CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CHO SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
3.6.1. Đối với Nhà nước
3.6.1.1. Chính sách quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch những vùng sản xuất chè hàng hóa tập trung, chuyên canh, tạo vùng nguyên liệu có chất lượng cao gắn với hệ thống tiêu thụ và các cơ sở chế biến. Quy hoạch những vùng chè trọng điểm, những vùng chè đặc sản nổi tiếng (Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng…) bằng các chính sách đầu tư hạ tầng, cụm liên kết ngành (cả ngang và dọc). Chẳng hạn như hiện nay chè xanh Thái Nguyên, chè Suối Giàng có tiếng trong cả nước, do đó cần khẩn trương quy hoạch để có thể mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu loại chè xanh ở cả thị trường trong và ngoài nước.
Quản lý đầu tư công nghiệp chế biến chè nhằm cân đối công suất chế biến với khả năng vùng nguyên liệu. Cân đối các vùng nguyên liệu, định hướng những diện tích đất phù hợp để trồng chè. Tiêu chuẩn hóa về công nghệ, quy trình quản lý, chất lượng sản phẩm, vùng nguyên liệu... đối với các cơ sở chế biến chè công nghiệp.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần có chế tài đối với những cơ sở chế biến, nhà máy
không đủ điều kiện về công nghệ, thiết bị, nguồn nguyên liệu. Buộc phải nâng cấp hoặc ngừng sản xuất, đóng cửa.
3.6.1.2. Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường xuất khẩu
ã Tham gia cỏc hiệp định thương mại song phương, khu vực và đa phương, mở rộng tiếp cận thị trường cho sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam.
Những tác động ở tầm vĩ mô là vô cùng quan trọng trong việc phát triển thị trường xuất khẩu và đảm bảo sự an toàn, bền vững cho hoạt động xuất khẩu. Việc tăng cường phát triển quan hệ hợp tác lâu dài ở cấp Trung ương, cấp tỉnh giữa Việt Nam và các nước, thực hiện ký kết các Hiệp định thương mại song phương (nhất là với các nước có nhu cầu nhập khẩu chè), duy trì quan hệ thương mại bền vững ổn định sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh xuất khẩu, hạn chế tình trạng bị động như thời gian qua. Đặc biệt, việc cải thiện quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia còn tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tăng cường mua bán trực tiếp với đối tác nước ngoài, từ đó có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu.
Những cuộc đàm phán nhằm nới lỏng các hàng rào phi thuế quan nhằm thống nhất hóa các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật, công nhận lẫn nhau các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp kỹ thuật kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm... có ý nghĩa thiết thực, “mở đường” cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa một cách thuận lợi.
ã Thụng qua cỏc thương vụ, cỏc trung tõm thương mại của Việt Nam ở nước ngoài quảng bá, giới thiệu sản phẩm chè của Việt Nam.
Thiết lập các văn phòng đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài và xây dựng các Trung tâm thương mại Việt Nam ở nước ngoài, nhất là tại những thị trường nhập khẩu chè lớn và quan trọng của Việt Nam. Những văn phòng này ngoài chức năng giới thiệu thương hiệu chè Việt Nam, là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nhập khẩu, còn có chức năng quan trọng là thu thập thông tin thị trường, nắm bắt sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng tại nước nhập khẩu, xu hướng giao dịch chè tại quốc gia nhập khẩu và cung cấp những thông tin này cho các doanh nghiệp trong nước để định hướng sản xuất.
Thúc đẩy vai trò xúc tiến thương mại của các tham tán thương mại ở các nước trong việc quảng bá thương hiệu chè Việt, tìm kiếm và cung cấp thông tin thị trường cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá và từng bước khẳng định thương hiệu, nhãn hiệu chè Việt Nam trên thị trường thế giới.
Tổ chức hội chợ và triển lãm cho các nhà sản xuất, người buôn bán trong nước và quốc tế. Tổ chức các phái đoàn thương mại của Chính phủ và hiệp hội làm việc với thị trường chè nước ngoài ở cả các công ty nhà nước và tư nhân để họ có cơ hội gặp gỡ với các nhà môi giới và khách hàng từ đó thiết lập các mối quan hệ mới, tham quan tình hình sản xuất chè ở các nước sản xuất chính.
ã Tổ chức, phỏt triển mạng lưới thụng tin thương mại quốc gia
Nghiên cứu và tổ chức tốt hệ thống thông tin thường xuyên về thị trường sẽ tạo điều kiện cho người sản xuất, kinh doanh xuất khẩu nắm bắt được những cơ hội của thị trường, đồng thời giúp các cơ quan chức năng của Nhà nước nắm được những diễn biến của thị trường để kịp thời ứng phó nhằm thực hiện chức năng điều hành vĩ mô đối với thị trường.
Do đó cần tích hợp các nguồn thông tin về thị trường chè thế giới và trong nước như: biến động giá trên thị trường thế giới; thị hiếu, khẩu vị của người dùng chè ở các nước tiêu thụ chè lớn trên thế giới; cung cầu chè thế giới; tình hình mua bán chè trên thế giới; chính sách liên quan đến quản lý chất lượng vệ sinh an toàn, thuế quan của các nước nhập khẩu,... vào website của Bộ Nông nghiệp và PTNT hoặc Hiệp hội chè Việt Nam để xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về ngành hàng chè xuất khẩu. Qua đó giúp người xuất khẩu chè Việt Nam hiểu biết, vận dụng và tổ chức sản xuất tạo những sản phẩm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng và tuân thủ luật pháp của nước nhập khẩu.
