năng lực kinh doanh và có sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia trong các ngành  nghề có liên quan như quảng bá thương hiệu, xây dựng thương hiệu… 

Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư, xây dựng những chính sách phù hợp tạo điều kiện  cho  các  doanh  nghiệp  xây  dựng  thương  hiệu  cho  chè  Việt  Nam.  Chẳng hạn,  Nhà  nước  cần  có  chính  sách  lựa  chọn  những  doanh  nghiệp  xuất  khẩu  chè  lớn  để  xây  dựng thương hiệu, đồng thời, cho những doanh nghiệp này vay vốn với lãi suất ưu  đãi giống như cho vay ưu đãi dài hạn khi đầu tư xây dựng thương hiệu bởi lẽ chi phí  xây dựng thương hiệu quá lớn nhiều khi làm các doanh nghiệp nản chí. 

Hỗ trợ một phần kinh phí cho việc đăng ký, bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho một số  vùng  chè  nổi  tiếng  của  Việt  Nam  như  Bảo  Lộc,  Suối  Giàng,  Phú  Thọ,  Tuyên  Quang, Thái Nguyên. 

Thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu chè, dựa trên nguồn thu là mua bảo hiểm  với  mức  giá  bảo  hiểm  đảm  bảo  cho  người  kinh  doanh  thu  hồi  được  vốn  đầu  tư,  trang trải  được chi  phí  và có lợi  nhuận thỏa đáng. Khi  xuất khẩu với  mức giá cao  hơn mức giá bảo hiểm thì thu một phần chênh lệch đưa vào quỹ bảo hiểm. Ngược  lại, khi giá xuất khẩu xuống thấp thì trích Quỹ để hỗ trợ cho các thành viên. 

Hỗ trợ tài chính để giúp hộ nông dân trồng chè hữu cơ hoặc sản xuất theo quy  trình VietGAP, Global GAP đạt được các chứng nhận của các công ty nước ngoài. 

Ngoài  ra,  Nhà  nước  cần  hỗ  trợ  về  mặt  tài  chính  cho  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu chè thực hiện việc tham gia các hội  trợ, triển lãm chè trên thế giới để doanh  nghiệp có cơ hội tìm các đối tác. 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 172 - 176)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)