Ngoài ra, Bộ Công Thương và Bộ chuyên ngành cần tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu chè xúc tiến mở văn phòng đại diện ở nước ngoài, tăng cường cơ hội tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng nước ngoài, từ đó củng cố và phát triển thị trường, tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với bạn hàng nước ngoài.
3.6.1.3. Chính sách hoàn thiện phương thức tổ chức quản lý ngành chè và kiểm soát chất lượng chè
Để tạo ra một sản phẩm chè thành phẩm, liên quan đến rất nhiều khâu như trồng, chế biến, đấu trộn, đóng gói và tiêu thụ. Trong khi đó, do thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa hộ trồng chè, người thu mua, các nhà sản xuất, chế biến, đơn vị xuất khẩu và hệ thống quản lý nhà nước chưa đạt hiệu quả, hiệu lực như mong muốn nên dẫn đến tình trạng tranh mua tranh bán, sốt giá ảo và cho ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng.
Do đó, để tạo ra được uy tín về thương hiệu, uy tín về chất lượng của ngành chè Việt Nam trên thị trường thế giới, quan trọng nhất là cách tổ chức quản lý hết sức chặt chẽ, khoa học giữa các khâu canh tác, công nghiệp chế biến, kho tàng, hệ thống phân phối sản phẩm. Cụ thể:
Không chỉ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng đối với chè thành phẩm, mà còn phải phải xây dựng các tiêu chuẩn đối với việc trồng chè, thu hoạch, chế biến, đóng gói.
Thiết lập và thực thi hệ thống kiểm soát chất lượng chè xuất khẩu và chè nội tiêu ở tất cả các khâu thiết yếu nhất của hệ thống canh tác (trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản nguyên liệu); trong nhà máy chế biến (dây chuyền, thiết bị, quy trình công nghệ, vệ sinh công nghiệp); và xuất khẩu.
Đầu tư xây dựng hệ thống kiểm nghiệm chất lượng, đặc biệt dư lượng hóa lý trong sản phẩm chè tại các vùng, trên phạm vi cả nước, bằng hình thức các trạm cố định và lưu động, cả nội địa và cửa khẩu, vừa kiểm soát định kỳ vừa kiểm soát theo lô mẫu, lô hàng, không để lọt sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lượng ra thị trường.
3.6.1.4. Các chính sách khuyến khích hỗ trợ khác
Thực thi những hỗ trợ nằm trong hộp xanh theo Hiệp định nông nghiệp của WTO nhằm hỗ trợ cho ngành trồng chè. Những họat động có thể là cải thiện cơ sở hạ tầng: nâng cao chất lượng đường giao thông, nhà kho bãi và phương tiện vận chuyển; đầu tư vào thủy lợi sẽ tạo điều kiện cho cach tác chè vào mùa khô; ưu tiên đầu tư cho công nghệ chế biến để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm chè; đầu tư
cho các hệ thống cơ sở cần thiết để phát triển ngành chế biến, đóng gói; nghiên cứu, nhập nội giống chè giúp những người trồng chè cải thiện được năng suất; tăng cường dịch vụ khuyến nông cho các hộ trồng chè, phổ biến những kỹ thuật trồng trọt với chi phí thấp nhưng có thể cho giá trị lớn.
Hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật nhằm xây dựng đội ngũ quản lý của doanh nghiệp có trình độ, có năng lực kinh doanh và có sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia trong các ngành nghề có liên quan như quảng bá thương hiệu, xây dựng thương hiệu…
Nhà nước cần hỗ trợ đầu tư, xây dựng những chính sách phù hợp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho chè Việt Nam. Chẳng hạn, Nhà nước cần có chính sách lựa chọn những doanh nghiệp xuất khẩu chè lớn để xây dựng thương hiệu, đồng thời, cho những doanh nghiệp này vay vốn với lãi suất ưu đãi giống như cho vay ưu đãi dài hạn khi đầu tư xây dựng thương hiệu bởi lẽ chi phí xây dựng thương hiệu quá lớn nhiều khi làm các doanh nghiệp nản chí.
Hỗ trợ một phần kinh phí cho việc đăng ký, bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho một số vùng chè nổi tiếng của Việt Nam như Bảo Lộc, Suối Giàng, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên.
Thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu chè, dựa trên nguồn thu là mua bảo hiểm với mức giá bảo hiểm đảm bảo cho người kinh doanh thu hồi được vốn đầu tư, trang trải được chi phí và có lợi nhuận thỏa đáng. Khi xuất khẩu với mức giá cao hơn mức giá bảo hiểm thì thu một phần chênh lệch đưa vào quỹ bảo hiểm. Ngược lại, khi giá xuất khẩu xuống thấp thì trích Quỹ để hỗ trợ cho các thành viên.
Hỗ trợ tài chính để giúp hộ nông dân trồng chè hữu cơ hoặc sản xuất theo quy trình VietGAP, Global GAP đạt được các chứng nhận của các công ty nước ngoài.
Ngoài ra, Nhà nước cần hỗ trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu chè thực hiện việc tham gia các hội trợ, triển lãm chè trên thế giới để doanh nghiệp có cơ hội tìm các đối tác.